Chuẩn tiếng Việt cho trẻ vùng cao đón năm học mới

Trước thềm năm học 2026-2027, hàng nghìn trẻ em dân tộc thiểu số tại tỉnh Lâm Đồng được tham gia các lớp học tăng cường tiếng Việt trong dịp hè.

lam-dong4-3007.jpg
Học sinh có những chuyển biến tích cực sau một thời gian ngắn tham gia lớp học.

Những lớp học đặc biệt này giúp các em làm quen với ngôn ngữ, trang bị kỹ năng giao tiếp, nền nếp học tập và sự tự tin để bước vào lớp 1. Đây được xem là giải pháp quan trọng nhằm từng bước xóa bỏ rào cản ngôn ngữ, tạo nền tảng để trẻ em vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận giáo dục thuận lợi và phát triển toàn diện hơn.

Vững bước vào lớp 1

Buổi sáng tại Trường Tiểu học Hàm Cần 1 (xã Hàm Thạnh), tiếng đánh vần của những học sinh chuẩn bị vào lớp 1 vang lên đều đặn trong lớp học tăng cường tiếng Việt hè. Với nhiều em nhỏ người Raglai, đây không chỉ là những bài học đầu tiên về con chữ mà còn là hành trình làm quen với một ngôn ngữ mới trước khi bước vào môi trường học tập chính thức.

Cô K’Thị Hoa (giáo viên Trường Tiểu học Hàm Cần 1), người trực tiếp đứng lớp chia sẻ: Nhiều em khi đến trường vẫn quen nói tiếng mẹ đẻ nên gặp khó khăn trong giao tiếp và học tập. Vì vậy, giáo viên luôn chú trọng rèn luyện, giúp các em hình thành các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và giao tiếp; khuyến khích các em diễn đạt tròn câu, mạnh dạn bày tỏ ý kiến bằng tiếng Việt.

Không ít từ ngữ quen thuộc trong tiếng Việt cũng trở thành bài học cần nhiều thời gian để giải thích. Vì vậy, mỗi tiết học đều đòi hỏi giáo viên phải kiên nhẫn khi vừa hướng dẫn, vừa tạo cơ hội để các em thực hành giao tiếp bằng tiếng Việt. “Nếu chỉ nói tiếng Việt, các em sẽ không hiểu. Tôi phải dùng tiếng Raglai để giải thích, rồi từ đó dẫn dắt các em quay lại tiếng phổ thông. Khi đã bắt nhịp được với tiếng Việt, các em sẽ bắt đầu bắt nhịp với những môn học khác tốt hơn”, cô K’ Thị Hoa chia sẻ.

lam-dong2-3007.jpg
Giáo viên đứng lớp luôn chú trọng rèn luyện, giúp học sinh hình thành các kỹ năng trước khi bước vào năm học mới.

"Sau một thời gian ngắn tham gia lớp học, nhiều học sinh đã có những chuyển biến tích cực. Từ sự rụt rè, e ngại giao tiếp, các em dần mạnh dạn hơn trong học tập và sinh hoạt, chủ động trả lời câu hỏi của giáo viên bằng tiếng Việt. Có em còn mạnh dạn kể cho cả lớp nghe về gia đình hay những điều mình yêu thích. Điều đó khiến giáo viên chúng tôi rất vui vì các em đang từng bước vượt qua những rào cản ban đầu”, cô K’ Thị Hoa kể.

