Bảo tồn tiếng nói, chữ viết dân tộc thiểu số

Các lớp học xóa mù chữ và dạy tiếng dân tộc Khmer, Hoa, Chăm tại An Giang đang được duy trì và mở rộng tại nhiều địa phương, giúp đồng bào các dân tộc nâng cao khả năng đọc, viết, hạn chế tái mù chữ; qua đó góp phần bảo tồn tiếng nói, chữ viết và gìn giữ những nét văn hóa truyền thống của các dân tộc.

Nỗ lực chống tái mù chữ

Các học viên là đồng bào dân tộc Chăm làm bài kiểm tra tại lớp học xóa mù chữ ở xã Châu Phong, tỉnh An Giang.
Các học viên là đồng bào dân tộc Chăm làm bài kiểm tra tại lớp học xóa mù chữ ở xã Châu Phong, tỉnh An Giang.

Sau những giờ lao động, buôn bán và chăm lo gia đình, nhiều người dân tộc Chăm ở xã Châu Phong, tỉnh An Giang tranh thủ đến Trung tâm Học tập cộng đồng xã tham gia các lớp xóa mù chữ. Tại đây, giáo viên người Chăm tận tình hướng dẫn học viên đọc, viết và thực hành các phép tính cơ bản. Nhờ đó, người học từng bước nâng cao kiến thức, biết vận dụng chữ viết vào công việc và sinh hoạt hằng ngày.

Hiện, các lớp học xóa mù chữ tạo điều kiện để đồng bào Chăm tiếp cận giáo dục ngay tại địa phương. Không chỉ giúp người dân biết đọc, biết viết, hoạt động này còn góp phần nâng cao dân trí, duy trì tiếng nói, chữ viết và gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Chăm.

Bà Ma Ri Dah (51 tuổi, ấp Phũm Soài, xã Châu Phong), học viên lớp xóa mù chữ chia sẻ, trước đây bà không biết đọc, viết nên gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt và mua bán. Từ khi đi học, bà đã có thể tự đọc, viết, ghi chép và tính toán khi mua bán. “Bây giờ biết chữ, tôi thấy thuận tiện hơn rất nhiều. Khi đi mua bán hay làm việc gì, tôi cũng có thể tự đọc, tự ghi lại, không phải nhờ người khác giúp đỡ như trước”, bà Ma Ri Dah cho biết.

Thầy Zac Ky Da, giáo viên giảng dạy các lớp xóa mù chữ cho đồng bào Chăm tại Trung tâm Học tập cộng đồng xã Châu Phong cho biết: Học viên theo học lớp xóa mù chữ đa phần đã lớn tuổi nên việc tiếp thu kiến thức mất rất nhiều thời gian. Vì vậy, giáo viên phải kiên nhẫn hướng dẫn, giảng giải từng nội dung để học viên hiểu và nhớ bài trước khi chuyển sang nội dung mới.

Các học viên là đồng bào dân tộc Chăm làm bài kiểm tra tại lớp học xóa mù chữ ở xã Châu Phong, tỉnh An Giang.
Các học viên là đồng bào dân tộc Chăm làm bài kiểm tra tại lớp học xóa mù chữ ở xã Châu Phong, tỉnh An Giang.

Theo thầy Zac Ky Da, ngoài dạy các học viên biết đọc, biết viết, giáo viên còn giúp học viên hiểu được lợi ích của việc biết chữ trong cuộc sống. Khi biết đọc, biết viết, người dân có thể tự tìm hiểu thông tin, ghi chép công việc, tính toán khi mua bán, từ đó chủ động hơn trong sinh hoạt và lao động hằng ngày.

Theo Trung tâm Học tập cộng đồng xã Châu Phong, tại các ấp Châu Giang và Phũm Soài có đông đồng bào Chăm sinh sống hiện còn 231 người chưa biết chữ. Năm 2025, địa phương tổ chức 4 lớp xóa mù chữ với 66 học viên theo học. Trước đó, năm 2024, địa phương tổ chức 2 lớp, thu hút 85 học viên.

