Trao thiết bị, xe đạp hỗ trợ học sinh đồng bào H’rê đến trường

Sáng 9/9, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Quảng Ngãi phối hợp với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Bảo hiểm Nhân thọ Sun Life Việt Nam tổ chức Lễ bàn giao trang thiết bị và trao tặng xe đạp cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn tại Trường Trung học cơ sở Ba Dinh - Ba Tô (xã Ba Dinh, tỉnh Quảng Ngãi).

quang-ngai-090926-1.jpg
24 học sinh nhận xe đạp mới từ chương trình. Ảnh: TTXVN phát

Chương trình nằm trong chuỗi hoạt động hỗ trợ thuộc Chương trình “Chung tay vượt lũ” do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Bảo hiểm Nhân thọ Sun Life Việt Nam tài trợ, nhằm cải thiện cơ sở vật chất, bổ sung thiết bị cung cấp nước sạch và hỗ trợ học sinh ổn định việc học tập.

Tại chương trình, Ban tổ chức trao tặng nhà trường 12 máy tính để bàn, 2 máy lọc nước và 24 xe đạp cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Đây là nguồn động viên lớn góp phần cải thiện điều kiện học tập và sinh hoạt cho nhà trường; giúp các em học sinh giảm bớt gánh nặng đường xa đến lớp.

Em Phạm Văn Dĩnh, học sinh lớp 7, Trường Trung học cơ sở Ba Dinh – Ba Tô chia sẻ, nhà em cách trường khoảng 15km, nên việc đến trường của em gặp rất nhiều khó khăn. Nhận xe đạp mới giúp em có thêm phương tiện để đến trường thuận lợi hơn.

Theo thầy Đào Văn Thành, Hiệu trưởng Trường Trung học cơ sở Ba Dinh - Ba Tô, trường đóng tại thôn Làng Măng, xã Ba Dinh, địa bàn còn nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội. Trường hiện có 735 học sinh, trong đó điểm trường chính có 373 em; phần lớn học sinh là người dân tộc H'rê và có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Điều kiện đi lại xa, không thuận lợi gây ảnh hưởng đến việc duy trì sĩ số học sinh. Việc trao tặng xe đạp giúp học sinh có thêm phương tiện để thuận tiện đến trường, giảm bớt khó khăn trong quá trình học tập.

Ban tổ chức trao quà cho nhà trường. Ảnh: TTXVN phát

Ban tổ chức trao quà cho nhà trường. Ảnh: TTXVN phát

Chương trình “Chung tay vượt lũ” do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Bảo hiểm Nhân thọ Sun Life Việt Nam phối hợp với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam triển khai, với tổng giá trị hỗ trợ hơn 2,2 tỷ đồng dành cho cộng đồng chịu ảnh hưởng bởi bão, lũ tại 9 trường học thuộc 7 tỉnh, thành phố gồm: Đà Nẵng, Nghệ An, Lào Cai, Quảng Ngãi, Thái Nguyên, Hà Tĩnh và Huế.

Các nguồn lực hỗ trợ tập trung vào nước sạch, thiết bị học tập và những nhu cầu thiết yếu, góp phần cải thiện điều kiện học tập cho học sinh và hỗ trợ các cộng đồng từng bước phục hồi sau thiên tai./.

Dư Toán/TTXVN
Dân tộc Hrê

Tên tự gọi: Hrê, trước kia thường gắn với tên sông sở tại như: "người Krê" - sông Krế ở Sơn Hà; "người Hrê" - sông Hrê ở Ba Tơ; "người nước Ðinh" - sông Ðinh ở An Lão)...

Tên gọi khác: Chăm Rê, Chom, Thượng Ba Tơ, Mọi Luỹ, Mọi Sơn Phòng, Mọi Ðá Vách, Chăm Quảng Ngãi, Mọi Chòm, Rê, Màn Thạch Bích.

Dân số: 127.420 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (Ngữ hệ Nam Á). Từ thời kỳ trước năm 1975, chữ viết ra đời bằng cách dùng hệ thống kí tự La-tinh để phiên âm, được sử dụng rộng rãi, nhưng nay đã bị mai một.

