10 năm thực hiện Chiến lược biển Việt Nam - Bài 3

10 năm thực hiện Chiến lược biển Việt Nam - Bài 3
Bài 3 - Tập trung phát triển nguồn nhân lực biển Quản lý bền vững biển Việt Nam, phát triển kinh tế biển... là lĩnh vực phức tạp, đa ngành nghề, sử dụng nhiều lao động, đòi hỏi nguồn nhân lực biển phải có tay nghề, có kỹ thuật nghiệp vụ, được huấn luyện và đào tạo "chuyên nghiệp"... Việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực biển là chìa khóa của sự thành công trong phát triển bền vững kinh tế biển, quản lý, sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường biển Việt Nam.
Quảng Ngãi: Diễn tập phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải trong vùng nước cảng biển. Ảnh : Lê Phước Như Ngọc
Quảng Ngãi: Diễn tập phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải trong vùng nước cảng biển. Ảnh : Lê Phước Như Ngọc
Đa dạng hóa công tác đào tạo Theo đánh giá của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, nhân lực biển Việt Nam còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, cơ cấu nhân lực còn mất cân đối, đội ngũ nhân lực quản lý yếu về chuyên môn, nghiệp vụ. Lục lượng thuyền viên vừa chỉ đáp ứng nhu cầu hạn chế trong nước, vừa chưa có khả năng xuất khẩu như Philippines, Indonesia, Hàn Quốc, Trung Quốc… Đội ngũ nhân lực nghiên cứu sáng tạo còn ít, chất lượng chưa cao nên thành quả khoa học về biển và công nghệ phục vụ các hoạt động liên quan đến biển chưa đáp ứng được yêu cầu. Nguyên nhân chủ yếu là do đầu tư cho việc phát triển nhân lực biển còn chưa tương xứng; đội ngũ giảng viên còn thiếu và yếu; cơ sở đào tạo, các viện nghiên cứu, phương tiện trang thiết bị, trình độ cán bộ phục vụ công tác đào tạo, phát triển nhân lực... vừa thiếu, vừa yếu, trong khi hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo về biển chưa được thúc đẩy mạnh mẽ. Khắc phục những khó khăn đó, trong khoảng thời gian 10 năm trở lại đây, công tác phát triển nguồn nhân lực biển tại nước ta đã được quan tâm, đầu tư hiệu quả. Chính phủ đã giao cho Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương triển khai rà soát các đề án phát triển nguồn nhân lực, trong đó chú trọng phát triển nguồn nhân lực biển thông qua đào tạo (đại học và trên đại học), dạy nghề, xây dựng cơ sở đào tạo và các chương trình đào tạo nhân lực cho quản lý, khai thác biển. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội triển khai rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch mạng lưới các cơ sở dạy nghề, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế biển và theo dõi việc thực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực đối với lao động phục vụ Chiến lược biển. Đồng thời, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã sửa đổi, bổ sung đưa vào quy chế tuyển sinh đại học, thạc sỹ, tiến sỹ các chính sách ưu tiên đối với sinh viên, học viên có hộ khẩu thường trú tại các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo. Bộ triển khai rà soát các chương trình đào tạo phục vụ phát triển kinh tế biển, hướng dẫn, hỗ trợ các cơ sở đào tạo mở mã ngành đào tạo phù hợp, phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế biển. Hiện đã có 20 chuyên ngành đào tạo liên quan đến biển, 92 lượt cơ sở đào tạo 20 ngành ở trình độ đại học, thạc sỹ, tiến sỹ. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã đưa 15 nghề thuộc lĩnh vực kinh tế biển vào Danh mục nghề trọng điểm đào tạo nhân lực (9 nghề ở cấp độ quốc tế, 3 nghề cấp độ khu vực, 8 nghề cấp độ quốc gia). Các mô hình thí điểm cũng được xây dựng để đào tạo thuyền trưởng, máy trưởng tàu cá hạng tư cho ngư dân trong việc thực hiện Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020. Bên cạnh đó, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng và thực hiện 2 chương trình đào tạo nghề và 1 chương trình bồi dưỡng hoàn thiện kỹ năng nghề thuyền trưởng, máy trưởng hạng tư cho ngư dân vùng biển. Đến năm 2016, hơn 20.000 ngư dân khai thác hải sản xa bờ đã đào tạo nghề được. Các địa phương ven biển cũng đã tăng cường hoạt động đào tạo, dạy nghề cho lao động trong các ngành nghề kinh tế biển trên địa bàn, lồng ghép nội dung phát triển nguồn nhân lực kinh tế biển trong xây dựng và thực hiện quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của địa phương đến năm 2020. Hệ thống các trường đào tạo nghề, dạy nghề tại các địa phương ven biển được đầu tư nâng cấp và thành lập mới, đến nay có 90 trường cao đẳng nghề, 133 trường trung cấp nghề và 454 trung tâm dạy nghề. Trong đó, nhiều trường cao đẳng, trung cấp nghề có đào tạo ngành nghề về kinh tế biển. Qua từng năm, mạng lưới trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề và trung tâm dạy nghề tiếp tục được rà soát và hoàn thiện, tập trung phát triển 40 trường cao đẳng nghề chất lượng cao, 20 trường cao đẳng nghề, 75 trường trung cấp nghề và 150 trung tâm dạy nghề đào tạo các nghề trong lĩnh vực thủy sản. Tại 28 địa phương ven biển, tổng số lao động được đào tạo phục vụ trực tiếp các hoạt động khai thác, đánh bắt, chế biến hải sản là khoảng 30.000 người. Đồng thời, các địa phương cũng triển khai và nhân rộng các mô hình dạy nghề trong lĩnh vực thủy sản thông qua tổ chức thí điểm dạy nghề máy trưởng, thuyền trưởng hạng tư cho ngư dân ở 16/28 địa phương ven biển với tổng số 25.000 ngư dân (chiếm 30% số ngư dân cần được đào tạo). Bên cạnh đào tạo trong nước, hợp tác quốc tế trong việc xây dựng và nâng cao trình độ nguồn nhân lực biển cũng đã được chú trọng. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã giao Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam làm đầu mối làm việc với Nhật Bản để cùng nhau trao đổi thống nhất về các vấn đề kỹ thuật, đề nghị phía Nhật Bản hỗ trợ chuyển giao phương tiện để đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường và nghiên cứu khoa học biển tại Việt Nam. Đầu tháng 9/2018 vừa qua, tại Hội thảo “Chính sách đại dương - Kinh nghiệm của Nhật Bản” tổ chức tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà cho biết: Công tác đào tạo nguồn nhân lực là công tác quan trọng và được Việt Nam đặt lên hàng đầu. Trong thời gian tới, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ làm việc với Bộ Giáo dục và Đào tạo để cùng thống nhất và hợp tác với Nhật Bản trong vấn đề đào tạo sinh viên chất lượng cao trong lĩnh vực này.  Bên cạnh đó, Việt Nam mong muốn sẽ được Nhật Bản hỗ trợ các khóa đào tạo về quản lý các vấn đề ứng phó với thiên tai biển, bảo tồn sinh thái, môi trường, quy hoạch điều tra cơ bản, đây là những vấn đề hết sức cần thiết hiện nay. Về phía Nhật Bản, Bộ trưởng phụ trách Chính sách đại dương Nhật Bản Fukui Teru đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam cử những đơn vị chức năng chuyên trách để phía Nhật có thể hỗ trợ Việt Nam về phương tiện (tàu nghiên cứu biển), đồng thời hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực để thực hiện các hoạt động này.Mở rộng ngành học về biển Việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực gắn với nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển kinh tế biển trong những năm qua tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực hải sản, hàng hải và dầu khí. Để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực biển trong tình hình mới, hiện nay nhiều cơ sở đào tạo đã mở rộng các ngành học về biển, mở rộng đào tạo nhiều đối tượng theo học khác nhau trong lĩnh vực biển và đại dương. Ngoài một số trường đại học lớn như Đại học Đà Nẵng, Đại học Huế, Đại học Nha Trang, Đại học Hàng hải Việt Nam… một số trường đại học khác đã bổ sung các chương trình đào tạo mới về kinh tế biển và quản lý biển như Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh... Đồng thời, các cơ sở đào tạo như Viện Y học biển, Trường đại học Y Hải Phòng đã xây dựng, hoàn thiện các khung chương trình đào tạo sinh viên, thạc sỹ y học biển và tổ chức đào tạo chuyên khoa cấp 1, chương trình đào tạo định hướng, đào tạo liên tục cho các đối tượng về chuyên ngành y học biển, cấp cứu, điều trị thành công nhiều bệnh nhân tai biến do lặn, tham gia công tác chỉ đạo tuyến, tư vấn về y học biển cho nhiều đơn vị trong ngành y tế... Nhìn chung, các trường đại học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã có những chuyên ngành, khoa, bộ môn giảng dạy, đào tạo, nghiên cứu sâu về khoa học – công nghệ biển. Ngành hàng hải đã phối hợp với các trường đại học và các cơ sở đào tạo trong cả nước tăng cường nguồn nhân lực chuyên ngành. Cho đến nay, đội ngũ thuyền viên có trên 44.000 người, đội ngũ đăng kiểm tàu biển cũng được phát triển về số lượng và nâng tầm chất lượng theo các tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) và Hiệp hội các Tổ chức Đăng kiểm quốc tế (IACS). Không chỉ đào tạo chính quy ở cấp đại học và sau đại học, các hoạt động đào tạo đã được các bộ, ngành, địa phương triển khai cho nhiều đối tượng khác nhau như: Cán bộ nghiên cứu khoa học, cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ, chuyên gia và đội ngũ lao động chuyên ngành kỹ thuật, ngư dân, người làm nghề biển, đội ngũ lao động trên biển, đảo và ven biển được tiến hành với nhiều hình thức đa dạng như đào tạo qua công việc, tham quan học hỏi, tập huấn kỹ năng và nghiệp vụ, mở các lớp bồi dưỡng ngắn hạn, thông qua các hoạt động khoa học – công nghệ và hợp tác quốc tế về biển, hải đảo, thông qua “vừa học, vừa làm”… Bên cạnh đó, các nội dung tuyên truyền về biển, hải đảo được lồng ghép vào các kế hoạch giáo dục, đào tạo của các cấp học và trình độ đào tạo, gắn giáo dục và đào tạo với chủ quyền biển, hải đảo, tạo nên sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức và hành động. Nội dung tăng cường giáo dục về biển, đảo và chủ quyền biển, đảo của Việt Nam tại Biển Đông trong trường học đã được đưa vào nhiệm vụ của các trường phổ thông trên toàn quốc từ năm học 2014-2015 đến nay. Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Quý Kiên cho biết, những năm qua, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các bộ, ngành và 28 địa phương ven biển thực hiện tốt kế hoạch tuyên truyền, tập huấn, thông tin về Biển Đông; đảm bảo chính xác thông tin và kịp thời cung cấp cho nhân dân; đấu tranh việc xuyên tạc công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo; có nhiều đổi mới về nội dung, hình thức tuyên truyền, tập huấn, phổ biến thông tin về biển, đảo theo hướng thiết thực, hiệu quả. Đồng thời, các bộ, ngành, địa phương đã chú trọng phát triển nhân lực các ngành, lĩnh vực về biển như dầu khí, hàng hải, hải sản, du lịch...; xây dựng các cơ sở đào tạo, nghiên cứu ngành, nghề về biển (viện, đại học, cao đẳng, dạy nghề) dọc các thành phố biển; các cơ sở giáo dục, y tế, nhà công vụ cho cán bộ quản lý giáo  dục, y tế, giáo viên tại các vùng bãi ngang, ven biển, đảo. Với sự đầu tư bài bản, phát triển mạnh, có thể nói công tác đào tạo nguồn nhân lực phục vụ các ngành nghề liên quan đến biển và đại dương thời gian qua đã đi đúng hướng. Đây cũng là "nội lực" cần có để nước ta đi lên thành một quốc gia mạnh về biển trong thời gian tới. 
Hoàng Nam