Ông Lê Thanh Hùng, Phó Giám đốc Trung tâm Học tập cộng đồng xã Châu Phong, An Giang cho biết: Việc duy trì sĩ số và bảo đảm học viên theo học hết chương trình xóa mù chữ gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân do phần lớn học viên trong độ tuổi lao động, làm nghề buôn bán nhỏ, làm thuê hoặc thường xuyên đi làm ăn xa nên khó sắp xếp thời gian đến lớp. Để duy trì sĩ số và bảo đảm học viên theo học đến cuối chương trình, Trung tâm phải phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, các đoàn thể và lực lượng ở cơ sở trong tuyên truyền, vận động người dân đến lớp. Trong đó, giáo viên và cán bộ địa phương thường xuyên thăm hỏi, động viên, nắm bắt hoàn cảnh của từng học viên để có cách hỗ trợ phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho bà con tham gia học tập.

Mở rộng dạy chữ dân tộc thiểu số

Các học viên là đồng bào dân tộc Chăm làm bài kiểm tra tại lớp học xóa mù chữ ở xã Châu Phong, tỉnh An Giang.
Các học viên là đồng bào dân tộc Chăm làm bài kiểm tra tại lớp học xóa mù chữ ở xã Châu Phong, tỉnh An Giang.

Toàn tỉnh An Giang hiện có trên 472.100 người dân tộc thiểu số, chiếm 9,53% dân số; trong đó, dân tộc Khmer chiếm khoảng 8%, dân tộc Hoa chiếm 0,93%, dân tộc Chăm chiếm 0,43%...

Để công tác xóa mù chữ trong cộng đồng dân tộc Chăm đạt hiệu quả lâu dài, ông Nguyễn Văn Hợp, Phó Chủ tịch UBND xã Châu Phong, tỉnh An Giang cho biết, xã tiếp tục phối hợp với ngành Giáo dục, các đoàn thể và cộng đồng rà soát, vận động người chưa biết chữ tham gia học tập, hạn chế tình trạng bỏ học giữa chừng. Địa phương cũng khuyến khích đồng bào dân tộc Chăm thường xuyên đọc, viết, sử dụng chữ trong sinh hoạt, công việc hằng ngày và tìm hiểu thông tin, qua đó hạn chế tình trạng tái mù chữ.

Không chỉ riêng xã Châu Phong, công tác dạy tiếng nói, chữ viết dân tộc thiểu số đang được tỉnh An Giang quan tâm triển khai tại nhiều địa phương. Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, hoạt động dạy tiếng nói, chữ viết dân tộc thiểu số tiếp tục được duy trì và mở rộng. Toàn tỉnh có 47/102 xã, phường, đặc khu tổ chức dạy tiếng Khmer, tiếng Hoa và tiếng Chăm. Các lớp học dạy tiếng Khmer được tổ chức tại chùa Phật giáo Nam tông Khmer, trường học; các lớp dạy tiếng Hoa tổ chức tại nhà văn hóa ấp, Hội Tương tế người Hoa; các lớp dạy tiếng Chăm tổ chức tại các thánh đường, tiểu thánh đường và các điểm dạy do cộng đồng tổ chức.

Các học viên là đồng bào dân tộc Chăm tham gia lớp học xóa mù chữ tại xã Châu Phong, tỉnh An Giang.
Các học viên là đồng bào dân tộc Chăm tham gia lớp học xóa mù chữ tại xã Châu Phong, tỉnh An Giang.

Theo Sở Dân tộc và Tôn giáo An Giang: Năm 2026, toàn tỉnh tổ chức 693 lớp dạy tiếng dân tộc với hơn 15.600 học viên tham gia; trong đó, chữ Khmer có 578 lớp với khoảng 13.300 học viên, chữ Hoa có 16 lớp với 267 học viên, chữ Chăm có 99 lớp học với trên 2.000 học viên theo học.

