Bắc Giang bảo lưu, trao truyền, nuôi dưỡng di sản Then

Bắc Giang là vùng đất gắn với nhiều di sản. Đặc biệt năm 2019, tỉnh là một trong 11 địa phương sở hữu di sản Thực hành Then được UNESCO ghi danh vào danh sách Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Những năm qua, công tác bảo tồn, phát huy giá trị Then của người Tày, Nùng đã được các cấp chính quyền và nhân dân trong tỉnh quan tâm, chú trọng thực hiện với nhiều giải pháp và hoạt động thiết thực.

Nét sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng nổi bật của người Tày, Nùng

Ở Bắc Giang, người Tày, Nùng là hai tộc người có dân số đông sau người Kinh. Họ cư trú rộng khắp trong toàn tỉnh nhưng tập trung chủ yếu ở các huyện: Lục Ngạn, Sơn Động, Lục Nam, Yên Thế và Lạng Giang. Một trong những hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng phổ biến nhất và không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Tày, Nùng nơi đây là Then.

vna_potal_dam_da_am_sac_dem_bieu_dien_gioi_thieu_nghe_thuat_hat_then_dan_tinh_tai_ha_noi_7708633.jpg
Biểu diễn làn điệu Then "Còn mãi cung đàn Then" của đoàn Bắc Giang. Ảnh: Thanh Tùng - TTXVN

Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang, hiện trên địa bàn tỉnh, Thực hành Then của người Tày, Nùng được phân chia thành Then trong nghi lễ (là loại Then cổ phục vụ việc hành nghề tín ngưỡng) và Then trong sinh hoạt văn hóa, văn nghệ thường ngày gọi là Then văn nghệ (cải biên, sáng tác dựa trên âm hưởng Then cổ). Then không chỉ được sử dụng trong các nghi lễ của người Tày, Nùng mà còn được diễn xướng trong các buổi sinh hoạt văn nghệ, hội họp thường ngày, trong lao động, sản xuất, hát đối đáp giao duyên nam nữ…

Nghệ nhân Ưu tú Lục Văn Tích - người tâm huyết gìn giữ, bảo tồn và phát triển nghệ thuật hát Then ở Bắc Giang cho biết, Then nghi lễ được thực hiện ở các dịp lễ cầu an, sinh nhật, giải hạn, nhà mới, gửi con, cúng tổ tiên, cắt tiền duyên... Then văn nghệ là những làn điệu ngắn có âm hưởng vui tươi, nội dung chủ yếu là ca ngợi tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu lứa đôi, ca ngợi công lao của Đảng, Bác Hồ, cầu mong cuộc sống bình an, mùa màng bội thu. Một trong những điểm đặc sắc của Then là ngôn ngữ ẩn chứa chiều sâu văn hóa. Do đó, Then đã góp phần hun đúc tâm hồn, tình cảm và ý chí, khát vọng vươn lên, xây đắp cuộc sống ấm no, hạnh phúc của đồng bào dân tộc Tày, Nùng, được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Lan tỏa giá trị của Then trong cộng đồng

Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang Nguyễn Sĩ Cầm cho biết, sau khi di sản Then được UNESCO ghi danh, tỉnh đã tập trung chỉ đạo triển khai các giải pháp đồng bộ để bảo tồn, phát huy giá trị di sản nhằm thực hiện cam kết của quốc gia với UNESCO. Đồng thời, triển khai hiệu quả Chương trình hành động quốc gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Thực hành then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam, giai đoạn 2022 - 2027 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Năm 2021, UBND tỉnh Bắc Giang phê duyệt đề án “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2021 - 2030”; trong đó, ưu tiên bảo tồn các di sản văn hóa đã được UNESCO vinh danh và đề ra nhiệm vụ cụ thể để bảo tồn và phát huy di sản thực hành Then theo từng giai đoạn. Năm 2022, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang ban hành văn bản triển khai Chương trình hành động quốc gia bảo vệ và phát huy giá trị Di sản Văn hóa phi vật thể “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” đến các phòng, đơn vị trực thuộc Sở và các huyện: Lục Nam, Lục Ngạn, Sơn Động, Lạng Giang, Yên Thế.

vna_potal_van_hoa_soi_duong_bao_ton_phat_huy_gia_tri_di_san_then_cua_nguoi_tay_nung__7678208.jpg
Hát Then của đồng bào Tày, Nùng. Ảnh: Đồng Thuý - TTXVN

