Trang phục đầy bản sắc của dân tộc ít người nhất Việt Nam

Ở miền Tây Nghệ An, nơi đại ngàn Pu Pá trùng điệp, cộng đồng dân tộc Ơ Đu - một trong 5 dân tộc ít người nhất Việt Nam vẫn đang gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống của mình.

o-du-16052026-8764970jpg1.jpg
Để làm ra một bộ trang phục truyền thống của người Ơ Đu cần sự kiên trì, tỉ mỉ và mất nhiều thời gian vì các công đoạn đều phải dệt bằng thủ công.

Trải qua nhiều biến động lịch sử, đặc biệt là cuộc tái định cư năm 2006 để nhường đất cho lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ, người Ơ Đu đã chuyển từ những bản làng nơi đầu khe, ngọn suối về sinh sống tập trung tại bản Văng Môn (xã Nga My). Dù chịu nhiều tác động từ quá trình giao lưu, cộng cư với các dân tộc Kinh, Thái, Khơ Mú... người Ơ Đu vẫn lưu giữ được những nét văn hóa riêng, trong đó, nổi bật là bộ trang phục truyền thống mang đậm dấu ấn lịch sử và bản sắc tộc người.

Vẻ đẹp giản dị trong trang phục của người Ơ Đu

Trang phục truyền thống của người Ơ Đu không đơn thuần là sản phẩm phục vụ đời sống thường nhật mà còn phản ánh quá trình hình thành, phát triển của cộng đồng qua nhiều thế hệ.

Nhìn tổng thể, bộ trang phục truyền thống của phụ nữ Ơ Đu có thiết kế khá giản dị với áo, váy, khăn đội đầu và thắt lưng. Tuy nhiên, ẩn sau sự giản dị, mỗi đường kim, mũi chỉ, gam màu và họa tiết trên trang phục đều chứa đựng những thông điệp văn hóa sâu sắc, thể hiện quan niệm thẩm mỹ, kỹ năng lao động và tâm hồn của người Ơ Đu.

o-du-16052026-8764982jpg1.jpg
Túi vải nhỏ với họa tiết hoa văn trang trí có màu sắc, hình khối bắt mắt, có dây dài vắt qua vai cũng nằm trong bộ phận cấu thành, tạo điểm nhấn cho bộ trang phục của người phụ nữ Ơ Đu.

Bà Vi Thị Dung, bản Văng Môn cho biết, nguyên liệu để làm nên trang phục truyền thống của người Ơ Đu chủ yếu là sợi bông tự dệt. Từ khâu trồng bông, kéo sợi, dệt vải đến nhuộm màu đều được thực hiện thủ công. Điểm nổi bật nhất trong trang phục phụ nữ Ơ Đu là sắc đen chủ đạo. Trong quan niệm của người Ơ Đu, màu đen tượng trưng cho đất mẹ, sự bền bỉ, sức sống trường tồn, đồng thời còn thể hiện sự kín đáo, nền nã và vẻ đẹp mộc mạc của người phụ nữ miền sơn cước.

Chiếc áo truyền thống của phụ nữ Ơ Đu được thiết kế đơn giản, không có cúc hay khuy áo. Thay vào đó, người mặc sử dụng những dải dây vải màu đen buộc chéo phía trước. Cách tạo dáng này vừa mộc mạc, thuận tiện trong sinh hoạt, vừa tạo nên nét riêng biệt so với trang phục của của người Thái, Khơ Mú. Phần chân váy là nơi tập trung nhiều nhất những họa tiết trang trí được tạo nên bằng kỹ thuật “chạy sợi” - một kỹ thuật thủ công khá phức tạp đòi hỏi sự khéo léo, kiên trì và khả năng phối màu tinh tế của người dệt vải. Đặc biệt, các hình khối hình học, đường viền được sắp xếp hài hòa, tạo nên những mảng trang trí nổi bật trên nền vải đen.

o-du-16052026-8764987jpg1.jpg
Phụ nữ dân tộc Ơ Đu còn dùng xà tích (bộ dây chuyền hoặc một chuỗi các vật phẩm nhỏ, thường được làm bằng bạc) làm trang sức đeo quanh nơi eo và đeo vòng bạc ở cổ tay để làm đẹp.