Hiện, đội ngũ trực tiếp giảng dạy tiếng Khmer, Hoa, Chăm tại An Giang chủ yếu được huy động từ cộng đồng, cơ sở tôn giáo và những người có khả năng sử dụng, truyền dạy tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình. Năm 2026, An Giang có khoảng trên 500 người trực tiếp dạy chữ Khmer, 13 người dạy chữ Hoa và 95 người dạy chữ Chăm. Đối với chữ Chăm, người giảng dạy chủ yếu là các vị giáo cả, phó giáo cả và những người biết đọc, viết chữ Chăm, có khả năng truyền dạy cho cộng đồng.

Theo Sở Dân tộc và Tôn giáo An Giang: Công tác dạy tiếng nói, chữ viết dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh đang gặp nhiều khó khăn do cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài liệu giảng dạy thiếu thốn, xuống cấp. Sách giáo khoa Khmer ngữ tại một số nơi còn thiếu; tài liệu dạy chữ Hoa, chữ Chăm chưa thống nhất, chủ yếu do các cơ sở tự sưu tầm, biên soạn. Bên cạnh đó, đội ngũ giảng dạy phần lớn được huy động từ cộng đồng và các cơ sở tôn giáo, nên trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm chưa đảm bảo...

Nâng cao chất lượng dạy tiếng dân tộc

Các học viên là đồng bào dân tộc Chăm tham gia lớp học xóa mù chữ tại xã Châu Phong, tỉnh An Giang.
Các học viên là đồng bào dân tộc Chăm tham gia lớp học xóa mù chữ tại xã Châu Phong, tỉnh An Giang.

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác dạy tiếng nói, chữ viết dân tộc thiểu số, bà Nguyễn Thị Phương Linh, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh An Giang cho biết, tỉnh sẽ chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng dạy tiếng dân tộc; tập huấn nghiệp vụ sư phạm, phương pháp truyền đạt và kỹ năng tổ chức lớp học. Tỉnh phát huy vai trò của các vị sư sãi, achar, giáo cả, phó giáo cả và người có uy tín, am hiểu ngôn ngữ, văn hóa trong cộng đồng để tham gia truyền dạy cho thế hệ trẻ.

Đặc biệt, tỉnh sẽ tập trung rà soát, đánh giá nhu cầu sử dụng sách giáo khoa, giáo trình tại các điểm dạy để kịp thời bổ sung tài liệu còn thiếu, nhất là đối với giáo trình dạy chữ Khmer. Đối với chữ Hoa và chữ Chăm, tỉnh nghiên cứu xây dựng, cung cấp tài liệu giảng dạy thống nhất, phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và trình độ người học. Qua đó bảo đảm tính khoa học, dễ tiếp thu và thuận lợi trong quá trình giảng dạy.

Cùng với việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng dạy, tỉnh An Giang sẽ huy động các nguồn lực để cải thiện phòng học, bàn ghế, bảng viết và trang thiết bị phục vụ giảng dạy tại các chùa, thánh đường, trường học và điểm sinh hoạt cộng đồng. Các lớp học được tổ chức linh hoạt theo độ tuổi, trình độ và điều kiện sinh hoạt của người học; kết hợp dạy tiếng nói, chữ viết với hoạt động văn hóa, văn nghệ và sinh hoạt cộng đồng. Tỉnh cũng từng bước ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng tài liệu điện tử, bài giảng trực quan nhằm tạo hứng thú, nâng cao khả năng tiếp thu và sử dụng tiếng mẹ đẻ.

An Giang cũng phát huy vai trò của các cơ sở tôn giáo, Hội Tương tế người Hoa, tổ chức cộng đồng và người có uy tín trong vận động đồng bào tham gia học tập; đồng thời tổ chức các hoạt động giao lưu, hội thi đọc, viết, kể chuyện bằng tiếng dân tộc để khuyến khích thế hệ trẻ sử dụng và tiếp nối việc truyền dạy tiếng mẹ đẻ. Việc duy trì, mở rộng các lớp học không chỉ tạo cơ hội học tập mà còn góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa, phát huy giá trị các dân tộc và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bài, ảnh: Thanh Sang/TTXVN
Dân tộc Chăm

Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...

Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.

Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).

Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.

Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.

Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.

Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.

Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.

Vào dịp lễ Ramưwan, nam nữ người Chăm thường khoác lên mình trang phục truyền thống với nhiều sắc màu thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng người Chăm. Ảnh Nguyễn Thanh.jpg
Vào dịp lễ Ramưwan, nam nữ người Chăm thường khoác lên mình trang phục truyền thống với nhiều sắc màu thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng người Chăm. Ảnh Nguyễn Thanh

Ở: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.

Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...

Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.

Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ. 

Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà. 

Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.

Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.

Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo. 

Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp. 

Thiếu nữ Chăm biểu diễn điệu múa truyền thống trong lễ hội Katê. Ảnh Nguyễn Thanh.jpg
Thiếu nữ Chăm biểu diễn điệu múa truyền thống trong lễ hội Katê. Ảnh Nguyễn Thanh

Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.  

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Chăm
Dân tộc Hoa

Tên gọi khác: Khách, Hán, Tàu.

Nhóm địa phương: Quảng Ðông, Quảng Tây, Hải Nam, Triều Châu, Phúc Kiến, Sang Phang, Xìa Phống, Thoòng Nhằn, Minh Hương, Hẹ...

Dân số: 823.071 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Hán (Ngữ hệ Hán - Tạng).

Lịch sử: Người Hoa di cư đến Việt Nam vào những thời điểm khác nhau từ thế kỷ XVI, và sau này vào cuối thời Minh, đầu thời Thanh, kéo dài cho đến nửa đầu thế kỷ XX.

Hoạt động sản xuất: Người Hoa ở vùng nông thôn chủ yếu sống bằng nghề nông, coi lúa nước là đối tượng canh tác chính. Ở các thành phố, thị xã, thị trấn họ làm nghề dịch vụ, buôn bán... Tiểu thủ công nghiệp khá phát triển như nghề gốm (Quảng Ninh, Sông Bé, Ðồng Nai), làm giấy súc, làm nhang (Thành phố Hồ Chí Minh)... Một bộ phận người Hoa cư trú ở ven biển sống chủ yếu bằng nghề làm muối và đánh cá. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, người Hoa luôn coi trọng chữ "tín".

Ăn: Lương thực chính là gạo, nhưng trong bữa ăn thường có các loại như mì sào, hủ tiếu... Ở các gia đình bình dân, buổi sáng điểm tâm bằng cháo trắng với trứng vịt muối, còn những nhà khá giả hơn là hủ tiếu, bánh bao, xíu mại... Người Hoa có kỹ thuật nấu ăn giỏi, thích các món ăn xào mỡ với gia vị.

Thức uống của người Hoa ngoài tác dụng giải khát còn là loại thuốc mát, bồi dưỡng "lục phủ, ngũ tạng". Các loại trà sâm, hoa cúc... là những thứ thông dụng trong mọi gia đình. Những dịp hội hè, lễ, tết nam giới cũng quen dùng rượu. Thuốc lá được nhiều người hút, kể cả phụ nữ, nhất kà những người phụ nữ có tuổi.

Mặc: Những trang phục gọi là truyền thống của người Hoa hiện chỉ còn thấy ở một số người có tuổi hay trong các nghi lễ cưới xin, tang ma. Phụ nữ thường mặc áo cổ viền cao, cài khuy một bên, xẻ tà cao hoặc một chiếc áo "sườn xám" may dài, ôm ngang hông, xẻ tà dưới phần đùi. Màu sắc trang phục của họ, nhất là các thiếu nữ thích màu hồng hoặc màu đỏ, cùng với các sắc màu đậm. Ðàn ông mặc áo màu đen hay xanh đậm, cài khuy vải một bên, vai liền cổ đứng, xẻ tà hoặc kiểu áo tứ thân, xẻ giữa, cổ đứng, vai liền, có túi. Phụ nữ thích dùng đồ trang sức, đặc biệt là vòng tay (bằng đồng, vàng, đá, ngọc...), bông tai, dây chuyền... Ðàn ông thích bịt răng vàng và xem như một lối trang sức.