Lịch sử: Người Hrê thuộc số cư dân sinh tụ rất lâu đời ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên.

Hoạt động sản xuất: Phần lớn người Hrê làm ruộng nước là chính, chỉ có một bộ phận sống chủ yếu nhờ rẫy. Lối canh tác rẫy phát - đốt - chọc trỉa, với bộ nông cụ đơn giản gồm rìu, dao quắm, gậy chọc lỗ, cái nạo cỏ, khi thu hoạch thì dùng tay tuốt lúa. Cách thức làm ruộng tương tự như ở người Việt vùng nam Trung bộ (dùng cày, bừa có đôi trâu kéo, biết gieo mạ và cấy, dùng liềm và vằng để gặt...) nhưng còn thấy dấu vết của tập quán trồng lúa rẫy.

Từng gia đình thường nuôi trâu, lợn, chó, gà. Nghề thủ công chỉ có đan lát và dệt vải nhưng nay cũng không phát triển, nhất là nghề dệt chỉ còn ở vài nơi. Việc giao lưu hàng hoá thường theo hình thức trao đổi vật trực tiếp. Hái lượm, săn bắt và đánh cá cung cấp nguồn thức ăn quan trọng cho mỗi gia đình.

Ăn: Người Hrê thường ngày ăn cơm tẻ, ngày lễ tết có thêm cơm nếp. Thức ăn chủ yếu là những thứ kiếm được và muối ớt, khi có cúng bái thì thịt con vật hiến sinh được dùng làm đồ nhắm và cải thiện bữa ăn. Thức ăn đựng trong các vật làm bằng mo cau. ¡n bốc. Thức uống có nước lã, nước chè xanh, rượu cần (nay rượu cất khá thông dụng). Tập quán hút thuốc lá và ăn trầu cau phổ biến.

Ở: Người Hrê sống chủ yếu ở miền tây tỉnh Quảng Ngãi (các huyện Sơn Hà, Ba Tơ, Minh Long) và tỉnh Bình Ðịnh (huyện An Lão), một số ít ở tỉnh Kon Tum (huyện Kon Plông). Nhà sàn có cửa ra vào ở mỗi đầu và một mặt bên, có 2 hàng cột tạo thành 2 vì cột, trên đỉnh đốc có hình cặp sừng thú, vách nghiêng phía trên ra ngoài. Mặt sàn thường hơi cao một chút về bên không đặt bếp đun, nhằm tạo thế nằm thoải mái: chân thấp hơn đầu. Nhà ở trong làng đều dựng ngang triền đất dốc, tránh để đòn nóc chĩa hướng chắn ngang dòng chảy của sông suối.

Ngày nay, hầu hết người Hrê mặc theo kiểu người Việt: tuy nhiều phụ nữ còn dùng váy nhưng không phải loại vải sợi bông tự làm ra với những dải hoa văn ở hai đầu ống váy và khi mặc không tạo thành hai tầng như xưa.

Mặc: Theo nếp cũ, đàn ông đóng khố, chít khăn, khi dự lễ hội hoặc đi xa thì mặc áo; đàn bà có váy ống mặc kiểu hai tầng. Có áo, khăn trùm đầu. Những vòng đeo trang sức làm bằng đồng bạc, nhôm và chuỗi cườm; riêng nam giới không trang sức ở tai.

Phương tiện vận chuyển: Người Hrê quen dùng gùi sau lưng, mỗi quai gùi quàng giữ vào một vai: chở thóc gạo thì dùng gùi đan dày, chở củi, sắn thì có gùi mắt thưa, đàn ông đi rừng hay đi trận có riêng loại gùi như chiếc túi hoặc gùi ba ngăn. Ngoài ra, người Hrê còn gánh lúa khi gặt và đội đồ vật trên đầu.

Quan hệ xã hội: Già làng có uy tín và ảnh hưởng lớn. Trước kia sự phân hoá xã hội đã khá sâu sắc, chế độ tôi tớ - đặc biệt là đi ở vì nợ - có phần khắc nghiệt hơn nhiều tộc Thượng khác, hiện tượng tranh chiếm và tập trung ruộng đất (theo đó là sự xác lập quyền thế của một số cá nhân) đã tương đối phát triển. Tuy vậy, quan hệ trong làng vẫn thể hiện tinh thần cộng đồng công xã.