Năm học 2026 - 2027, Trường Tiểu học Hàm Cần 1 có 33 học sinh vào lớp 1, phần lớn là trẻ em người Raglai. Nhà trường tổ chức lớp tăng cường tiếng Việt từ ngày 13/7 - 7/8 với 60 tiết học dành cho học sinh chuẩn bị vào lớp 1. Nội dung giảng dạy không dừng lại ở việc nhận biết chữ cái, chữ số, còn giúp các em hình thành những kỹ năng nền tảng như cách cầm bút, tư thế ngồi học, sử dụng đồ dùng học tập và kỹ năng giao tiếp trong môi trường học đường.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, Phó Hiệu trưởng Trường Tiểu học Hàm Cần 1 cho biết: Mục tiêu của lớp học hè là giúp học sinh tự tin sử dụng tiếng Việt, giảm bớt bỡ ngỡ trong những ngày đầu đến trường. Khi không còn rào cản ngôn ngữ, các em sẽ thuận lợi hơn trong việc tiếp thu kiến thức và hòa nhập với bạn bè. Để nâng cao hiệu quả giảng dạy, nhà trường bố trí giáo viên là người dân tộc thiểu số, biết tiếng Raglai trực tiếp đứng lớp. Thay vì tập trung vào sách vở, giáo viên đưa tiếng Việt đến gần hơn với học sinh thông qua những câu chuyện về gia đình, trường học, bản làng, các bài hát thiếu nhi và những trò chơi ngôn ngữ phù hợp với lứa tuổi.

Nền tảng cho tương lai

Cùng với việc giúp trẻ tự tin trước ngưỡng cửa lớp 1, chương trình tăng cường tiếng Việt đã góp phần thay đổi nhận thức của phụ huynh vùng đồng bào dân tộc thiểu số về vai trò của ngôn ngữ đối với việc học tập của con em mình. Nếu như trước đây nhiều phụ huynh cho rằng trẻ chỉ cần học khi chính thức bước vào năm học thì nay ngày càng có nhiều gia đình chủ động đưa con đến lớp từ rất sớm bởi hiểu rằng tiếng Việt chính là chìa khóa đầu tiên để trẻ tiếp cận tri thức.

lam-dong3-3007.jpg
Các lớp tăng cường tiếng Việt ở Lâm Đồng giúp trẻ làm quen với tiếng Việt, nền nếp học tập và kỹ năng giao tiếp trước khi vào lớp 1.

Phụ huynh em Lê Hồng Nhung, học sinh Trường Tiểu học Hàm Cần 2 chia sẻ, trước đây gia đình chủ yếu sử dụng tiếng Raglai trong sinh hoạt nên chị khá lo lắng khi con bắt đầu đến trường. Sau một thời gian tham gia lớp học tăng cường tiếng Việt, con đã mạnh dạn hơn trong giao tiếp, biết chào hỏi bằng tiếng Việt và hào hứng kể cho bố mẹ nghe những điều được học ở lớp.

Ông Lê Kim Long, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Hàm Cần 2 cho biết, việc tổ chức dạy tiếng Việt trong dịp hè giúp học sinh làm quen với môi trường học tập, giảm bớt cảm giác bỡ ngỡ khi bước vào lớp 1. Cùng với việc tổ chức các lớp học, nhà trường còn phối hợp với phụ huynh vận động học sinh đến lớp đầy đủ, tạo thêm môi trường sử dụng tiếng Việt ngay trong gia đình nhằm nâng cao hiệu quả của chương trình.

Gần 6 năm qua, Trường Tiểu học Hàm Cần 2 luôn duy trì các lớp tăng cường tiếng Việt dành cho trẻ em vùng đồng bào dân tộc thiểu số trước khi vào lớp 1. “Hoạt động này ngày càng nhận được sự đồng thuận của phụ huynh, cùng với đó giúp giáo viên trong trường chủ động nắm bắt khả năng sử dụng tiếng Việt của học sinh để có phương pháp giảng dạy phù hợp trong năm học mới”, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Hàm Cần 2 chia sẻ.

Lâm Đồng là một trong những địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số với hơn 683.000 người, chiếm 17,6% dân số. Tại nhiều địa phương, tiếng mẹ đẻ vẫn là ngôn ngữ được sử dụng chủ yếu trong đời sống hàng ngày. Đây vừa là nét đẹp văn hóa cần được gìn giữ, vừa đặt ra yêu cầu tăng cường tiếng Việt cho trẻ em trước khi bước vào môi trường học đường nhằm bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục bình đẳng.

lam-dong-3007.jpg
Giáo viên tổ chức những trò chơi, bài hát, câu chuyện về gia đình, trường học, bản làng để đưa tiếng Việt đến gần hơn với học sinh.