Phụ nữ Ơ Đu còn sử dụng xà tích - một dạng dây chuyền hoặc chuỗi vật phẩm nhỏ bằng bạc, là món trang sức đặc biệt thường được đeo quanh eo. Bên cạnh đó là những chiếc vòng bạc đeo cổ tay. Họ còn mang theo những chiếc túi vải nhỏ được trang trí bằng các họa tiết nhiều màu sắc, có dây đeo dài vắt qua vai góp phần làm nổi bật vẻ duyên dáng của người phụ nữ. Sự kết hợp hài hòa giữa váy áo, khăn đội đầu, thắt lưng, túi vải và trang sức bạc tạo nên tổng thể trang phục vừa giản dị vừa giàu tính thẩm mỹ, phản ánh nét đẹp cần cù, khéo léo và tinh tế của phụ nữ Ơ Đu.

Nếu trang phục phụ nữ nổi bật bởi kỹ thuật thêu và trang trí tinh xảo, trang phục nam giới Ơ Đu lại thể hiện rõ tinh thần khỏe khoắn và thực dụng, phù hợp môi trường lao động miền núi. Bộ trang phục truyền thống của đàn ông Ơ Đu gồm, quần dài và áo dài tay, được làm từ vải tự dệt, nhuộm bằng các nguyên liệu tự nhiên. Cả quần và áo đều có màu tràm đặc trưng, tạo cảm giác mạnh mẽ, khỏe khoắn, phù hợp điều kiện lao động trên nương rẫy, nơi bụi đất và bùn đất là một phần của cuộc sống thường ngày.

o-du-16052026-8764977jpg1.jpg
Người đàn ông trong bộ trang phục truyền thống của nam giới Ơ Đu. Áo, quần của đàn ông Ơ Đu thiết kế khá giản dị, chú trọng đến sự thoải mái trong lao động, sinh hoạt.

Khác với áo phụ nữ, áo nam giới Ơ Đu có hàng khuy phía trước. Tuy nhiên, thay vì sử dụng cúc áo, người Ơ Đu dùng các nút khóa để cài khi mặc. Áo có nhiều túi được bố trí ở hai bên ngực và phía dưới thân áo, giúp người đàn ông mang theo các vật dụng nhỏ cần thiết khi đi rừng, đi nương hoặc tham gia hoạt động sản xuất. Dù không cầu kỳ về họa tiết, trang phục nam giới Ơ Đu vẫn mang vẻ đẹp riêng bởi sự hài hòa giữa màu sắc, kiểu dáng và công năng sử dụng.

Chung tay gìn giữ bản sắc văn hóa

Bộ trang phục truyền thống của người Ơ Đu là sự kết tinh của lịch sử, môi trường sống và tri thức dân gian được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Từ sắc đen trầm mặc của váy, áo, những đường thêu tinh tế trên chân váy đến màu tràm khỏe khoắn của trang phục nam giới, tất cả đã tạo nên diện mạo văn hóa độc đáo, đặc trưng góp phần làm phong phú thêm bức tranh đa dạng của 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam.

o-du-16052026-8764988jpg1.jpg
Phụ nữ dân tộc Ơ Đu chỉnh sửa trang phục truyền thống cho con cháu tham gia dự lễ hội đốn tiếng sấm đầu năm của dân tộc Ơ Đu.

Trong các sự kiện trọng đại của bản, người Ơ Đu mặc trang phục truyền thống chơi “ném còn”, nhảy sạp... đã trở thành biểu tượng đẹp của đời sống văn hóa cộng đồng. Khi nhịp khắc luống vang lên giữa không gian núi rừng, bộ trang phục truyền thống không chỉ làm tăng vẻ đẹp của người biểu diễn mà còn góp phần tái hiện ký ức văn hóa, kết nối quá khứ với hiện tại.