Ở: Những người làm nghề nông thường sống thành thôn xóm. Làng thường ở ven chân núi, trong cánh đồng, trải dài trên bờ biển, gần nguồn nước, giao thông thuận tiện. Trong làng, nhà ở bố trí sát nhau theo dòng họ. Ở thành thị họ thường sống tập trung trong các khu phố riêng.

Nhà cửa thường có 3 loại: nhà 3 gian hai chái, nhà chữ Môn và chữ Khẩu. Nhà thường xây bằng đá, gạch mộc hay trình đất, lợp ngói máng hay là quế, lá tre, phên lứa...

Nổi bật trong nhà ở là các bàn thờ tổ tiên, dòng họ, thờ Phật và các vị thần cùng các câu đối, liễn, các giấy hồng chữ Hán với nội dung cầu phúc, cầu lợi, cầu bình yên.

Quan hệ xã hội: Xã hội phân hoá giai cấp sâu sắc và mang tính phụ quyền cao.

Mối quan hệ với những người cùng họ được hết sức coi trọng. Mỗi một dòng họ có một từ đường để thờ cúng. Hàng năm vào một ngày nhất định, những người cùng họ tụ tập tại từ đường để làm lễ giỗ tộc họ. Những hoạt động kinh doanh, sản xuất thường có các hội nghề nghiệp tương ứng. Những hội này đều có một vị tổ và một ngày giỗ tổ trong năm.

Gia đình được xây dựng theo chế độ một vợ một chồng khá bền vững và mang tính phụ hệ. Người Hoa thường dựng vợ gả chồng cho con trong cùng một nhóm địa phương. Trưởng họ, ông mối, các chức dịch đóng vai trò khá quan trọng trong hôn nhân. Hiện nay, phụ nữ xây dựng gia đình khá muộn (tuổi cưới trung bình là 28, 30) và số con ít nhất (trung bình một phụ nữ sinh 2 hoặc 3 con).

Lễ tết: Trong một năm có nhiều ngày lễ tết: Nguyên đán, Nguyên tiêu, Thanh minh, Ðoan ngọ, Trung nguyên, Trung thu.

Tết Nguyên đán vào những năm cũ chuyển sang năm mới theo âm lịch và kéo dài tới ngày rằm tháng giêng (tết Nguyên tiêu). Lễ Nguyên tiêu là đặc trưng lễ tết của người Hoa, mọi hoạt động tập trung nhất của tín ngưỡng và văn hoá truyền thống đều được biểu hiện trong dịp này.

Thờ cúng: Nổi bật trong các tín ngưỡng dân gian là thờ cúng tổ tiên, gia tộc, dòng họ, thờ cúng các vị thần phù hộ (thần bếp, thổ địa, thần tài...) và một số vị thánh và bồ tát (Quan Công, bà Thiên Hậu, ông Bổn, Nam Hải Quan Âm...)

Hệ thống chùa miếu khá phát triển. Chùa miếu của người Hoa thường gắn liền với các hội quán, trường học. Ðó cũng là nơi sinh hoạt văn hoá cộng đồng, nơi diễn ra các hội lễ.

Học: Chữ Hán được dạy và học trong các trường phổ thông.

Văn nghệ: Sinh hoạt văn hoá truyền thống của người Hoa có nhiều thể loại như hát, múa, hài kịch... với nhiều loại nhạc cụ: tiêu, sáo, các loại đàn (tỳ bà, nhị, nguyệt...), chập choã... Hát "sơn ca" (sán cố) là hình thức được nhiều người ưa chuộng, nhất là tầng lớp thanh niên. Tổ chức văn nghệ dân gian truyền thống mang tính nghiệp dư đã có từ lâu là các "nhạc xã".

