Tây Ninh: Lớp học tiếng Việt giúp trẻ em dân tộc tự tin vào lớp Một

Tỉnh Tây Ninh hiện có 17 dân tộc thiểu số sinh sống với 13.594 hộ và hơn 36.900 người, chiếm khoảng 1,13% dân số toàn tỉnh. Trong hành trình xây dựng nông thôn mới và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vùng biên, những lớp học tiếng Việt dành cho trẻ em dân tộc thiểu số trước khi vào lớp Một ở Tây Ninh được triển khai nhằm tháo gỡ rào cản ngôn ngữ, tạo cơ hội tiếp cận tri thức công bằng cho trẻ em dân tộc thiểu số, góp phần hình thành thế hệ công dân mới có tri thức, nhưng vẫn gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.

tieng-viet-080526.jpg
Cô Thị Saly Has, giáo viên người dân tộc Chăm của Trường Tiểu học Lê Văn Tám, tận tình hướng dẫn học sinh luyện viết tiếng Việt.

Mỗi bài giảng "đi qua" hai ngôn ngữ

Tại khu phố 12, phường Tân Ninh, nơi có đông đồng bào dân tộc Chăm sinh sống, tiếng mẹ đẻ vẫn hiện diện trong từng nếp sinh hoạt thường ngày. Từ bữa cơm gia đình đến các nghi lễ truyền thống. Ngôn ngữ dân tộc không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là sợi dây gìn giữ hồn cốt văn hóa qua nhiều thế hệ. Chính sự gắn bó bền chặt ấy lại vô tình tạo nên một “tiểu vùng ngôn ngữ” riêng biệt. Nhiều trẻ em lớn lên trong môi trường thuần tiếng mẹ đẻ nên khi bước vào lớp Một, tiếng Việt trở thành một thế giới hoàn toàn xa lạ.

Trong lớp học nhỏ của Trường Tiểu học Lê Văn Tám, phía sau tiếng ê a đánh vần là sự kiên trì đặc biệt của giáo viên khi mỗi bài giảng phải "đi qua" hai ngôn ngữ.

Cô giáo Thị Saly Has, người dân tộc Chăm (giáo viên Trường Tiểu học Lê Văn Tám, phường Tân Ninh) cho rằng các lớp học này là chiếc cầu nối giữa tiếng mẹ đẻ và tiếng phổ thông. Với cô, dạy học không đơn thuần là truyền đạt kiến thức mà còn là hành trình “dịch chuyển ngôn ngữ”. “Nếu chỉ nói tiếng Việt, các em sẽ không hiểu. Tôi phải dùng tiếng Chăm để giải thích, rồi từ đó dẫn dắt các em quay lại tiếng phổ thông”, cô Saly Has chia sẻ.

Theo cô Thị Saly Has, có những từ ngữ tưởng chừng rất đơn giản nhưng giáo viên phải mất nhiều thời gian để giải thích. Vì vậy, mỗi bài học không chỉ dài hơn mà còn đòi hỏi sự kiên nhẫn và tâm huyết nhiều hơn so với lớp học thông thường. Đổi lại, sự tiến bộ của học sinh hiện lên từng ngày. Từ việc rụt rè, e ngại giao tiếp, các em dần mạnh dạn hơn trong học tập và sinh hoạt.

Em Abu Bakar, (học sinh lớp 1C, Trường Tiểu học Lê Văn Tám, phường Tân Ninh) vui vẻ khoe bài viết tiếng Việt của mình và nói: “Con thích học tiếng Việt. Cô dạy dễ hiểu, chỗ nào khó cô cũng giải thích lại bằng tiếng của con. Giờ con không sợ nữa”. Niềm vui ấy không chỉ là chuyện biết đọc, biết viết. Đó còn là khoảnh khắc những đứa trẻ bắt đầu tự tin hòa nhập với bạn bè, cảm nhận mình thuộc về môi trường học đường.

Theo thống kê năm học 2025 - 2026, toàn tỉnh Tây Ninh có 4.693 học sinh tiểu học là người dân tộc thiểu số, trong đó hơn 1.000 em chuẩn bị bước vào lớp Một.

Học sinh phân bố rải rác tại 78/96 xã, phường, trong các cộng đồng Khmer, Chăm, Hoa sinh sống đan xen. Điều này khiến việc tổ chức các lớp học tập trung gặp nhiều khó khăn. Thực tế cho thấy, dù phần lớn trẻ đã qua bậc mầm non, rào cản ngôn ngữ vẫn là trở ngại lớn. Nhiều em chưa thành thạo tiếng Việt, dẫn đến khó khăn trong tiếp thu bài giảng, giao tiếp và hòa nhập môi trường học tập.

tieng-viet2-080526.jpg
Học sinh dân tộc Chăm tại Trường Tiểu học Lê Văn Tám được giáo viên hướng dẫn luyện đọc, luyện viết tiếng Việt.