Những năm qua, ngành Giáo dục tỉnh Lâm Đồng đã triển khai chương trình tăng cường tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số với mục tiêu hằng năm 100% trẻ gặp khó khăn về tiếng Việt được tham gia học và 100% cán bộ quản lý, giáo viên trực tiếp giảng dạy được bồi dưỡng phương pháp phù hợp.

Riêng trong mùa hè năm nay, nhiều trường học đã tổ chức chương trình tăng cường tiếng Việt từ đầu tháng 7 với thời lượng không quá 80 tiết, tập trung giúp trẻ làm quen với tiếng Việt, nền nếp học tập và kỹ năng giao tiếp trước khi vào lớp 1. Theo thống kê, toàn tỉnh có 230 trường tổ chức dạy tiếng Việt trong hè với 516 lớp học và 544 giáo viên tham gia giảng dạy. Tổng số trẻ trong diện được huy động là 13.300 em, trong đó có 12.568 em ra lớp (đạt hơn 94%).

Theo Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lâm Đồng, việc tăng cường tiếng Việt cho học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Khả năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt của học sinh được cải thiện rõ rệt, góp phần nâng cao chất lượng học tập và tạo tiền đề thuận lợi cho các bậc học tiếp theo. Quan trọng hơn, việc giúp trẻ em dân tộc thiểu số tự tin sử dụng tiếng Việt ngay từ những năm học đầu tiên góp phần thu hẹp khoảng cách về ngôn ngữ, mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức, tạo nền tảng để các em phát triển toàn diện trong tương lai./.

Bài và ảnh: Hồng Hiếu/TTXVN
Dân tộc Ra Glai

Nhóm địa phương: Rai (ở Hàm Tân - Bình Thuận), Hoang, La Oang (Ðức Trọng - Lâm Ðồng)...

Dân số: 122.245 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Pôlynêxia (ngữ hệ Nam Ðảo). Do có sự tiếp xúc với các dân tộc khác quanh vùng nên ở người Ra Glai đã xuất hiện tượng song ngữ và đa ngữ. Tiếng phổ thông hiện giữ một vai trò quan trọng, là ngôn ngữ giao tiếp của người dân nơi đây với những dân tộc cận cư khác.

Lịch sử: Người Ra Glai đã sinh sống lâu đời ở vùng miền Nam Trung bộ.

Hoạt động sản xuất: Nghề làm rẫy luôn chi phối các hoạt động kinh tế khác. Trên rẫy đồng bào trỉa cả lúa, bắp, đậu, bầu bí và cây ăn trái. Rẫy được phát bằng chà gạc, rựa hoặc rìu. Cư dân sử dụng đoạn gỗ ngắn, nhọn đầu để trỉa giống, làm cỏ rẫy bằng chiếc cào nhỏ và thu hoạch lúa bằng tay... Rèn và đan lát là hai nghề thủ công khá phát triển... Chăn nuôi phổ biến với các đàn gia súc, gia cầm gồm trâu, lợn, gà, vịt... Ngày nay cư dân đã biết trồng cấy lúa nước.

Có nhiều cách chế thóc thành gạo: xay, cối giã gạo bằng chân, cối giã gạo bằng sức nước, cối giã gạo bằng chày, tay... Người Ra Glai cũng như các dân tộc Tây Nguyên phổ biến giã gạo bằng chày tay.

Cồng chiêng là nhạc cụ rất phổ biến ở Tây Nguyên và các tỉnh miền Trung. Nam nữ, người già, người trẻ Ra Glai đều say sưa chơi và thưởng thức tiếng cồng chiêng trong các đêm hội.

Ðàn môi là một loại nhạc cụ truyền thống của người Ra Glai, các bộ phận của đàn được làm bằng các chất liệu khác nhau: nhôm, lá đồng, tre, dây đàn, sáp ong. Khi thổi tay phải giữ bệ đàn, thân đàn cho vào môi ngậm, ngón tay trỏ của tay trái gầy vào đầu nốt nhạc.