Từ năm 2019, hằng năm, Trung tâm Văn hóa Điện ảnh tỉnh Bắc Giang đều tổ chức các lớp truyền dạy hát Then, đàn Tính. Đến nay đã có gần 200 lượt học viên theo học, có kết quả khả quan. Tại các huyện, ngành Văn hóa chú trọng công tác bồi dưỡng Then cho thế hệ trẻ. Hằng năm, Trung tâm Văn hóa Thông tin và Thể thao các huyện: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Lạng Giang đều tổ chức các lớp truyền dạy hát Then, đàn Tính cho các câu lạc bộ trên địa bàn huyện. Hoạt động này còn được một số trường đưa vào giảng dạy trong các tiết học và hoạt động của đơn vị. Điển hình như: Huyện Sơn Động tổ chức giảng dạy chính khóa tại giờ học âm nhạc cho các học sinh khối trung học cơ sở thuộc các xã vùng Đông Bắc của huyện (nơi có nhiều đồng bào dân tộc Tày sinh sống). Huyện Lục Ngạn đưa hát Then, đàn Tính vào truyền dạy tại một số trường trung học cơ sở vào các giờ hoạt động ngoại khóa, giáo dục địa phương thu hút nhiều học sinh tham gia.

Bắc Giang khuyến khích các địa phương có đông đồng bào dân tộc Tày, Nùng sinh sống, thành lập các câu lạc bộ hát Then, đàn Tính. Một số địa phương dành kinh phí đầu tư mua sắm trang thiết bị, trang phục, nhạc cụ... đảm bảo điều kiện duy trì các hoạt động của câu lạc bộ. Số lượng câu lạc bộ hát Then, đàn Tính ở các địa phương được thành lập ngày càng tăng. Đến nay, tỉnh có 20 câu lạc bộ. Nhiều cá nhân, câu lạc bộ đã giành giải cao khi tham gia hội thi, hội diễn văn nghệ trong và ngoài tỉnh. Đặc biệt, tại một số điểm du lịch cộng đồng trên địa bàn huyện Sơn Động và Yên Thế, vài năm gần đây, Then văn nghệ được đưa vào phục vụ du lịch mang lại nhiều kết quả thiết thực.

Tỉnh tạo điều kiện để di sản Then được bảo lưu, trao truyền, nuôi dưỡng và phát triển thông qua các sự kiện văn hóa, du lịch, ngày hội văn hóa, thể thao, các kỳ liên hoan… phục vụ nhu cầu giao lưu giải trí của nhân dân cũng như các nhiệm vụ chính trị của địa phương. Trong đó, đáng chú ý nhất là sự kiện tổ chức Liên hoan hát Then đàn tính lần thứ I của tỉnh Bắc Giang vào tháng 11/2023 gồm nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật phong phú và đặc sắc.

Đặc biệt, năm 2023, Bắc Giang đã ban hành quy định về chính sách hỗ trợ đối với Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn. Theo đó, từ năm 2024, Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú tỉnh Bắc Giang được hỗ trợ hằng tháng và hưởng chế độ hỗ trợ chi phí mai táng khi chết. Đến nay, tỉnh có 43 nghệ nhân được phong tặng, trong đó có 2 nghệ nhân thực hành Then được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú được thụ hưởng chính sách trên.

Để tiếp tục bảo tồn, phát huy giá trị di sản Then của người Tày, Nùng, thời gian tới, Bắc Giang tiếp tục hiện đồng bộ các giải pháp. Trong đó, đẩy mạnh thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ đề án, dự án, Chương trình hành động về bảo vệ và phát huy giá trị Di sản Văn hóa phi vật thể Thực hành then; phối hợp với ngành Giáo dục đưa chương trình dạy hát Then vào giảng dạy trong trường học, đặc biệt là các vùng có đông đồng bào Tày, Nùng cư trú. Các địa phương xây dựng, duy trì, phát huy hiệu quả hoạt động của các câu lạc bộ thực hành Then trên địa bàn; tăng cường công tác xã hội hóa trong cộng đồng, hỗ trợ cùng với nguồn kinh phí Nhà nước bảo đảm duy trì và phát triển hoạt động trình diễn di sản Then tại cơ sở. Các địa phương thường xuyên tổ chức liên hoan hát Then, đàn Tính cấp tỉnh, huyện, xã để các nghệ nhân, diễn viên quần chúng có dịp để giao lưu, học hỏi.