Bà Trương Hoàng Thanh Thảo, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Lê Văn Tám cho rằng, việc phổ cập tiếng Việt cho trẻ trước khi vào lớp Một không chỉ là bổ sung kiến thức mà còn nhằm lấp đầy khoảng trống nền tảng. Nhiều em chưa từng tiếp xúc với tiếng Việt một cách bài bản. Các em bước vào lớp Một như bước vào một môi trường hoàn toàn mới. Không hiểu ngôn ngữ, các em dễ mất tự tin, khó tiếp thu bài học.

Nếu rào cản này không được tháo gỡ từ sớm, hành trình học tập của các em sẽ gặp nhiều trở ngại. Xa hơn, điều đó còn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong tương lai.

Chắp cánh tri thức - mở lối cho tương lai

Xuất phát từ thực tiễn địa phương, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tây Ninh đã triển khai chính sách dạy và học tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số trước khi vào lớp Một, nhằm tạo điều kiện để trẻ em dân tộc thiểu số được học tập, rèn luyện kỹ năng tiếng Việt phù hợp với lứa tuổi. Qua đó, giúp các em chuẩn bị tốt về ngôn ngữ, tâm thế và kỹ năng học tập, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

Theo ông Bùi Tuấn Hải, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tây Ninh, nếu không có sự hỗ trợ kịp thời ngay từ giai đoạn đầu, trẻ em dân tộc thiểu số rất dễ gặp khó khăn khi bước vào lớp Một, đặc biệt trong việc sử dụng tiếng Việt - công cụ quan trọng để tiếp thu kiến thức. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến kết quả học tập ban đầu mà còn tác động lâu dài đến sự phát triển toàn diện của trẻ. Điểm đáng chú ý của chương trình là không tiếp cận theo kiểu “dạy chữ” truyền thống mà ưu tiên phương pháp phù hợp với tâm lý lứa tuổi. Trẻ được làm quen với tiếng Việt thông qua các hoạt động nghe, nói, giao tiếp, vui chơi.

Chương trình được thiết kế với 18 chủ điểm gần gũi như: Làm quen tiếng Việt, Em và gia đình, Em và bạn bè, Em và bản làng, Em với thiên nhiên… Qua đó, trẻ từng bước hình thành sự tự tin khi sử dụng tiếng phổ thông. “Ngôn ngữ không chỉ là công cụ học tập mà còn là cầu nối văn hóa. Khi các em hiểu và sử dụng tốt tiếng Việt, các em sẽ tự tin hơn nhưng đồng thời vẫn giữ được bản sắc dân tộc mình”, ông Bùi Tuấn Hải nhấn mạnh.

Song song với đó, ngành Giáo dục đặc biệt quan tâm đến đội ngũ giáo viên, ưu tiên lựa chọn những người có năng lực chuyên môn và am hiểu văn hóa địa phương.

tieng-viet4-080526.jpg
Học sinh lớp 1C, Trường Tiểu học Lê Văn Tám, phường Tân Ninh (tỉnh Tây Ninh), gồm các em người Chăm và người Kinh cùng học tập trong môi trường song ngữ thân thiện.

Không dừng lại ở chủ trương, chính sách được cụ thể hóa bằng nguồn lực rõ ràng. Giai đoạn 2025 - 2029, tổng kinh phí thực hiện chương trình của tỉnh dự kiến hơn 3 tỷ đồng.

Mỗi học sinh tham gia lớp học hè kéo dài tối đa một tháng được hỗ trợ đầy đủ tài liệu như sách chuẩn bị tiếng Việt, vở tập tô, bút, bảng con… Mức hỗ trợ bình quân khoảng 757.865 đồng/học sinh, bao gồm chi phí dạy học, tài liệu và đồ dùng học tập. Đối với giáo viên, tỉnh chi trả thù lao tối đa 80 tiết/tháng hè, với mức trung bình 150.000 đồng/tiết. Đây được xem là động lực quan trọng để đội ngũ giáo viên yên tâm gắn bó với sự nghiệp “gieo chữ” nơi vùng biên.

Dự kiến, 39 lớp học sẽ được tổ chức tại các địa bàn có đông học sinh dân tộc thiểu số như Tân Đông, Tân Thành, Mỹ Hạnh, Đức Hòa, Tân Ninh… hỗ trợ 815 trẻ có đủ hành trang ngôn ngữ trước khi vào lớp Một. Với những nơi dân cư thưa, mô hình học ghép được triển khai linh hoạt nhằm bảo đảm không em nào bị bỏ lại phía sau.