Ăn: Sáng và chiều là hai bữa ăn chính. Cơm trưa thường được mang lên rẫy. Canh nấu lẫn thịt, cá và các loại rau là món ăn được ưa thích. Ðồ uống gồm nước lã đựng trong vỏ bầu khô và rượu cần. Thuốc lá tự thái, quấn trong vỏ bắp ngô được dùng phổ biến trong các gia đình.

Mặc: Rất khó tìm thấy y phục truyền thống của người Ra Glai. Ngày nay, đàn ông thì mặc quần âu và áo sơ mi, đàn bà mặc váy hoặc quần với áo bà ba. Thời xa xưa, đàn ông nơi đây ở trần, đóng một loại khố đơn giản, không có hoa văn trang trí. Những ngày lễ hội truyền thống, phụ nữ mặc áo dài, phía trên được ghép thành những ô vuông màu đỏ trắng xen kẽ nhau.

Ở: Người Ra Glai ở trong vùng núi và thung lũng có độ cao từ 500-1000m, tập trung ở các huyện Ninh Sơn (Ninh Thuận), Bắc Bình (Bình Thuận) và một số nơi thuộc Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Ðồng. Trước đây, họ ở nhà sàn. Hiện nay, nhà đất đã khá phổ biến. Những căn nhà thường có dạng hình vuông, chỉ rộng chừng 12-14m2. Một vài nhà lớn hơn, có hình chữ nhật. Kỹ thuật lắp ghép rất đơn sơ, chủ yếu sử dụng chạc cây và dây buộc. Mái lợp bằng tranh hoặc lá mây. Vách được che bằng phên đan hay sử dụng đất trát.

Phương tiện vận chuyển: Như các dân tộc khác trên Trường Sơn - Tây Nguyên, phương tiện vận chuyển của người Ra Glai là gùi. Gùi được đan đơn giản, không hoa văn trang trí. Gùi có các kích cỡ khác nhau, phù hợp với đôi vai của từng người và từng công việc cụ thể.

Quan hệ xã hội: Mỗi làng là nơi sinh sống của nhiều dòng họ. Trong những trường hợp cần thiết "Hội đồng già làng" hình thành dựa trên sự thừa nhận của mọi thành viên trong làng. Mỗi đơn vị cư trú đều có một người đứng đầu, là người có công tìm đất lập làng. Khi nhiều làng cùng sinh tụ trên một vùng rừng núi thì ở đó có một người là chủ núi bên cạnh các chủ làng... Tầng lớp thày cúng cũng đã hình thành. Tuy nhiên, mọi quan hệ xã hội của người Ra Glai trước kia và hiện nay đều chịu sự chi phối của chế gia đình mẫu hệ.

Cưới xin: Tình yêu của trai gái trước hôn nhân được người Ra Glai tôn trọng. Việc cưới xin phải trải qua nhiều bước, nhiều thủ tục khá phức tạp. Lễ cưới được tiến hành cả ở hai bên gia đình: nhà gái trước, nhà trai sau. Quan trọng nhất trong lễ cưới là nghi thức trải chiếu cho cô dâu, chú rể. Cô dâu, chú rể ngồi trên chiếu này để hai ông cậu của hai bên cúng trình với tổ tiên, thần linh về việc cưới xin. Cũng chính trên chiếc chiếu này, họ ăn chung bữa cơm đầu tiên trước sự chứng kiến của hai họ. Sau lễ cưới, việc cư trú bên vợ đang còn phổ biến.