Ngoài ra, tỉnh Bắc Giang định hướng đưa di sản Then trở thành một sản phẩm du lịch tại các điểm du lịch cộng đồng phục vụ nhu cầu thưởng thức của du khách trong và ngoài nước. Đồng thời, tôn vinh, khen thưởng các cá nhân, cộng đồng có nhiều đóng góp trong việc gìn giữ, thực hành, truyền dạy, bảo vệ và phát huy giá trị di sản Then trong cộng đồng.

Đồng Thúy

(TTXVN)
Dân tộc Tày

Tên gọi khác: Thổ.

Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.

Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).

vna_potal_tuyen_quang_gin_giu_nghe_det_tho_cam_cua_nguoi_tay_o_thuong_nong_5693566.jpg
Phụ nữ Tày biết dệt vải, may quần áo từ khi mới 13-14 tuổi. Ảnh: Nam Sương - TTXVN

: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.

Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.

Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.

Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.

Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.

Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.

Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.

Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.

Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Lịch: Người Tày theo âm lịch.

Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.

Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.

Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Tày

Có thể bạn quan tâm

Khẳng định vị thế quê hương cội nguồn cách mạng trong lịch sử dân tộc

Khẳng định vị thế quê hương cội nguồn cách mạng trong lịch sử dân tộc

Nhân dịp kỷ niệm 81 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), tỉnh Cao Bằng sẽ tổ chức chuỗi hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và chương trình nghệ thuật quy mô lớn với chủ đề “Các hoạt động, sự kiện Phường Thục Phán năm 2026 - Hội tụ bản sắc, kết nối tương lai”.

Đánh thức giá trị di sản để phát triển du lịch

Đánh thức giá trị di sản để phát triển du lịch

Triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới, tỉnh Phú Thọ đang đẩy mạnh khai thác các giá trị văn hóa đặc sắc của vùng Đất Tổ gắn với phát triển du lịch. Từ nền tảng các di sản văn hóa và tài nguyên thiên nhiên phong phú, địa phương từng bước xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Kết nối di sản với du lịch và công nghiệp văn hóa

Kết nối di sản với du lịch và công nghiệp văn hóa

Sau khi hợp nhất, Lâm Đồng sở hữu không gian văn hóa đa dạng hàng đầu cả nước với hệ thống di sản phong phú của 49 dân tộc. Đây là lợi thế để địa phương thúc đẩy bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa và chuyển đổi số, từng bước đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Khánh thành Quảng trường trung tâm Gia Nghĩa (Lâm Đồng)

Khánh thành Quảng trường trung tâm Gia Nghĩa (Lâm Đồng)

Tối 25/7, tại phường Bắc Gia Nghĩa, UBND tỉnh Lâm Đồng tổ chức Lễ khánh thành Quảng trường trung tâm Gia Nghĩa và Khu liên hợp Bảo tàng - Thư viện - Công viên. Đây là hai công trình hạ tầng trọng điểm, góp phần hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa, chỉnh trang đô thị, tạo thêm không gian sinh hoạt cộng đồng, văn hóa và du lịch cho khu vực phía Tây của tỉnh.

Đà Nẵng giới thiệu 'Dấu ấn văn hóa Chăm ở Lâm Đồng'

Đà Nẵng giới thiệu 'Dấu ấn văn hóa Chăm ở Lâm Đồng'

Chiều 24/7, tại thành phố Đà Nẵng, Bảo tàng Điêu khắc Chăm phối hợp với Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng khai mạc triển lãm chuyên đề "Dấu ấn văn hóa Chăm ở Lâm Đồng", giới thiệu đến công chúng những giá trị đặc sắc của văn hóa Chăm thông qua hệ thống hiện vật, hình ảnh và tư liệu khoa học đang được lưu giữ, nghiên cứu tại Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng.

Phát hiện nhiều tư liệu quý giá 'giải mã' Thành cổ Châu Sa

Phát hiện nhiều tư liệu quý giá 'giải mã' Thành cổ Châu Sa

Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi vừa hoàn tất đợt khai quật khảo cổ khẩn cấp tại khu vực nội thành di tích Thành cổ Châu Sa (thuộc xã Tịnh Khê, tỉnh Quảng Ngãi). Kết quả đợt khai quật đã làm phát lộ quần thể công xưởng gốm quy mô lớn cùng dấu tích kiến trúc quan trọng, mở ra những tư liệu quý giá để “giải mã” diện mạo một giai đoạn lịch sử chuyển tiếp vốn ít được ghi chép.