Múa lân, sư tử, rồng... là những loại hình nghệ thuật mang tính quần chúng sâu rộng được trình diễn hàng năm, vào những ngày lễ lớn, ngày lễ tết.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Hoa
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Ứng dụng công nghệ số vào các trường học ở vùng khó khăn

Ứng dụng công nghệ số vào các trường học ở vùng khó khăn

Vượt qua những khó khăn về cơ sở vật chất và áp lực từ mô hình quy mô lớn sau sáp nhập, đội ngũ cán bộ, giáo viên tại các trường học vùng khó khăn và các cơ sở giáo dục tỉnh Hà Tĩnh đang nỗ lực tự học, ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) vào bài giảng cũng như công tác quản trị.

Phật giáo đồng hành cùng dân tộc bằng những việc làm thiết thực

Phật giáo đồng hành cùng dân tộc bằng những việc làm thiết thực

Phát huy tinh thần đoàn kết, chăm lo người yếu thế, gìn giữ văn hóa và nâng cao trách nhiệm là những nội dung Phật giáo chú trọng. Qua các hoạt động cụ thể, Giáo hội Phật giáo Việt Nam tiếp tục vận động tăng ni, Phật tử sống tốt đời, đẹp đạo, đồng hành cùng dân tộc.

Củng cố thế trận biên phòng từ lòng dân

Củng cố thế trận biên phòng từ lòng dân

Không chỉ tăng cường tuần tra, kiểm soát, chủ động đấu tranh với các loại tội phạm, lực lượng Bộ đội Biên phòng Lạng Sơn còn chú trọng tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành pháp luật, tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.

Lạng Sơn động thổ xây cầu hơn 157 tỷ đồng bắc qua sông Kỳ Cùng

Lạng Sơn động thổ xây cầu hơn 157 tỷ đồng bắc qua sông Kỳ Cùng

Ngày 4/11, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông tỉnh Lạng Sơn tổ chức động thổ Dự án đầu tư xây dựng cầu Cửa Nam nối hai bờ sông Kỳ Cùng góp phần kết nối không gian phát triển, tạo động lực xây dựng đô thị Lạng Sơn ngày càng văn minh, hiện đại.

Giải quyết dứt điểm 'nút thắt' mặt bằng trường nội trú liên cấp giai đoạn 2

Giải quyết dứt điểm 'nút thắt' mặt bằng trường nội trú liên cấp giai đoạn 2

Tỉnh Cao Bằng đang khẩn trương chuẩn bị triển khai 7 dự án trường nội trú liên cấp giai đoạn 2 tại các xã biên giới. Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng Lê Hải Hòa yêu cầu các cấp, ngành nâng cao trách nhiệm phối hợp, kiên quyết loại bỏ nhà thầu yếu kém và đẩy nhanh tiến độ hoàn thành theo kế hoạch.

Mở thêm cơ hội học tập cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn

Mở thêm cơ hội học tập cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn

Việc thành lập Trường Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông nội trú Văn hóa Công an nhân dân tại Tuyên Quang được kỳ vọng mở thêm cơ hội học tập cho con em gia đình chính sách, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, nhất là học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và khu vực biên giới.

Không để khoảng cách địa lý làm khó người dân tiếp cận dịch vụ công

Không để khoảng cách địa lý làm khó người dân tiếp cận dịch vụ công

Sau sáp nhập, địa giới hành chính cấp xã mở rộng khiến việc đi lại để giải quyết thủ tục hành chính của người dân gặp khó khăn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, nhóm người yếu thế. Do đó, một số xã phía Tây tỉnh Quảng Ngãi đã triển khai cách làm linh hoạt, đưa dịch vụ hành chính đến gần người dân.