Sinh đẻ: Trước và sau khi sinh nở, phụ nữ Ra Glai kiêng một số thức ăn, không nói tên một vài loài thú và tránh làm những công việc nặng nhọc. Họ được chồng dựng cho một căn nhà nhỏ ở bìa rừng để sinh đẻ. Họ đẻ ngồi và tự mình giải quyết các công việc khi sinh. Một số nơi, sản phụ được sự giúp đỡ của một người đàn bà giàu kinh nghiệm. Khi sinh xong, người mẹ bế con về nhà và khoảng 7 ngày sau họ tiếp tục làm các công việc như bình thường. Ngày nay, phụ nữ nơi đây đã đến sinh đẻ ở trạm xá, với sự giúp đỡ của các nữ hộ sinh.

Ma chay: Người chết được quấn trong vải hoặc quần áo cũ rồi đặt trong quan tài bằng thân cây rỗng hay quấn bằng vỏ cây là tuỳ theo mức giàu nghèo của gia đình. Người chết được chôn trên rẫy hoặc trong rừng, đầu hướng về phía tây. Khi có đủ điều kiện về kinh tế người ta làm lễ bỏ mả, dựng nhà mồ cho người chết. Quanh nhà mồ được trồng các loại cây như: chuối, mía, dứa và khoai môn. Trên đỉnh nhà mồ còn có hình chiếc thuyền và những chú chim bông lau. Vật dụng thuộc về người chết được phá hỏng, đặt quanh nhà và trong nhà mồ.

Thờ cúng: Người Ra Glai cho rằng có một thế giới thần linh bao quanh và vượt ra ngoài hiểu biết của họ. Các vị thần đều có thể bớt gây tai họa hay trợ giúp họ nếu được cúng tế và thỉnh cầu. Vong linh người chết là lực lượng siêu nhiên gây cho họ nhiều sợ hãi nhất. Cư dân còn tin vào sự linh hoá của các loại thú vật... Vì vậy, hàng năm thường xuyên diễn ra các nghi lễ cúng bái với việc hiến tế để mong thần linh giúp đỡ. Việc cúng tế này đã có sự tham gia của lớp thầy cúng, họ đang dần tách khỏi lao động và coi cúng bái như một nghề nghiệp chính thức.

Lễ tết: Theo chu kỳ sản xuất, người Ra Glai thường tiến hành các nghi lễ khi chọn rẫy, phát và đốt rẫy, gieo trỉa và thu hoạch. Theo chu kỳ đời người, đó là các lễ tiết khi sinh nở, lúc ốm đau, rồi cưới xin, ma chay... Những nghi lễ lớn trong năm thường tập trung vào khoảng tháng 1-2 dương lịch, khi đã thu hoạch rẫy, gồm cả lễ mừng thu hoạch, cưới xin và lễ bỏ mả. Ðây chính là những ngày tết của cư dân vùng này.

Văn nghệ: Ðó là những truyện cổ tích, thần thoại, những làn điệu dân ca, những câu tục ngữ, ca dao... thể hiện tâm tư, tình cảm của cư dân. Ðó cúng còn là bộ nhạc cụ khá phong phú của người Ra Glai. Bộ chiêng đồng đầy đủ với 12 chiếc. Tuy nhiên, có thể sử dụng 4, 6, 7 hay 9 chiếc. Khèn bầu, khèn môi, đàn ống tre khá phổ biến. Người Ra Glai cũng là cư dân biết sử dụng những thanh đá kêu, ghép thành bộ thường gọi là đàn đá, đánh thay chiêng, khá độc đáo và lý thú.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Ra Glai

Có thể bạn quan tâm

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Ngày 28/10, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hóa tổ chức khánh thành Khu văn hóa - thể thao “Thắm tình quân - dân”, mô hình “Dân vận khéo” tại bản Muống, xã vùng cao biên giới Sơn Thủy. 

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Gần 20 năm trước, từ cuối năm 2007, để phục vụ dự án Nhà máy thủy điện Sơn La - công trình trọng điểm quốc gia, hàng trăm hộ dân xã Mường Chiên, huyện Quỳnh Nhai (cũ), tỉnh Sơn La đã nhường đất, rời nơi chôn rau cắt rốn, chuyển đến các điểm tái định cư mới trên địa bàn xã Bình Thuận.