Nỗ lực giữ vững danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông

Nỗ lực giữ vững danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông

Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) đang bước vào giai đoạn chuẩn bị cho kỳ tái thẩm định dự kiến diễn ra vào tháng 7/2027. Đây là dấu mốc quan trọng nhằm giữ vững danh hiệu quốc tế, đồng thời tiếp tục phát huy giá trị di sản địa chất, văn hóa và đa dạng sinh học gắn với phát triển du lịch bền vững.

Tâm huyết khôi phục giá trị truyền thống của dân tộc Mường

Tâm huyết khôi phục giá trị truyền thống của dân tộc Mường

Giữa nhịp sống hiện đại với nhiều thay đổi, một số giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Mường đang dần ít hiện diện trong đời sống. Từ sự gắn bó với văn hóa dân tộc, chị Bùi Thị Linh (Bông Klăng), ở phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ đã dành nhiều tâm huyết cho việc khôi phục, giới thiệu những nét đẹp văn hóa Mường đến với cộng đồng.

Giữ hồn tiếng sáo giữa đại ngàn Trường Sơn

Giữ hồn tiếng sáo giữa đại ngàn Trường Sơn

Tiếng sáo của đồng bào Bru Vân Kiều (bản xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị) ngân vang giữa đại ngàn Trường Sơn như nhịp cầu kết nối con người với cội nguồn, núi rừng và đời sống tâm linh. Trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, các nghệ nhân cùng những giải pháp bảo tồn của địa phương đang góp phần giữ gìn di sản quý, đồng thời mở ra cơ hội phát triển du lịch cộng đồng gắn với bản sắc văn hóa.

Lễ dâng nến và dâng bông đặc sắc trong văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer

Lễ dâng nến và dâng bông đặc sắc trong văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer

Lễ dâng nến và dâng bông là các nghi thức tâm linh đặc sắc trong văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer. Lễ thường diễn ra vào dịp Lễ Nhập hạ (tháng 6 - tháng 9 âm lịch) hoặc Lễ dâng y Kathina (tháng 9 - tháng 10 âm lịch), các nghi lễ này cầu mong bình an, mưa thuận gió hòa và phum sóc yên ấm. 

Điểm hẹn văn hóa đêm ở xứ Lạng

Điểm hẹn văn hóa đêm ở xứ Lạng

Tối 11/7, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn tổ chức khai trương không gian văn hóa đêm tại đường Hùng Vương, phường Lương Văn Tri.

Tạo nền tảng để chuyển 'tài nguyên' thành 'nguồn lực' phát triển mới

Tạo nền tảng để chuyển 'tài nguyên' thành 'nguồn lực' phát triển mới

Tỉnh Khánh Hòa tích cực triển khai số hóa, xây dựng “chủ quyền văn hóa số” nhằm khơi dậy nguồn lực văn hóa Chăm, mở rộng khả năng tiếp cận, tạo nền tảng cho văn hóa di sản chuyển mình từ “tài nguyên” thành “nguồn lực”, từ “tiềm năng” thành “sản phẩm văn hóa đặc sắc”. Việc này sẽ đóng góp trực tiếp vào sinh kế và tăng trưởng bền vững của tỉnh theo đúng tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Ngoại giao văn hóa mở thêm không gian hợp tác quốc tế

Ngoại giao văn hóa mở thêm không gian hợp tác quốc tế

Không chỉ là cầu nối đưa những giá trị văn hóa cội nguồn đến với bạn bè quốc tế, ngoại giao văn hóa đang được Phú Thọ kỳ vọng trở thành động lực thúc đẩy du lịch, thu hút đầu tư và mở rộng hợp tác. Với định hướng xây dựng chuỗi hoạt động mang dấu ấn riêng, địa phương đang từng bước biến bản sắc văn hóa thành lợi thế trong quá trình hội nhập.

