Bảo tồn, phát huy giá trị di sản gốm Chăm

Ngày 29/11/2022, Nghệ thuật làm gốm của người Chăm được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Sau gần 4 năm, vấn đề đặt ra không còn chỉ là quảng bá danh hiệu, mà là phải lượng hóa được sức sống thực sự của nghề, nhận diện những nguy cơ và chứng minh hiệu quả của các giải pháp bảo vệ.

Đây cũng là trọng tâm được nhiều nhà khoa học, chuyên gia đặt ra tại Hội thảo khoa học “Bảo tồn và phát huy giá trị Nghệ thuật làm gốm của người Chăm được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp”, diễn ra ngày 11/10 trong khuôn khổ Lễ hội Katê tại Khánh Hòa.

Hội thảo khoa học về bảo tồn, phát huy giá trị Nghệ thuật làm gốm của người Chăm tại làng gốm Bàu Trúc, xã Ninh Phước.
Hội thảo khoa học về bảo tồn, phát huy giá trị Nghệ thuật làm gốm của người Chăm tại làng gốm Bàu Trúc, xã Ninh Phước.

Điều cần đạt được là những bộ dữ liệu, luận điểm và luận cứ khoa học đủ sức khẳng định “sức sống nội sinh và sự bền vững của Nghệ thuật làm gốm người Chăm”. Đây là cơ sở quan trọng để hướng tới mục tiêu đưa Nghệ thuật làm gốm người Chăm từ di sản cần bảo vệ khẩn cấp sang Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại trong những năm tới.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Trang, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh cùng cộng sự đặt ra vấn đề là khoảng cách giữa những kết quả bảo tồn có thể nhìn thấy với sức sống thực chất của di sản. Theo số liệu trong tham luận, số người thực hành nghề ở Bàu Trúc giảm từ 455 người năm 2019 xuống 360 người năm 2024; chỉ còn 6 nghệ nhân có khả năng truyền dạy. Bốn năm sau khi được UNESCO ghi danh, nhiều chương trình bảo vệ đã được triển khai, nhưng sức sống của di sản vẫn đứng trước nguy cơ suy giảm.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Trang nêu rõ, đánh giá bảo tồn không thể chỉ dựa trên số lớp truyền nghề đã mở, số danh hiệu được công nhận, lễ hội, thương hiệu hay công trình được xây dựng. Việc lặp lại hình thức bên ngoài của một sản phẩm truyền thống chưa đủ để chứng minh tri thức và kỹ năng làm nghề đã được tiếp nối. Sức sống của gốm Bàu Trúc nằm trong mối quan hệ giữa người phụ nữ Chăm với đất và lửa, giữa các thế hệ trong gia đình, giữa người thợ với tri thức và không gian văn hóa của cộng đồng. Điều này cũng đặt ra một cách tiếp cận khác đối với mục tiêu đưa di sản ra khỏi tình trạng cần bảo vệ khẩn cấp. “Gỡ” chữ khẩn cấp không thể chỉ là hoàn thành một thủ tục hay đạt một chỉ tiêu hành chính. Quan trọng hơn là phải chứng minh nghề đã có khả năng tự duy trì: còn người làm nghề, có lớp kế cận, có nguyên liệu, thị trường và một cộng đồng chủ động quyết định tương lai di sản.

Đại biểu dự hội thảo chia sẻ ý kiến.

Đại biểu dự hội thảo chia sẻ ý kiến.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Quốc Anh, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Thuận, Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Dân tộc - Tôn giáo, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Khánh Hòa thông tin, những điểm nghẽn hiện nay không tách rời nhau. Lực lượng nghệ nhân cao tuổi suy giảm; nguyên liệu đất sét gặp khó khăn; nghề chịu sức ép của thị trường; hoạt động du lịch chủ yếu vẫn là khách đến tham quan trong thời gian ngắn. Lượng khách tăng chưa đồng nghĩa với thu nhập của người làm gốm tăng tương ứng.