Có thể bạn quan tâm

Những nét chữ mở đường tái hòa nhập cộng đồng

Những nét chữ mở đường tái hòa nhập cộng đồng

Từ những người chưa từng biết chữ đến những học viên có thể tự đọc, tự viết, lớp xóa mù chữ tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Điện Biên đang mở ra cơ hội làm lại cuộc đời. Mỗi con chữ không chỉ mang đến tri thức mà còn tiếp thêm niềm tin, giúp học viên thay đổi nhận thức, vững vàng hơn trên hành trình tái hòa nhập cộng đồng.

Giải quyết trước hạn hồ sơ cho doanh nghiệp trong lĩnh vực y tế

Giải quyết trước hạn hồ sơ cho doanh nghiệp trong lĩnh vực y tế

Nhằm cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân trong lĩnh vực y tế của tỉnh giai đoạn 2026-2030, ngành Y tế tỉnh Gia Lai đặt mục tiêu 100% hồ sơ của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp được giải quyết đúng hạn, hướng tới trước hạn đối với hồ sơ đủ điều kiện; đồng thời rà soát, đơn giản hóa thủ tục, giảm chi phí tuân thủ và xử lý tình trạng gây phiền hà, nhũng nhiễu doanh nghiệp.

Chính phủ giao bổ sung 192,251 tỷ đồng cho chương trình mục tiêu quốc gia

Chính phủ giao bổ sung 192,251 tỷ đồng cho chương trình mục tiêu quốc gia

Chương trình mục tiêu quốc gia hướng tới xây dựng nông thôn mới hiện đại, giàu đẹp, bản sắc gắn với đô thị hóa, thích ứng biến đổi khí hậu. Phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; giảm nghèo đa chiều, bền vững, bảo đảm bình đẳng giới và an sinh xã hội.