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Giữa những dãy núi đá tai mèo trùng điệp nơi cao nguyên đá Đồng Văn (Tuyên Quang), tình đồng đội vẫn bền chặt theo năm tháng, tiếp tục được nối dài qua những việc làm thiết thực khi người lính trở về với cuộc sống đời thường. Bằng những việc làm thiết thực, cán bộ, nhân viên Ban Chỉ huy Quân sự xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang đang tiếp thêm động lực cho quân nhân xuất ngũ phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống, góp phần tô thắm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân.

Tuyên Quang tiếp thu, khắc phục ô nhiễm tại bãi rác ở Cốc Pảng

Tuyên Quang tiếp thu, khắc phục ô nhiễm tại bãi rác ở Cốc Pảng

Chiều 26/10, ông Nguyễn Đình Phúc, Chủ tịch UBND xã Du Già (Tuyên Quang) đã ký văn bản số 1844/UBND-KT gửi Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) và Cơ quan thường trú TTXVN tại Tuyên Quang về việc tiếp thu, khắc phục thông tin phản ánh về tình trạng ô nhiễm môi trường tại bãi rác thôn Cốc Pảng.

Giữ an toàn trên những cung đường mùa hoa tam giác mạch

Giữ an toàn trên những cung đường mùa hoa tam giác mạch

Những ngày cuối tháng 10, khi sắc hồng của hoa tam giác mạch bắt đầu trải dài trên những triền núi đá, các cung đường từ hai phường Hà Giang lên Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang trở nên nhộn nhịp bởi dòng người và phương tiện đến tham quan, trải nghiệm.

Củng cố thế trận an ninh nhân dân vững chắc ngay từ cơ sở

Củng cố thế trận an ninh nhân dân vững chắc ngay từ cơ sở

Ngày 23/10, Trung tâm Nội dung số và Truyền thông (Thông tấn xã Việt Nam) phối hợp với Ủy ban nhân dân xã và Công an xã Chiềng Mai (tỉnh Sơn La) tổ chức Lễ khánh thành công trình “Mái ấm bản vui” tại khu dân cư Pha Đin, thuộc bản Buốt Văn.

Khám mắt, cấp thuốc miễn phí cho người cao tuổi ở vùng cao

Khám mắt, cấp thuốc miễn phí cho người cao tuổi ở vùng cao

Ngày 23/10, tại xã Kim Bình (Tuyên Quang), Báo Nhân Dân, Quỹ “Triệu đôi mắt sáng”, Bệnh viện Đông Đô và UBND xã Kim Bình phối hợp tổ chức khám sàng lọc các bệnh về mắt, tư vấn sức khỏe và cấp phát thuốc miễn phí cho người cao tuổi và đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn.

Đồng bộ hệ thống biển báo, nâng hiệu quả quản lý biên giới

Đồng bộ hệ thống biển báo, nâng hiệu quả quản lý biên giới

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, Bộ đội Biên phòng tỉnh Tuyên Quang đã hoàn thành sửa chữa, làm mới hệ thống biển báo trong khu vực biên giới; trong đó cắm mới 36 biển “Khu vực biên giới”, 3 biển “Vành đai biên giới”, đồng thời tháo dỡ những biển không còn phù hợp.

Đoàn kết quân - dân thắp sáng niềm tin nơi vùng cao

Đoàn kết quân - dân thắp sáng niềm tin nơi vùng cao

Giữa địa hình núi cao hiểm trở, giao thông cách trở và chưa có điện lưới Quốc gia, cụm dân cư Pha Đin, xã Chiềng Mai, tỉnh Sơn La đang từng ngày đổi thay nhờ sự chung sức của chính quyền địa phương, lực lượng công an, và người dân.

Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế

Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế

Ngày 20/10, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng phối hợp Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố tổ chức Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế với chủ đề “Phụ nữ Hải Phòng phát triển kinh tế: Tiếp cận chính sách - Chuyển đổi số - Chuyển đổi xanh - Phát triển bền vững”.