Ông đề xuất tiếp cận Bàu Trúc theo mô hình “bảo tàng sống”. Đây không phải là bảo tàng theo nghĩa đưa sản phẩm vào tủ kính, mà là một hệ sinh thái trong đó nghề tiếp tục được thực hành ngay trong đời sống thường ngày của cộng đồng. Trước hết, cần quy hoạch, bảo vệ vùng nguyên liệu và không gian sản xuất, nhất là không gian nung gốm ngoài trời - một yếu tố đặc trưng của nghề. Không thể bảo vệ kỹ thuật truyền thống nếu người dân không còn đất làm nguyên liệu hoặc không còn không gian để thực hành. Cùng với đó là yêu cầu nâng cao giá trị mỹ thuật và công năng của sản phẩm. Bảo tồn không có nghĩa giữ nguyên mọi mẫu gốm như trước đây. Nghệ nhân có thể kết hợp với họa sĩ, nhà thiết kế để phát triển sản phẩm trang trí, quà tặng, nội thất, sản phẩm phục vụ du lịch… nhưng những yếu tố đặc trưng về kỹ thuật, vật liệu và bản sắc Chăm phải tiếp tục được giữ gìn.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Quốc Anh, phát triển du lịch cộng đồng không nên dừng ở tăng số lượt người đến làng gốm mà cần chuyển sang tăng giá trị trải nghiệm, kéo dài thời gian khách ở lại và quan trọng hơn là làm tăng phần thu nhập quay trở lại với nghệ nhân, hộ làm nghề và cộng đồng. Du khách có thể trực tiếp xem nghệ nhân chọn và xử lý đất, tạo hình sản phẩm, trang trí, nung gốm; tự trải nghiệm làm gốm; nghe kể những câu chuyện văn hóa Chăm. Khi đó, thứ được bán không chỉ là một chiếc bình hay vật trang trí, mà là giá trị văn hóa gắn với quá trình tạo ra sản phẩm. Mục tiêu quan trọng không phải “chạy theo” việc thay đổi danh sách của UNESCO. Điều cần thiết trong giai đoạn tới là tạo ra những bằng chứng thuyết phục về sự phục hồi và khả năng duy trì của di sản. Khi kỹ năng, chủ thể thực hành, nguồn nguyên liệu, sinh kế, truyền dạy, môi trường và sự tham gia của cộng đồng được củng cố, việc đề nghị chuyển danh sách mới có cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc.

Tiến sĩ Phạm Cao Quý, Cục Di sản văn hóa phát biểu.
Tiến sĩ Phạm Cao Quý, Cục Di sản văn hóa phát biểu.

Tiến sĩ Phạm Cao Quý, Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao Du lịch) cho rằng, yêu cầu đặt ra không chỉ là bảo tồn mà phải phục hồi sức sống của nghề gốm, tăng phối hợp quản lý, đo lường thực chất kết quả bảo vệ; ưu tiên nguồn nguyên liệu, truyền dạy liên thế hệ, bảo đảm sinh kế và quyền đối với tri thức truyền thống. Du lịch, công nghiệp văn hóa, hạ tầng và chuyển đổi số phải đóng vai trò hỗ trợ, giúp duy trì thực hành sống của di sản, thay vì làm thương mại hóa nghề truyền thống. Từ những hiện vật Chăm đang nằm trong bảo tàng hay bộ sưu tập tư nhân ở Huế có thể mở rộng thành một hệ thống dữ liệu liên vùng về gốm Chăm. Những dữ liệu này giúp giới nghiên cứu so sánh kỹ thuật, loại hình, công năng, quá trình biến đổi của gốm qua các thời kỳ; đồng thời tạo thêm bằng chứng khoa học cho việc nhận diện giá trị và sức sống lâu dài của di sản.

Các chuyên gia cho rằng phải số hóa cả tri thức của người đang thực hành nghề. Một sản phẩm gốm không chỉ cần được ghi lại bằng hình ảnh mà còn cần thông tin về đất, kỹ thuật xử lý nguyên liệu, thao tác tạo hình, cách nung, hoa văn, người làm ra sản phẩm và câu chuyện văn hóa liên quan...

Các nghệ nhân làng gốm Chăm Bàu Trúc chia sẻ ý kiến.

Các nghệ nhân làng gốm Chăm Bàu Trúc chia sẻ ý kiến.

Tin, ảnh: Đặng Tuấn/TTXVN
Dân tộc Chăm

Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...

Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.

Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).

Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.

Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.

Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.

Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.

Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.

Vào dịp lễ Ramưwan, nam nữ người Chăm thường khoác lên mình trang phục truyền thống với nhiều sắc màu thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng người Chăm. Ảnh Nguyễn Thanh.jpg
Vào dịp lễ Ramưwan, nam nữ người Chăm thường khoác lên mình trang phục truyền thống với nhiều sắc màu thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng người Chăm. Ảnh Nguyễn Thanh

Ở: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.

Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...

Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.

Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ. 

Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà. 

Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.

Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.

Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo. 

Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp. 

Thiếu nữ Chăm biểu diễn điệu múa truyền thống trong lễ hội Katê. Ảnh Nguyễn Thanh.jpg
Thiếu nữ Chăm biểu diễn điệu múa truyền thống trong lễ hội Katê. Ảnh Nguyễn Thanh

Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.  

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Chăm

Có thể bạn quan tâm

Sẵn sàng cho Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò rực rỡ, văn minh

Sẵn sàng cho Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò rực rỡ, văn minh

Từ ngày 15 - 21/10, tại Nghĩa Lộ (tỉnh Lào Cai) sẽ diễn ra Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026. Đêm khai mạc vào tối 16/10 với chương trình nghệ thuật đặc sắc “Xòe Thái - Trọn một vòng yêu” được kỳ vọng là điểm nhấn hội tụ sắc màu Tây Bắc. 

Cao Bằng quảng bá làng nghề truyền thống tới du khách

Cao Bằng quảng bá làng nghề truyền thống tới du khách

Được tổ chức vào các ngày cuối tuần tại phố đi bộ Kim Đồng, Tuần trải nghiệm làng nghề truyền thống “Bàn tay người Cao Bằng” mang đến cho người dân và du khách cơ hội khám phá, trải nghiệm trực tiếp các nét văn hóa độc đáo cùng kỹ thuật chế tác thủ công tinh xảo.