Nghị quyết 57 mở đường đưa khoa học, công nghệ vào chính sách dân tộc

Nghị quyết 57 mở đường đưa khoa học, công nghệ vào chính sách dân tộc

Nghị quyết 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực đột phá. Bộ Dân tộc và Tôn giáo cụ thể hóa trong dự thảo Đề án 2026-2035, hướng tới chính sách dựa trên dữ liệu, ứng dụng công nghệ và đưa nghiên cứu vào phát triển dân tộc thiểu số.

Đưa di sản dân tộc, tôn giáo đến gần công chúng bằng công nghệ số

Đưa di sản dân tộc, tôn giáo đến gần công chúng bằng công nghệ số

Từ hỗ trợ các tín đồ sử dụng ứng dụng số đến số hóa không gian, hiện vật và kể chuyện văn hóa, các cộng đồng dân tộc, tôn giáo tại TP Hồ Chí Minh đang tìm cách ứng dụng công nghệ để gìn giữ di sản, đưa những giá trị truyền thống đến gần hơn với công chúng.

Trao tặng cờ Tổ quốc, đồng hành cùng ngư dân vươn khơi bám biển

Trao tặng cờ Tổ quốc, đồng hành cùng ngư dân vươn khơi bám biển

Ngày 1/10, Đoàn Đặc nhiệm Phòng, chống tội phạm ma túy số 2, BTL Cảnh sát biển tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật gắn với công tác dân vận “Cảnh sát biển với đồng bào dân tộc, tôn giáo”, trao tặng 500 lá cờ Tổ quốc cùng nhiều phần quà cho bà con xã Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.

Đồng hành cùng người dân trong quá trình tháo gỡ 'nút thắt' đất đai

Đồng hành cùng người dân trong quá trình tháo gỡ 'nút thắt' đất đai

Xây dựng và phát triển Thành phố Đồng Nai theo hướng “Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc”, lấy con người làm trung tâm, chủ thể, nguồn lực, mục tiêu và đối tượng thụ hưởng của sự phát triển là một trong những nội dung được xác định tại Nghị quyết 16-NQ/TW ngày 21/7/2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2065.

Vốn chính sách mở lối thoát nghèo tại vùng biên giới Sơn Hồng

Vốn chính sách mở lối thoát nghèo tại vùng biên giới Sơn Hồng

Từ những khoản vay để phát triển chăn nuôi, nhiều hộ dân ở vùng biên Hà Tĩnh có thêm điều kiện mở rộng sản xuất, từng bước cải thiện đời sống. Những mô hình được hình thành từ nguồn vốn ưu đãi đang tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập và mở ra hướng thoát nghèo bền vững.

Xây dựng thế trận lòng dân - Bài 1: Dân vận tốt để tạo niềm tin

Xây dựng thế trận lòng dân - Bài 1: Dân vận tốt để tạo niềm tin

Chính quyền địa phương gắn công tác dân vận với việc giữ gìn an ninh, củng cố đoàn kết và nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số. Địa phương phát huy vai trò của già làng, trưởng ấp, người có uy tín, chức sắc tôn giáo để xây dựng thế trận lòng dân vững chắc.

Công nghệ số 'bao phủ' vùng núi, biên giới Lạng Sơn

Công nghệ số 'bao phủ' vùng núi, biên giới Lạng Sơn

Thực hiện Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, các thôn xóm vùng cao, vùng biên giới ở tỉnh Lạng Sơn đang từng bước tạo ra những thay đổi lớn trong đời sống, sinh hoạt.

Giúp người dân vùng biên, vùng khó khăn thoát nghèo

Giúp người dân vùng biên, vùng khó khăn thoát nghèo

Ở khu vực biên giới, vùng sâu vùng xa của tỉnh Lào Cai, nhiều hộ dân có hoàn cảnh khó khăn đã được bộ đội biên phòng hỗ trợ cây, con giống, được vay vốn của ngân hàng chính sách xã hội để đầu tư mở rộng sản xuất, tạo việc làm và từng bước ổn định cuộc sống.

Đồng hành, hỗ trợ phụ nữ, trẻ em nơi biên cương

Đồng hành, hỗ trợ phụ nữ, trẻ em nơi biên cương

Những năm gần đây, giáo dục tại khu vực biên giới đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, vùng biên giới vẫn còn không ít khó khăn, đời sống của nhiều hộ dân vẫn phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, thu nhập thiếu ổn định; không ít học sinh cần được hỗ trợ...

Giữ niềm tin, vun đắp sinh kế cho đồng bào Khmer

Giữ niềm tin, vun đắp sinh kế cho đồng bào Khmer

Gần dân, hiểu hoàn cảnh từng hộ và gương mẫu trong việc chung là cách người có uy tín tạo dựng niềm tin trong đồng bào Khmer. Từ sự tin tưởng ấy, sẽ giúp người có uy tín thành công trong việc vận động bà con tuân thủ pháp luật, yên tâm phát triển sản xuất, chăm lo học hành và gìn giữ văn hóa dân tộc...