Cưới xin: Cư trú phía chồng hay phía vợ là tuỳ thoả thuận giữa hai gia đình, phần đông sẽ dựng nhà ở riêng sau khi có con đầu lòng. Ðám cưới có nghi thức dâu và rể kết gắn với nhau thông qua việc trao bát rượu, miếng trầu cho nhau hay quàng chung một vòng dây sợi... Vợ goá có thể lấy tiếp em chồng, chồng có thể lấy cả em vợ. Con cô - con cậu, con gì - con già, con có chung mẹ hoặc cha đều không được lấy nhau.

Sinh đẻ: Việc sinh đẻ diễn ra bên cạnh bếp lửa trong nhà, có là đỡ hộ sinh, cắt rốn bằng dao, cái rau được gói trong mo cau rồi đem bỏ trong rừng hoặc chôn cạnh nhà. Sản phụ nghỉ ngơi vài chục ngày, kiêng ăn cá niêng, trứng, chuối, thịt gà trắng... Ðứa bé đầy tháng mới làm lễ đặt tên.

Ma chay: Quan tài độc mộc có dáng hao hao chiếc thuyền. Người chết được quàn tại nhà từ 1 đến 3 ngày rồi chôn trong bãi mộ của làng. Mộ đắp thành gò dài trên dựng nhà mồ có nóc mái làm như nhà ở. Tang gia "chia của" tựa hồ cho người chết đi ở riêng: từ đồ ăn thức uống cho đến vật dụng trong nhà, từ trang phục, công cụ lao động... đều có ở mộ.

Thờ cúng: Người Hrê có nhiều kiêng cữ và lễ thức tôn giáo, xuất phát từ quan niệm mọi vật đều có hồn hay ma và con người bị các lực lượng siêu nhiên chi phối. Khi ốm đau, rủi ro, khi làm nhà, mang thai, đẻ khó, có người chết, khi gieo cấy và gặt hái, khi gieo trỉa và tuốt lúa, khi đưa thóc lên kho và lần đầu lấy thóc về ăn... đều cúng bái. Cộng đồng làng chỉ tổ chức cúng cầu an, tránh dịch bệnh, còn lại đều là các lễ cúng của gia đình.

Lễ tết: Lễ hội có đâm trâu là lớn nhất, dù đó là lễ của làng hay một nhà cũng đông vui. Hàng năm, người Hrê ăn tết vào khoảng tháng 10, sau khi thu hoạch lúa, nay nhiều làng theo tết Nguyên đán. Ngày tết có cúng cho trâu và lợn, cầu sinh sôi, cúng mời tổ tiên và cúng sức khoẻ cho mọi người trong nhà; có bánh gói bằng gạo nếp, rượu, thịt... Dịp tết làng làm lễ cúng tập thể cầu mong mưa thuận, đủ nước.

Lịch: Cách tính tương tự âm lịch của người Việt. Trong tháng, phân biệt ngày tốt, ngày xấu và chọn ra những ngày nên làm việc này, không nên làm việc kia.

Văn nghệ: Nhạc cụ thường dùng là bộ chiêng ba chiếc, bộ cồng ba chiếc, trống, các loại đàn ống tre hoặc có vỏ bầu làm hợp âm, sáo, nhị, đàn môi, nữ giới chơi bộ ống vỗ hai chiếc. Dân ca phổ biến nhất là điệu Katê và Ka choi. Truyện cổ (Hmon) được lưu truyền như một vốn quý trong văn hoá dân tộc, gồm những đề tài khác nhau. Các mô típ hoa văn hình học dệt trên vải và thể hiện trên đồ đan cũng mang tính truyền thống lâu đời.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Hrê

Có thể bạn quan tâm

Củng cố thế trận an ninh nhân dân vững chắc ngay từ cơ sở

Củng cố thế trận an ninh nhân dân vững chắc ngay từ cơ sở

Ngày 23/10, Trung tâm Nội dung số và Truyền thông (Thông tấn xã Việt Nam) phối hợp với Ủy ban nhân dân xã và Công an xã Chiềng Mai (tỉnh Sơn La) tổ chức Lễ khánh thành công trình “Mái ấm bản vui” tại khu dân cư Pha Đin, thuộc bản Buốt Văn.

