Không chỉ là không gian sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng người Hoa, mà Hội quán còn là những “bảo tàng sống” lưu giữ ký ức lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, góp phần tô điểm cho bức tranh văn hóa đa sắc màu của TP Hồ Chí Minh.
Phường Chợ Lớn từ lâu được biết đến là một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng, gắn liền với văn hóa truyền thống của cộng đồng người Hoa. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, Chợ Lớn vẫn giữ được vẻ đẹp nguyên bản với nhiều kiến trúc nghệ thuật độc đáo có tuổi đời hàng trăm năm.
Theo UBND phường Chợ Lớn, trên địa bàn hiện có 38 cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng, trong đó có 11 hội quán của cộng đồng người Hoa. Đây là những thiết chế văn hóa - xã hội được hình thành từ rất sớm, gắn liền với quá trình định cư, giao thương và phát triển của người Hoa tại vùng đất Sài Gòn - Chợ Lớn.
Vừa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, các hội quán còn là trung tâm gắn kết cộng đồng, nơi đồng hương gặp gỡ, hỗ trợ nhau trong cuộc sống, gìn giữ tiếng nói, phong tục, tập quán và truyền lại các giá trị văn hóa truyền thống cho thế hệ trẻ.
Trong số những hội quán này có 7 hội quán đã được công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia và một hội quán được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp Thành phố. Việc bảo tồn, trùng tu các công trình đều được thực hiện theo đúng quy định, góp phần gìn giữ những giá trị kiến trúc, lịch sử và nghệ thuật đặc sắc đã tồn tại qua nhiều thế kỷ.
Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, hội quán người Hoa không chỉ là chỗ dựa tinh thần của cộng đồng người Hoa, mà còn là “từ điển sống” lưu giữ các tư liệu quý phục vụ công tác nghiên cứu lịch sử, văn hóa tín ngưỡng. Điểm nổi bật của các hội quán tại phường Chợ Lớn là kiến trúc mang đậm dấu ấn văn hóa truyền thống của đồng bào người Hoa.
Mỗi công trình ở đây đều được xây dựng theo phong cách rất riêng với mái ngói nhiều tầng, hai đầu đao cong vút hình mũi thuyền tạo nên vẻ đẹp vừa uy nghiêm, cổ kính, vừa thanh thoát. Mái ngói thường được lợp theo kiểu âm dương với các gam màu xanh hoặc vàng, phản ánh quan niệm hài hòa giữa trời và đất trong kiến trúc truyền thống phương Đông.
Không chỉ đặc sắc về kết cấu kiến trúc, nghệ thuật trang trí tại các hội quán cũng đạt đến trình độ tinh xảo. Cụ thể, trên mái và các bức phù điêu xuất hiện dày đặc hình tượng tứ linh gồm long, lân, quy, phụng; tiên đồng, ngọc nữ cùng nhiều tích truyện dân gian, điển tích lịch sử được các nghệ nhân khéo léo thể hiện bằng kỹ thuật chạm khắc, đắp nổi và gốm sứ công phu.
Ngay từ cổng vào, hầu hết các hội quán đều có cặp sư tử đá được điêu khắc sinh động, uy nghiêm, mang ý nghĩa trấn giữ và bảo vệ không gian linh thiêng. Bên trong khuôn viên là những chậu bonsai, hòn non bộ, hồ cá phong thủy được chăm chút cẩn thận, tạo nên không gian thanh tịnh, tách biệt với nhịp sống sôi động của đô thị hiện đại.
Bà Ngô Lệ Châu, Phó Trưởng ban quản trị Hội quán Ôn Lăng, cho biết Chợ Lớn từ lâu được xem là trung tâm văn hóa đặc sắc của cộng đồng người Hoa tại TP Hồ Chí Minh. Đến nay, khu vực này vẫn lưu giữ hệ thống hội quán có lịch sử hàng trăm năm, mang giá trị nổi bật về lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật.
Theo bà Châu, nhiều Hội quán tiêu biểu như Ôn Lăng, Tuệ Thành, Nghĩa An, Hội Nhị Phủ, Hải Nam, Nghĩa Nhuận, Lệ Châu (nhà thờ Tổ thợ bạc), Hà Chương… vừa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, vừa là địa chỉ văn hóa nổi tiếng, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.
“Các hội quán đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh của cộng đồng người Hoa; đồng thời là điểm đến để du khách tìm hiểu về lịch sử hình thành Chợ Lớn và những giá trị văn hóa truyền thống vẫn được gìn giữ đến ngày nay”, bà Châu chia sẻ.