Triển lãm 'Sắc màu văn hóa Chăm', trải nghiệm tour di sản tại Lâm Đồng

Triển lãm 'Sắc màu văn hóa Chăm', trải nghiệm tour di sản tại Lâm Đồng

Chào mừng Lễ hội Katê 2026, chuỗi hoạt động văn hóa dân gian Chăm vừa khai mạc ngày 11/10 tại Lâm Đồng với hơn 1.500 hiện vật gốc cùng các màn trình diễn nghề truyền thống. Đặc biệt, đây là lần đầu tiên địa phương đưa vào vận hành tour tham quan kết nối Đền thờ Pô Nít và làng gốm Bình Đức.

Bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Thái qua Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu

Bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Thái qua Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu

Ngày 11/10, Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu năm 2026 được tổ chức tại xã Phong Thổ (tỉnh Lai Châu). Đây là hoạt động văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc của đồng bào Thái, gắn với đời sống lao động sản xuất, nền văn minh lúa nước và những phong tục tốt đẹp được gìn giữ.

Lễ hội cốm Thuận Hòa, nơi hòa mình vào văn hóa Tày

Lễ hội cốm Thuận Hòa, nơi hòa mình vào văn hóa Tày

Chiều 10/10, UBND xã Thuận Hòa (Tuyên Quang) đã tổ chức Lễ hội Cốm - Hương cốm sắc thu năm 2026, thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia. Lễ hội là dịp tôn vinh nghề làm cốm truyền thống của đồng bào dân tộc Tày, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa và quảng bá sản phẩm đặc trưng của địa phương.

Độc đáo Lễ hội Katê của đồng bào Chăm theo đạo Bàlamôn

Độc đáo Lễ hội Katê của đồng bào Chăm theo đạo Bàlamôn

Sáng 10/10, Lễ hội Katê năm 2026 của đồng bào Chăm theo đạo Bàlamôn tỉnh Lâm Đồng đã khai mạc tại di tích tháp Pô Sah Inư, phường Phú Thủy, thu hút hàng nghìn người dân, du khách trong và ngoài nước tham quan, tìm hiểu nét văn hóa độc đáo này.

Rước y trang lễ Katê - Nét đẹp văn hóa của đồng bào Chăm

Rước y trang lễ Katê - Nét đẹp văn hóa của đồng bào Chăm

Qua mỗi mùa Katê, những bộ y trang thiêng lại được đồng bào Raglai trao cho cộng đồng Chăm để thực hiện nghi lễ truyền thống. Đây cũng là minh chứng sinh động cho mối quan hệ gắn bó lâu đời giữa hai cộng đồng Chăm và Raglai trên vùng đất Nam Trung Bộ.

Giữ mạch nguồn văn hóa Mông ở Điện Biên

Giữ mạch nguồn văn hóa Mông ở Điện Biên

Là một trong ba dân tộc có dân số đông nhất tỉnh Điện Biên, đồng bào Mông sinh sống chủ yếu ở các vùng núi cao và vẫn gìn giữ nhiều giá trị văn hóa đặc sắc, từ tiếng khèn, trang phục truyền thống, nghề thủ công đến những phong tục, lễ hội. Trong nhịp sống hôm nay, những giá trị ấy đang tiếp tục được trao truyền và phát huy, góp phần làm nên bản sắc văn hóa riêng có của Điện Biên.

Lãnh đạo Cần Thơ thăm, chúc mừng đồng bào Khmer dịp lễ Sene Dolta

Lãnh đạo Cần Thơ thăm, chúc mừng đồng bào Khmer dịp lễ Sene Dolta

Chiều 2/10, nhân dịp lễ Sene Dolta năm 2026 của đồng bào Khmer, đoàn công tác của thành phố Cần Thơ do Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Cần Thơ Đồng Văn Thanh làm trưởng đoàn đến thăm Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Thạnh Phú cùng Chùa Prek On Đớk (Cần Đước) tại xã Nhu Gia.

Giữ hồn văn hóa Tây Nguyên từ những người trẻ

Giữ hồn văn hóa Tây Nguyên từ những người trẻ

Giữa nhịp sống hiện đại, những giai điệu truyền thống ở phía Tây Quảng Ngãi đang được các nghệ sĩ trẻ nỗ lực gìn giữ và truyền lại cho thế hệ mai sau. Từ những buôn làng, âm nhạc đang tiếp tục được trao truyền bằng tình yêu và niềm tự hào văn hóa dân tộc.

Sôi nổi Lễ mừng cơm mới của người Mông vùng cao Púng Luông

Sôi nổi Lễ mừng cơm mới của người Mông vùng cao Púng Luông

Khi những thửa ruộng bậc thang vùng cao khoác lên mình sắc vàng mùa lúa chín, đồng bào Mông xã Púng Luông, Lào Cai lại tưng bừng tổ chức Lễ mừng cơm mới-nghi lễ truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, vừa có ý nghĩa tâm linh, vừa là điểm nhấn thu hút du khách trải nghiệm.