Khám mắt, cấp thuốc miễn phí cho người cao tuổi ở vùng cao

Khám mắt, cấp thuốc miễn phí cho người cao tuổi ở vùng cao

Ngày 23/10, tại xã Kim Bình (Tuyên Quang), Báo Nhân Dân, Quỹ “Triệu đôi mắt sáng”, Bệnh viện Đông Đô và UBND xã Kim Bình phối hợp tổ chức khám sàng lọc các bệnh về mắt, tư vấn sức khỏe và cấp phát thuốc miễn phí cho người cao tuổi và đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn.

Đồng bộ hệ thống biển báo, nâng hiệu quả quản lý biên giới

Đồng bộ hệ thống biển báo, nâng hiệu quả quản lý biên giới

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, Bộ đội Biên phòng tỉnh Tuyên Quang đã hoàn thành sửa chữa, làm mới hệ thống biển báo trong khu vực biên giới; trong đó cắm mới 36 biển “Khu vực biên giới”, 3 biển “Vành đai biên giới”, đồng thời tháo dỡ những biển không còn phù hợp.

Đoàn kết quân - dân thắp sáng niềm tin nơi vùng cao

Đoàn kết quân - dân thắp sáng niềm tin nơi vùng cao

Giữa địa hình núi cao hiểm trở, giao thông cách trở và chưa có điện lưới Quốc gia, cụm dân cư Pha Đin, xã Chiềng Mai, tỉnh Sơn La đang từng ngày đổi thay nhờ sự chung sức của chính quyền địa phương, lực lượng công an, và người dân.

Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế

Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế

Ngày 20/10, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng phối hợp Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố tổ chức Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế với chủ đề “Phụ nữ Hải Phòng phát triển kinh tế: Tiếp cận chính sách - Chuyển đổi số - Chuyển đổi xanh - Phát triển bền vững”.

Kiểm soát chặt, ngăn chặn buôn lậu trên tuyến biên giới

Kiểm soát chặt, ngăn chặn buôn lậu trên tuyến biên giới

An Giang có tuyến biên giới đất liền dài gần 148km tiếp giáp Campuchia, hệ thống sông, kênh rạch đan xen cùng vùng biển rộng tiềm ẩn nguy cơ buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa. Trước tình hình đó, các lực lượng chức năng trên địa bàn tỉnh tăng cường tuần tra, kiểm soát, đấu tranh với các hành vi vi phạm, nhất là trong những tháng cuối năm.

Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10: Chung tay giữ bình yên nơi biên cương

Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10: Chung tay giữ bình yên nơi biên cương

Không chỉ chăm lo, vun vén hạnh phúc cho gia đình, nhiều phụ nữ ở vùng biên giới phường Tịnh Biên, tỉnh An Giang, còn tích cực cùng Bộ đội Biên phòng tuần tra đường biên, cột mốc, tuyên truyền pháp luật và vận động người dân chấp hành các quy định của pháp luật. Từ những việc làm cụ thể, thiết thực ở cơ sở, các chị, các mẹ đã góp phần giữ gìn an ninh, trật tự, bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia.

Kết nối nguồn lực, chung tay giảm nghèo

Kết nối nguồn lực, chung tay giảm nghèo

Tỉnh Phú Thọ tiếp tục huy động các nguồn lực xã hội để chăm lo cho hộ nghèo, cận nghèo và những hoàn cảnh khó khăn. Bên cạnh hỗ trợ nhà ở, sinh kế, học tập, việc rà soát từng trường hợp để có hình thức giúp đỡ phù hợp đang được chú trọng, nhằm bảo đảm chính sách an sinh đến đúng đối tượng, góp phần giảm nghèo bền vững.