Bà Châu cho biết thêm, một trong những yếu tố góp phần tạo nên sức sống bền vững của hội quán là việc duy trì thường xuyên các lễ hội truyền thống. Hằng năm, các hội quán đều tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, tín ngưỡng cổ truyền như Tết Nguyên tiêu, lễ vía Quan Công, lễ cúng Ông Bổn...
Những lễ hội này không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân mà còn góp phần bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, tăng cường sự gắn kết cộng đồng và tạo nên những sản phẩm du lịch đặc trưng cho khu vực Chợ Lớn và TP Hồ Chí Minh.
Theo các vị cao niên trong cộng đồng người Hoa ở Chợ Lớn, giá trị của hội quán không chỉ dừng lại ở những công trình kiến trúc cổ mà còn ở những tập quán, lễ hội, tín ngưỡng và đời sống văn hóa được cộng đồng gìn giữ liên tục qua nhiều thế hệ.
Để bảo tồn những giá trị quý báu này, các ban quản trị hội quán luôn chủ động thực hiện công tác duy tu, sửa chữa định kỳ nhằm bảo đảm công trình được gìn giữ nguyên trạng, hạn chế tối đa sự xuống cấp theo thời gian.
“Đối với chúng tôi, công tác bảo tồn, duy tu và sửa chữa kiến trúc hội quán luôn được thực hiện thường xuyên. Đây không chỉ là trách nhiệm mà còn là niềm tự hào của cộng đồng người Hoa. Song song với đó, chúng tôi phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương trong việc đón tiếp du khách đến tham quan, tìm hiểu về lịch sử, văn hóa và đời sống tín ngưỡng của người Hoa tại Chợ Lớn”, bà Ngô Lệ Châu cho biết thêm.
Tên gọi khác: Khách, Hán, Tàu.
Nhóm địa phương: Quảng Ðông, Quảng Tây, Hải Nam, Triều Châu, Phúc Kiến, Sang Phang, Xìa Phống, Thoòng Nhằn, Minh Hương, Hẹ...
Dân số: 823.071 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Hán (Ngữ hệ Hán - Tạng).
Lịch sử: Người Hoa di cư đến Việt Nam vào những thời điểm khác nhau từ thế kỷ XVI, và sau này vào cuối thời Minh, đầu thời Thanh, kéo dài cho đến nửa đầu thế kỷ XX.
Hoạt động sản xuất: Người Hoa ở vùng nông thôn chủ yếu sống bằng nghề nông, coi lúa nước là đối tượng canh tác chính. Ở các thành phố, thị xã, thị trấn họ làm nghề dịch vụ, buôn bán... Tiểu thủ công nghiệp khá phát triển như nghề gốm (Quảng Ninh, Sông Bé, Ðồng Nai), làm giấy súc, làm nhang (Thành phố Hồ Chí Minh)... Một bộ phận người Hoa cư trú ở ven biển sống chủ yếu bằng nghề làm muối và đánh cá. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, người Hoa luôn coi trọng chữ "tín".
Ăn: Lương thực chính là gạo, nhưng trong bữa ăn thường có các loại như mì sào, hủ tiếu... Ở các gia đình bình dân, buổi sáng điểm tâm bằng cháo trắng với trứng vịt muối, còn những nhà khá giả hơn là hủ tiếu, bánh bao, xíu mại... Người Hoa có kỹ thuật nấu ăn giỏi, thích các món ăn xào mỡ với gia vị.
Thức uống của người Hoa ngoài tác dụng giải khát còn là loại thuốc mát, bồi dưỡng "lục phủ, ngũ tạng". Các loại trà sâm, hoa cúc... là những thứ thông dụng trong mọi gia đình. Những dịp hội hè, lễ, tết nam giới cũng quen dùng rượu. Thuốc lá được nhiều người hút, kể cả phụ nữ, nhất kà những người phụ nữ có tuổi.