Ông Nguyễn Trọng Hưng, Phó Chủ tịch UBND xã Nga My cho biết, bản Văng Môn hiện nay có gần 120 hộ, trong đó, đồng bào Ơ Đu có 105 hộ, gần 350 nhân khẩu. Trong bối cảnh dân số của đồng bào Ơ Đu ít, phạm vi cư trú hẹp và sự giao thoa văn hóa ngày càng mạnh mẽ, trang phục của người Ơ Đu vốn đã có sự giao thoa với đồng bào Thái, Khơ Mú, Kinh… Do vậy, việc gìn giữ trang phục truyền thống của dân tộc Ơ Đu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, công tác bảo tồn nét đẹp văn hóa của đồng bào Ơ Đu nói chung và trang phục nói riêng đó là một hành trình dài cần sự chung tay của cộng đồng, các nhà khoa học, chính sách vĩ mô của Nhà nước.

o-du-16052026-8764981jpg1.jpg
Trang phục truyền thống của người phụ nữ Ơ Đu không chỉ phục vụ cho cuộc sống hàng ngày mà còn được sử dụng trong các dịp lễ hội, giúp gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Ơ Đu.

Nhiều năm qua, chính quyền địa phương luôn quan tâm, động viên, khuyến khích đồng bào Ơ Đu bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa tiêu biểu, độc đáo. Hằng năm, vào dịp lễ Tết, cấp ủy, chính quyền địa phương đều tổ chức hoạt động văn hóa, văn nghệ, các trò chơi dân gian tại bản Văng Môn. Đồng thời khen thưởng, tri ân, tôn vinh những người có đóng góp tích cực trong công tác bảo tồn, tôn tạo, gìn giữ văn hóa, bản sắc, phong tục trong cộng đồng Ơ Đu. Đó là già làng, trưởng bản, các thầy mo, nghệ nhân - những người đã âm thầm giữ lửa văn hóa.

Theo bà Vi Thị Dung, bản Văng Môn, người đã phục dựng được bộ trang phục truyền thống của người Ơ Đu chia sẻ, để hoàn thành một bộ trang phục truyền thống Ơ Đu, phải mất hàng tháng lao động miệt mài, trải qua nhiều công đoạn từ dệt vải, nhuộm màu đến thêu hoa văn. Nhiều năm qua, bà vẫn miệt mài bên khung cửi để bảo tồn kỹ thuật “chạy sợi”, lưu giữ mẫu hoa văn truyền thống và truyền dạy nghề cho thế hệ trẻ trong cộng đồng./.

Bài và ảnh: Xuân Tiến/TTXVN
Dân tộc Ơ Đu

Tên tự gọi: Ơ Ðu hoặc I Ðu.

Tên gọi khác: Tày Hạt (người đói rách).

Dân số: 376 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Nay chỉ còn tiếng mẹ đẻ. Hầu hết người Ơ Ðu dùng các tiếng Khơ Mú, Thái làm công cụ giao tiếp hàng ngày.

Lịch sử: Xưa kia người Ơ Ðu cư trú suốt một vùng dọc theo hai con sông Nặm Mộ và Nặm Nơn. Nhưng tập trung nhất vẫn là dọc sông Nặm Nơn. Do nhiều biến cố trong lịch sử liên tiếp xảy ra ở vùng này buộc họ phải rời đi nơi khác hay sống hoà lẫn với các cư dân mới đến. Hiện người Ơ Ðu ở hai bản đông nhất là Xốp Pột và Kim Hoà, xã Kim Ða huyện Tương Dương, Nghệ An. Ở Lào họ hợp với nhóm Tày Phoọng cư trú ở tỉnh Sầm Nưa.

Hoạt động sản xuất: Người Ơ Ðu sinh sống chủ yếu bằng nương rẫy và một phần ruộng nước. Mỗi năm họ chỉ làm một vụ: phát, đốt, gieo hạt từ các tháng 4-5 âm lịch, thu hoạch vào các tháng 9-10. Công cụ làm rẫy gồm rìu, dao, gậy chọc lỗ. Ngoài lúa là giống cây trồng chính, còn trồng sắn, bầu, bí, ngô, ý dĩ, đỗ, hái lượm và săn bắn vẫn có vị trí quan trọng trong đời sống. Chăn nuôi trâu bò, lợn gà, dê khá phát triển. Trâu, bò dùng làm sức kéo, kéo cày, lợn gà sử dụng trong các dịp cưới, nghi lễ tín ngưỡng, cúng ma... Ðan lát đồ gia dụng bằng giang, mây, một phần tiêu dùng, phần để trao đổi. Xưa họ còn biết dệt vải.

Ăn: Người Ơ Ðu thường ăn 1 bữa phụ (sáng), 2 bữa chính (trưa và tối). Trước đây họ ăn xôi đồ, nay có cả cơm gạo tẻ, khi mất mùa ăn củ nâu, củ mài, hoặc sắn, ngô thay cơm. Họ thích uống rượu, hút thuốc lào.

Mặc: Hiện nay, nam và nữ đều ăn mặc theo kiểu người Thái, Việt trong vùng. Những bộ trang phục cổ truyền còn rất ít.

Ở: Trước đây, ngôi nhà truyền thống, nhà sàn, phải dựng quay đầu vào núi (dựng chiều dọc). Khi dựng cột phải tuân theo một thứ tự nhất định. Nay kiểu nhà này không còn nữa. Họ ở sàn nhà giống như nhà sàn người Thái.

Phương tiện vận chuyển: Phổ biến hơn cả là gùi dây đeo bên trán. Gùi rất đẹp, bền chắc.

Quan hệ xã hội: Do số lượng dân số ít, sống xen kẽ với người Khơ Mú và Thái cho nên các mặt quan hệ xã hội văn hóa của họ chịu nhiều ảnh hưởng hai dân tộc này. Người Ơ Ðu lấy họ theo họ Thái, Lào. Tổ chức dòng họ rất mờ nhạt. Trưởng họ là người có uy tín, được kính trọng và có vai trò lớn trong dòng họ.

Gia đình người Ơ Ðu là gia đình nhỏ phụ quyền. Ðàn ông quyết định tất thẩy các công việc trong nhà. Phụ nữ không được hưởng thừa tự. Họ phổ biến tục ở rể. Lễ vật trong dịp cưới không thể thiếu là thịt sóc, thịt chuột sấy khô và cá ướp muối.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi tại góc nhà phía gian dành cho phụ nữ. Nhau trẻ bỏ vào ống tre đem chôn ngay dưới gầm sàn. Tuổi đứa con được tính từ ngày có tiếng sấm trong năm. Khi đó đứa bé được coi là đầy năm và được bố mẹ làm lễ đặt tên.

Thờ cúng: Người Ơ Ðu tin rằng khi người chết, hồn biến thành ma. Hồn thân thể ngụ tại bãi tha ma, hồn gốc ở chỏm tóc ở lại làm ma nhà. Ma nhà chỉ ở với con cháu một đời theo thứ tự từ con trai cả đến con trai thứ. Khi các con trai đã chết hết, người ta làm lễ tiễn ma nhà về với tổ tiên. Nơi thờ ma nhà tại góc hồi của gian thứ hai. Bàn thờ đơn giản, treo cao sát mái nhà.

Lễ tết: Người Ơ Ðu ăn tết Nguyên đán, tết cơm mới. Ngày hội lớn nhất là lễ đón tiếng sấm trong năm. Ngày đó, cư dân khắp nơi đổ về mở hội tế trời, mổ trâu, bò, lợn ăn mừng tại bản Xốp Pột, xã Kim Ða, Tương Dương, Nghệ An.

Văn nghệ: Người Ơ Ðu sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ của người Khơ Mú, Thái như: sáo, khèn, chiêng, trống; thuộc các làn điệu dân ca Khơ Mú, Thái, kể chuyện dã sử.

Chơi: Người Ơ Ðu có vai trò chơi đánh khăng, chơi quay, ném còn, ô ăn quan.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Ơ Đu

Có thể bạn quan tâm

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Ngày 28/10, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hóa tổ chức khánh thành Khu văn hóa - thể thao “Thắm tình quân - dân”, mô hình “Dân vận khéo” tại bản Muống, xã vùng cao biên giới Sơn Thủy. 

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Gần 20 năm trước, từ cuối năm 2007, để phục vụ dự án Nhà máy thủy điện Sơn La - công trình trọng điểm quốc gia, hàng trăm hộ dân xã Mường Chiên, huyện Quỳnh Nhai (cũ), tỉnh Sơn La đã nhường đất, rời nơi chôn rau cắt rốn, chuyển đến các điểm tái định cư mới trên địa bàn xã Bình Thuận.