Bảo tồn nghệ thuật truyền thống Khmer biến văn hóa thành động lực phát triển

Bảo tồn nghệ thuật truyền thống Khmer biến văn hóa thành động lực phát triển

Tiếng trống Chhay-Dăm rộn ràng vang lên trong sân chùa của đồng bào dân tộc Khmer mỗi dịp Tết Chôl Chnăm Thmây hay lễ hội Ok Om Bok từ lâu đã trở thành âm thanh quen thuộc ở những phum, sóc Khmer An Giang. Nhưng phía sau những nhịp trống sôi động ấy là nỗi trăn trở của nhiều nghệ nhân lớn tuổi khi lớp kế cận thưa vắng, không gian diễn xướng dần thu hẹp trước nhịp sống hiện đại.

Trao truyền và gắn kết nghệ thuật Keng Lóng của đồng bào dân tộc Thái

Trao truyền và gắn kết nghệ thuật Keng Lóng của đồng bào dân tộc Thái

Trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ mai một. Tuy nhiên, tại các bản làng của người Thái ở xã Mai Châu và xã Mai Hạ, tỉnh Phú Thọ, nghệ thuật Keng Lóng vẫn được gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa và làm phong phú đời sống tinh thần của cộng đồng.

Giữ sắc đỏ Pà Thẻn trong dòng chảy mới

Giữ sắc đỏ Pà Thẻn trong dòng chảy mới

Sắc đỏ trên trang phục truyền thống của phụ nữ Pà Thẻn ở xã Tân Trịnh (tỉnh Tuyên Quang) hiện diện bền bỉ trong đời sống thường ngày, lễ hội, đám cưới hỏi và cả những buổi truyền dạy nghề thêu, dệt giữa các thế hệ. Từng đường kim, mũi chỉ, hoa văn không chỉ tạo vẻ đẹp độc đáo, riêng có cho bộ trang phục mà còn góp phần lưu giữ ký ức văn hóa, tín ngưỡng và tri thức dân gian của đồng bào.

Văn hoá soi đường: Đặc sắc lễ hội đình Chèm

Văn hoá soi đường: Đặc sắc lễ hội đình Chèm

Lễ hội đình Chèm tại phường Đông Ngạc (thành phố Hà Nội) diễn ra từ ngày 28 đến 30/6/2026 (tức 14 - 16/5 âm lịch), là một trong những lễ hội truyền thống tiêu biểu của vùng Đồng bằng sông Hồng và đã được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2016.

Rà soát nhu cầu đầu tư giai đoạn mới các Chương trình mục tiêu quốc gia

Rà soát nhu cầu đầu tư giai đoạn mới các Chương trình mục tiêu quốc gia

Trong 6 tháng đầu năm 2026, cùng với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội sau hợp nhất địa giới hành chính, tỉnh Phú Thọ tiếp tục dành sự quan tâm đối với công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo; coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm giữ vững ổn định chính trị, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo nền tảng cho phát triển bền vững trên địa bàn.

Bế mạc Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm: Bảo tồn gắn với phát triển du lịch

Bế mạc Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm: Bảo tồn gắn với phát triển du lịch

Tối 28/6, tại phường Đông Hải (tỉnh Khánh Hòa), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa tổ chức Lễ bế mạc Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI năm 2026. Sự kiện khép lại chuỗi hoạt động sôi nổi nhằm giới thiệu, quảng bá những giá trị văn hóa truyền thống tinh hoa của đồng bào Chăm.

Hơn 260 vận động viên tranh tài đầy kịch tính, sôi nổi

Hơn 260 vận động viên tranh tài đầy kịch tính, sôi nổi

Trong khuôn khổ Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI tại tỉnh Khánh Hòa, các hoạt động thi đấu thể thao truyền thống và trò chơi dân gian đã thu hút sự tham gia tranh tài của hơn 260 vận động viên đến từ 7 tỉnh, thành phố có đông cộng đồng người Chăm sinh sống. Các cuộc thi đấu diễn ra kịch tính, sôi nổi tại Trung tâm Dịch vụ thi đấu thể thao tỉnh Khánh Hòa (phường Bảo An), thu hút hàng ngàn lượt khán giả đến xem và cổ vũ.

Khánh Hòa giới thiệu Ngày hội văn hóa Chăm

Khánh Hòa giới thiệu Ngày hội văn hóa Chăm

Diễn ra trong 3 ngày với sự tham gia đại diện của đồng bào Chăm từ 7 tỉnh, thành phố, Ngày hội văn hóa Chăm tại Khánh Hòa không chỉ là không gian trình diễn những giá trị di sản truyền thống đặc sắc, mà còn là nhịp cầu kết nối, vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc.