Cảnh sắc hồ Lắk (Đắk Lắk)

Hồ Lắk tại xã Liên Sơn Lắk (Đắk Lắk) là hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất và đẹp nhất Tây Nguyên. Hồ Lắk còn gắn với những sử thi của cư dân người M'Nông bản địa với câu chuyện về chàng trai mồ côi Lak Liêng và lươn thần - biểu tượng mang đến nguồn nước và sự sống cho buôn làng.

ho1-2805.jpg
Hồ Lắk thu hút du khách với cảnh sắc thiên nhiên, cuộc sống, văn hóa đầy bản sắc của đồng bào cư dân bản địa.
ho2-2805.jpg
Người M'Nông đánh bắt cá trong lòng hồ Lắk bằng thuyền độc mộc.
ho3-2805.jpg
Du khách nước ngoài tham quan hồ Lắk (Đắk Lắk).
ho4-2805.jpg
Cảnh sắc hồ Lắk (Đắk Lắk).
ho5-2805.jpg
Cảnh sắc hồ Lắk (Đắk Lắk).
ho6-2805.jpg
Trẻ em vui chơi tại hồ Lắk.
ho7-2805.jpg
Hoàng hôn trên Hồ Lắk.
ho8-2805.jpg
Ngọn đồi tuyệt đẹp nằm bên hồ Lắk (Đắk Lắk).
Kha Phạm/TTXVN
Dân tộc M'nông

Tên tự gọi: Mnông.

Nhóm địa phương: Mnông Gar, Mnông Nông, Mnông Chil, Mnông Kuênh, Mnông Rlâm, Mnông Preh, Mnông Prâng, Mnông Ðíp, Mnông Bhiêt, Mnông Sitô, Mnông Bu Ðâng, Mnông Bu Nor, Mnông Bu Ðêh...

Dân số: 102.741 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Lịch sử: Người Mnông là cư dân sinh tụ lâu đời ở miền trung Tây Nguyên nước ta.

Hoạt động sản xuất: Người Mnông trồng lúa nương trên rẫy bằng phương pháp "đao canh hoả chủng": phát, đốt rồi chọc lỗ tra hạt; thu hoạch theo lối tuốt lúa bằng tay. Họ trồng lúa nước bằng phương pháp "đao canh thuỷ nậu" trên những vùng đầm lầy, dùng trâu để quần ruộng cho nhão đất rồi gieo hạt, không cấy mạ như ở đồng bằng. Ðiều đáng lưu ý là vai trò của cái cuốc trong nền nông nghiệp cổ truyền Mnông. Ði đôi với nền sản xuất nông phẩm, việc săn bắn, hái lượm còn giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày.

Sản xuất thủ công nghiệp gia đình phổ biến là nghề đan đồ gia dụng bằng nguyên liệu mây, tre, lá; thứ đến là nghề trồng bông dệt vải do phụ nữ đảm nhiệm. Trong mỗi làng còn có một số người biết làm gốm thô, nặn bằng tay và nung lộ thiên. Sản phẩm là nồi đất các loại, bát ăn cơm và vò, hũ. Nghề rèn nông cụ không được phát triển lắm trong các vùng Mnông. Ðặc biệt ở vùng Buôn Ðôn, cư dân có nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng rất nổi tiếng. Cho đến nay nghề này vẫn được tiếp tục duy trì tuy số voi săn bắt được hàng năm đã giảm đi đáng kể.

Ăn: Họ ăn cơm gạo tẻ nấu trong những nồi đất nung, xa xưa thì phổ biến là cơm lam (gạo nếp nấu trong ống nứa). Bữa ăn trưa ở trên ruộng rẫy thường là món cháo chua đựng trong những trái bầu khô. Thức ăn chủ yếu là muối ớt, canh rau rừng, thịt chim, thú và cá suối bắt được. Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm không phát triển. Rau củ được trồng trên rẫy để bổ sung cho nguồn thức ăn do hái lượm đem lại. Thức uống phổ biến là rượu cần.

Mặc: Về mùa nóng, đàn ông xưa kia thường đóng khố ở trần; còn đàn bà thì quấn váy tấm và cũng ở trần. Về mùa lạnh, họ khoác thêm trên mình một tấm mền, kiểu phục sức rất phổ biến ở Trường Sơn - Tây Nguyên. Hiện nay trong trang phục Mnông đã tiếp thu nhiều yếu tố Việt. Tập quán "cà răng căng tai" phổ biến trong xã hội cổ truyền, đến nay chỉ còn lại dấu ấn ở lứa tuổi những người cao niên.

Ở: Hiện nay người Mnông cư trú tập trung theo nhóm địa phương, chủ yếu ở các huyện: Lắc, Mdrắc, Ðắc Nông, Ðắc Mil, Krông Pách, Ea Súp, Buôn Ðôn... thuộc tỉnh Ðắk Lắk; một bộ phận cư trú ở phía bắc tỉnh Sông Bé và tây nam tỉnh Lâm Ðồng; địa bàn phân bố về phía tây đến tận miền đông Cam-pu-chia, giáp ranh với biên giới nước ta. Tuỳ theo vùng và từng nhóm địa phương mà họ xây cất nhà trệt hoặc nhà sàn.

Nhà trệt có mái tranh gần sát đất và nền đất là mặt bằng sinh hoạt, rất phổ biến ở nhóm Mnông Gar, Mnông Preh, Mnông Prâng... Còn nhà sàn thường là sàn thấp, chỉ cách mặt đất khoảng 0m70 đến1m00 và phổ biến ở nhóm Mnông Kuênh, Mnông Chil, Mnông Bhiêt... Riêng nhóm Mnông Rlâm ở vùng hồ Lắc xây cất nhà sàn cao theo kiến trúc của người Ê Ðê. Dù là nhà sàn hay nhà trệt thì mái vẫn là cỏ tranh: khung và sườn nhà được kết hợp 2 loại nguyên liệu là tre nứa và gỗ cây... Các bộ phận được liên kết bằng chạc, ngoãm, dây mây và dây rừng.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là cái gùi cõng trên lưng nhờ có 2 quai quàng qua đôi vai. Việc vận chuyển bằng voi là phương thức đặc biệt được chú trọng ở vùng người Mnông. Việc đi lại, vận chuyển trên sông, hồ có thuyền độc mộc.

Quan hệ xã hội: Ðơn vị cư trú cơ bản gọi là bon hay uôn, tương ứng với làng, xóm. Các gia đình trong làng có quan hệ láng giềng, quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân. Làng nhỏ có độ mươi nóc nhà, làng lớn có khi tập trung đến vài chục nóc. Quan hệ huyết thống ở đây tính theo dòng họ mẹ. Dấu vết của chế độ mẫu hệ còn rất đậm nét trong mọi quan hệ xã hội hiện nay. Song tập quán mẫu hệ đã và đang tan rã ở nhiều thang bậc khác nhau theo từng nhóm địa phương.

Trong xã hội cổ truyền người đứng đầu mỗi làng gọi là Rnút hay Kroanh bon, bên cạnh có người phụ tá gọi là Rnoi, Rnớp. Khi cần chiến đấu thì cử ra một chức sắc gọi là Né tăm lăm lở làm thủ lĩnh quân sự. Xã hội Mnông vận hành theo tập quán pháp và Tập quán pháp ca được truyền khẩu qua các thế hệ để làm chuẩn mực cho mọi ứng xử trong đời sống.

Cưới xin: Phụ nữ thường chủ động hơn trong việc hôn nhân. Lễ cưới do 2 bên cùng tổ chức. Sau hôn nhân phổ biến là cư trú phía nhà gái. Ở nhiều nhóm địa phương lại phổ biến hình thức luân cư song phương. Con sinh ra đều mang họ mẹ. Trong tập quán cưới xin có 3 nghi lễ là Sa ur, Tâm ốp và Tám nsông tương ứng với lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ thành hôn. Chế độ một vợ một chồng là quy tắc chặt chẽ trong quan hệ hôn nhân. Luật tục Mnông phạt vạ rất nghiêm khắc với tội loạn luân và ngoại tình.

Ma chay: Khi có người chết, cả làng nghỉ việc đồng áng để cùng lo mai táng, ma chay. Thi hài được quàn tại nhà khoảng 2 ngày đối với người chết già, chết vì bệnh tật. Họ rất kinh hãi và chối bỏ việc ma chay đối với mọi cái chết do tai nạn gây nên (chết đuối, ngã cây, rắn cắn, hổ vồ... và chết do chiến tranh, đâm chém). Những cái chết "bất đắc kỳ tử" như vừa nêu thì thi hài không được đem vào nhà mà phải mai táng tức khắc một cách thầm lặng. Thổ táng là hình thức duy nhất trong việc tang ma, không có tập quán cải táng. Mọi người chết đều được chia tài sản để mang về "lập nghiệp" ở thế giới của ông bà gọi là Phan.

Nhà mới: Khi một ngôi nhà được xây cất hoàn tất thì lễ khánh thành để vào nhà mới sẽ được tổ chức linh đình bằng một ngày tiệc mặn cúng hiến sinh heo. Sau bữa ăn rồi mới đến tiệc rượu cần rất rôm rả trong tiếng nhạc cồng chiêng.

Lễ tết: Lễ hội đâm trâu là lễ hội cổ truyền được coi trọng nhất. Kết thúc mùa thu hoạch lúa hàng năm, mỗi làng đều tổ chức tết ăn mừng cơm mới, tạ ơn trời đất và thần lúa. Trâu được hiến sinh trong hội lễ tưng bừng để chuẩn bị cho một mùa vụ mới tràn đầy hy vọng.

Lịch: Nông lịch cổ truyền Mnông tính theo lịch âm, dựa vào quy trình canh tác rẫy. Mỗi năm cũng có 12 tháng, mỗi tháng có từ 29 đến 30 ngày.

Học: Trong xã hội cổ truyền Mnông chưa có chữ viết, chỉ có văn chương truyền miệng. Việc giáo dục, học tập được thực hiện bằng phương pháp chỉ dẫn trực tiếp, làm mẫu noi theo, bắt chước. Thập kỷ gần đây mới xuất hiện chữ viết nhưng sự phổ biến rộng rãi đang vấp phải không ít trở ngại.

Văn nghệ: Kho tàng truyện cổ, đặc biệt là sử thi và tập quán pháp ca tiềm ẩn nhiều giá trị, đã và đang được khai thác giới thiệu. Tục ngữ, ca dao, dân ca rất phong phú. Nhạc cụ có cồng chiêng, kèn bầu, kèn sừng trâu, kèn môi, đàn độc huyền, đàn 8 dây, sáo dọc. Ðặc biệt là vỏ trái bầu khô được sử dụng một cách phổ biến để tạo nên bộ phận khuếch đại âm thanh trong nhiều nhạc cụ bằng tre, nứa. Người ta đã tìm thấy ở vùng cư trú của người Mnông bộ đàn đá nguyên thuỷ nổi tiếng từ giữa thế kỷ XX.

Chơi: Trẻ em thường thích chơi diều, đánh cù, bịt mắt bắt dê, chạy, nhảy...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc M'nông

Có thể bạn quan tâm

Động thổ nhà máy chế biến sâu cà phê đầu tiên ở Điện Biên

Động thổ nhà máy chế biến sâu cà phê đầu tiên ở Điện Biên

Ngày 11/7, tại xã Mường Ảng, tỉnh Điện Biên, Công ty cổ phần Cà phê Detech Điện Biên phối hợp với UBND xã Mường Ảng tổ chức động thổ Nhà máy chế biến sâu cà phê Detech Điện Biên. Đây là nhà máy đầu tiên ở tỉnh Điện Biên chế biến sâu hạt cà phê Arabica để tạo ra các sản phẩm chất lượng cao.

Sôi nổi Giải bóng đá nữ Mường Lai mở rộng

Sôi nổi Giải bóng đá nữ Mường Lai mở rộng

Sau 5 ngày tranh tài, sáng 7/11, tại sân vận động xã Mường Lai, tỉnh Lào Cai, trận chung kết Giải bóng đá nữ xã Mường Lai mở rộng lần thứ I năm 2026 giữa đội bóng Mường Lai và Yên Thành đã diễn ra với sự theo dõi của đông đảo người dân, du khách.

Phật giáo phát huy tinh thần phụng sự, đồng hành cùng đất nước phát triển

Phật giáo phát huy tinh thần phụng sự, đồng hành cùng đất nước phát triển

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn ghi nhận những đóng góp của Phật giáo trong xây dựng đất nước, chăm lo đời sống nhân dân; đồng thời kỳ vọng Giáo hội tiếp tục đổi mới, củng cố đoàn kết, phát huy nguồn lực tôn giáo, đồng hành cùng dân tộc trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Mưa lớn cục bộ gây thiệt hại tại Lào Cai

Mưa lớn cục bộ gây thiệt hại tại Lào Cai

Từ đêm 6/11 đến sáng ngày 7/11, một số địa phương tại Lào Cai có mưa lớn gây ngập lụt, sạt lở cục bộ ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt, sản xuất của nhân dân.

Hơn 60 nghìn lao động vùng miền núi Bắc Ninh được đào tạo nghề

Hơn 60 nghìn lao động vùng miền núi Bắc Ninh được đào tạo nghề

Những năm qua, cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp, dịch vụ và tạo việc làm ổn định cho người lao động, trong đó đặc biệt quan tâm khu vực đồng bào dân tộc thiểu số

Tìm biểu trưng mới cho vùng đất Điện Biên Phủ

Tìm biểu trưng mới cho vùng đất Điện Biên Phủ

Chiều 6/11, UBND tỉnh Điện Biên tổ chức Lễ phát động Cuộc thi sáng tác biểu trưng (logo) tỉnh Điện Biên, nhằm lựa chọn tác phẩm tiêu biểu, làm cơ sở trình cấp có thẩm quyền xem xét, lựa chọn biểu trưng chính thức của tỉnh.