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Giữa những dãy núi đá tai mèo trùng điệp nơi cao nguyên đá Đồng Văn (Tuyên Quang), tình đồng đội vẫn bền chặt theo năm tháng, tiếp tục được nối dài qua những việc làm thiết thực khi người lính trở về với cuộc sống đời thường. Bằng những việc làm thiết thực, cán bộ, nhân viên Ban Chỉ huy Quân sự xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang đang tiếp thêm động lực cho quân nhân xuất ngũ phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống, góp phần tô thắm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân.

Tuyên Quang tiếp thu, khắc phục ô nhiễm tại bãi rác ở Cốc Pảng

Tuyên Quang tiếp thu, khắc phục ô nhiễm tại bãi rác ở Cốc Pảng

Chiều 26/10, ông Nguyễn Đình Phúc, Chủ tịch UBND xã Du Già (Tuyên Quang) đã ký văn bản số 1844/UBND-KT gửi Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) và Cơ quan thường trú TTXVN tại Tuyên Quang về việc tiếp thu, khắc phục thông tin phản ánh về tình trạng ô nhiễm môi trường tại bãi rác thôn Cốc Pảng.

Giữ an toàn trên những cung đường mùa hoa tam giác mạch

Giữ an toàn trên những cung đường mùa hoa tam giác mạch

Những ngày cuối tháng 10, khi sắc hồng của hoa tam giác mạch bắt đầu trải dài trên những triền núi đá, các cung đường từ hai phường Hà Giang lên Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang trở nên nhộn nhịp bởi dòng người và phương tiện đến tham quan, trải nghiệm.

Củng cố thế trận an ninh nhân dân vững chắc ngay từ cơ sở

Củng cố thế trận an ninh nhân dân vững chắc ngay từ cơ sở

Ngày 23/10, Trung tâm Nội dung số và Truyền thông (Thông tấn xã Việt Nam) phối hợp với Ủy ban nhân dân xã và Công an xã Chiềng Mai (tỉnh Sơn La) tổ chức Lễ khánh thành công trình “Mái ấm bản vui” tại khu dân cư Pha Đin, thuộc bản Buốt Văn.

Khám mắt, cấp thuốc miễn phí cho người cao tuổi ở vùng cao

Khám mắt, cấp thuốc miễn phí cho người cao tuổi ở vùng cao

Ngày 23/10, tại xã Kim Bình (Tuyên Quang), Báo Nhân Dân, Quỹ “Triệu đôi mắt sáng”, Bệnh viện Đông Đô và UBND xã Kim Bình phối hợp tổ chức khám sàng lọc các bệnh về mắt, tư vấn sức khỏe và cấp phát thuốc miễn phí cho người cao tuổi và đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn.

Đồng bộ hệ thống biển báo, nâng hiệu quả quản lý biên giới

Đồng bộ hệ thống biển báo, nâng hiệu quả quản lý biên giới

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, Bộ đội Biên phòng tỉnh Tuyên Quang đã hoàn thành sửa chữa, làm mới hệ thống biển báo trong khu vực biên giới; trong đó cắm mới 36 biển “Khu vực biên giới”, 3 biển “Vành đai biên giới”, đồng thời tháo dỡ những biển không còn phù hợp.

Đoàn kết quân - dân thắp sáng niềm tin nơi vùng cao

Đoàn kết quân - dân thắp sáng niềm tin nơi vùng cao

Giữa địa hình núi cao hiểm trở, giao thông cách trở và chưa có điện lưới Quốc gia, cụm dân cư Pha Đin, xã Chiềng Mai, tỉnh Sơn La đang từng ngày đổi thay nhờ sự chung sức của chính quyền địa phương, lực lượng công an, và người dân.

Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế

Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế

Ngày 20/10, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng phối hợp Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố tổ chức Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế với chủ đề “Phụ nữ Hải Phòng phát triển kinh tế: Tiếp cận chính sách - Chuyển đổi số - Chuyển đổi xanh - Phát triển bền vững”.