Mặc: Những trang phục gọi là truyền thống của người Hoa hiện chỉ còn thấy ở một số người có tuổi hay trong các nghi lễ cưới xin, tang ma. Phụ nữ thường mặc áo cổ viền cao, cài khuy một bên, xẻ tà cao hoặc một chiếc áo "sườn xám" may dài, ôm ngang hông, xẻ tà dưới phần đùi. Màu sắc trang phục của họ, nhất là các thiếu nữ thích màu hồng hoặc màu đỏ, cùng với các sắc màu đậm. Ðàn ông mặc áo màu đen hay xanh đậm, cài khuy vải một bên, vai liền cổ đứng, xẻ tà hoặc kiểu áo tứ thân, xẻ giữa, cổ đứng, vai liền, có túi. Phụ nữ thích dùng đồ trang sức, đặc biệt là vòng tay (bằng đồng, vàng, đá, ngọc...), bông tai, dây chuyền... Ðàn ông thích bịt răng vàng và xem như một lối trang sức.
Ở: Những người làm nghề nông thường sống thành thôn xóm. Làng thường ở ven chân núi, trong cánh đồng, trải dài trên bờ biển, gần nguồn nước, giao thông thuận tiện. Trong làng, nhà ở bố trí sát nhau theo dòng họ. Ở thành thị họ thường sống tập trung trong các khu phố riêng.
Nhà cửa thường có 3 loại: nhà 3 gian hai chái, nhà chữ Môn và chữ Khẩu. Nhà thường xây bằng đá, gạch mộc hay trình đất, lợp ngói máng hay là quế, lá tre, phên lứa...
Nổi bật trong nhà ở là các bàn thờ tổ tiên, dòng họ, thờ Phật và các vị thần cùng các câu đối, liễn, các giấy hồng chữ Hán với nội dung cầu phúc, cầu lợi, cầu bình yên.
Quan hệ xã hội: Xã hội phân hoá giai cấp sâu sắc và mang tính phụ quyền cao.
Mối quan hệ với những người cùng họ được hết sức coi trọng. Mỗi một dòng họ có một từ đường để thờ cúng. Hàng năm vào một ngày nhất định, những người cùng họ tụ tập tại từ đường để làm lễ giỗ tộc họ. Những hoạt động kinh doanh, sản xuất thường có các hội nghề nghiệp tương ứng. Những hội này đều có một vị tổ và một ngày giỗ tổ trong năm.
Gia đình được xây dựng theo chế độ một vợ một chồng khá bền vững và mang tính phụ hệ. Người Hoa thường dựng vợ gả chồng cho con trong cùng một nhóm địa phương. Trưởng họ, ông mối, các chức dịch đóng vai trò khá quan trọng trong hôn nhân. Hiện nay, phụ nữ xây dựng gia đình khá muộn (tuổi cưới trung bình là 28, 30) và số con ít nhất (trung bình một phụ nữ sinh 2 hoặc 3 con).
Lễ tết: Trong một năm có nhiều ngày lễ tết: Nguyên đán, Nguyên tiêu, Thanh minh, Ðoan ngọ, Trung nguyên, Trung thu.
Tết Nguyên đán vào những năm cũ chuyển sang năm mới theo âm lịch và kéo dài tới ngày rằm tháng giêng (tết Nguyên tiêu). Lễ Nguyên tiêu là đặc trưng lễ tết của người Hoa, mọi hoạt động tập trung nhất của tín ngưỡng và văn hoá truyền thống đều được biểu hiện trong dịp này.
Thờ cúng: Nổi bật trong các tín ngưỡng dân gian là thờ cúng tổ tiên, gia tộc, dòng họ, thờ cúng các vị thần phù hộ (thần bếp, thổ địa, thần tài...) và một số vị thánh và bồ tát (Quan Công, bà Thiên Hậu, ông Bổn, Nam Hải Quan Âm...)
Hệ thống chùa miếu khá phát triển. Chùa miếu của người Hoa thường gắn liền với các hội quán, trường học. Ðó cũng là nơi sinh hoạt văn hoá cộng đồng, nơi diễn ra các hội lễ.
Học: Chữ Hán được dạy và học trong các trường phổ thông.
Văn nghệ: Sinh hoạt văn hoá truyền thống của người Hoa có nhiều thể loại như hát, múa, hài kịch... với nhiều loại nhạc cụ: tiêu, sáo, các loại đàn (tỳ bà, nhị, nguyệt...), chập choã... Hát "sơn ca" (sán cố) là hình thức được nhiều người ưa chuộng, nhất là tầng lớp thanh niên. Tổ chức văn nghệ dân gian truyền thống mang tính nghiệp dư đã có từ lâu là các "nhạc xã".
Múa lân, sư tử, rồng... là những loại hình nghệ thuật mang tính quần chúng sâu rộng được trình diễn hàng năm, vào những ngày lễ lớn, ngày lễ tết.
Theo cema.gov.vn