Bà Bùi Thị Hà, Phó Trưởng phòng Văn hóa - Xã hội phường Tân Ninh cho biết, Sở Giáo dục và Đào tạo đã có kế hoạch cụ thể hướng dẫn các trường triển khai chương trình. Tại địa bàn có đông đồng bào dân tộc sinh sống như phường Tân Ninh, Trường Tiểu học Lê Văn Tám đã được đầu tư cơ sở vật chất, sẵn sàng nguồn lực để tổ chức các lớp chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ.

Tuy nhiên, theo bà Hà, để hành trình này thực sự bền vững, vấn đề then chốt vẫn là đội ngũ giáo viên. Dạy học sinh dân tộc thiểu số đòi hỏi thời gian, sự kiên trì và tâm huyết lớn hơn nhiều so với lớp học thông thường.

“Từ thực tế địa bàn có 10 trường tiểu học, chúng tôi kiến nghị Đảng và Nhà nước cần quan tâm hơn đến chế độ chính sách cho giáo viên trực tiếp đứng lớp tại vùng đồng bào dân tộc. Đây không chỉ là sự ghi nhận mà còn là động lực để các thầy cô yên tâm bám trụ lâu dài”, bà Hà chia sẻ.

Ở góc độ rộng hơn, chương trình dạy tiếng Việt cho trẻ em dân tộc thiểu số không chỉ tác động đến học sinh mà còn lan tỏa tới từng gia đình, cộng đồng. Những bài hát, câu chuyện, nét chữ trẻ mang về nhà sẽ trở thành “chất xúc tác” cho sự giao thoa văn hóa trong gia đình. Tiếng Việt dần trở thành nhịp cầu kết nối, trong khi tiếng mẹ đẻ vẫn được gìn giữ như phần gốc rễ. Cùng với đó, khi trẻ em được chuẩn bị tốt về ngôn ngữ, cơ hội học tập, tiếp cận khoa học kỹ thuật và công nghệ trong tương lai sẽ rộng mở hơn.

tieng-viet3-080526.jpg
Việc thành thạo tiếng Việt giúp trẻ em đồng bào dân tộc thiểu số tự tin giao tiếp, hòa nhập tốt hơn với môi trường giáo dục và cộng đồng.

Từ những con chữ giản dị, một hành trình lớn hơn đang được mở ra - hành trình của tri thức, của hội nhập và của khát vọng vươn lên, nhưng vẫn vẹn nguyên bản sắc văn hóa dân tộc./.

Dân tộc Chăm

Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...

Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.

Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).

Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh ThuậnBình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.

Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.

Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.

Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.

Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.

Vào dịp lễ Ramưwan, nam nữ người Chăm thường khoác lên mình trang phục truyền thống với nhiều sắc màu thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng người Chăm. Ảnh Nguyễn Thanh.jpg
Vào dịp lễ Ramưwan, nam nữ người Chăm thường khoác lên mình trang phục truyền thống với nhiều sắc màu thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng người Chăm. Ảnh Nguyễn Thanh

: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.

Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...

Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.

Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ. 

Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà. 

Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.

Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.

Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo. 

Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp. 

Thiếu nữ Chăm biểu diễn điệu múa truyền thống trong lễ hội Katê. Ảnh Nguyễn Thanh.jpg
Thiếu nữ Chăm biểu diễn điệu múa truyền thống trong lễ hội Katê. Ảnh Nguyễn Thanh

Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.  

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Chăm

Có thể bạn quan tâm

Bộ đội Biên phòng chủ động ứng phó mưa lớn, bảo đảm an toàn khu vực biên giới

Bộ đội Biên phòng chủ động ứng phó mưa lớn, bảo đảm an toàn khu vực biên giới

Từ tối 11 đến chiều 12/9, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã xảy ra mưa vừa đến mưa to và có nơi có dông. Đặc biệt, ở khu vực biên giới của tỉnh, mưa lớn kéo dài nhiều giờ khiến mực nước trên các sông, suối dâng cao, một số tuyến đường bị ngập, gây ách tắc và chia cắt tạm thời một số nơi.

Lâm Đồng hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả mưa lũ

Lâm Đồng hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả mưa lũ

Sau nhiều ngày mưa lớn gây ngập lụt, sạt lở tại nhiều khu vực, ngày 11/9, khi nước tại một số nơi bắt đầu rút, chính quyền các địa phương tỉnh Lâm Đồng khẩn trương huy động lực lượng hỗ trợ người dân dọn dẹp nhà cửa, đường sá, khắc phục hậu quả; đồng thời rà soát, đánh giá thiệt hại và chủ động phương án ứng phó trước nguy cơ mưa lớn tiếp diễn.

Đắk Lắk yêu cầu làm rõ trách nhiệm việc chậm giải quyết hồ sơ đất đai

Đắk Lắk yêu cầu làm rõ trách nhiệm việc chậm giải quyết hồ sơ đất đai

Liên quan đến vấn đề tồn đọng hồ sơ đất đai tại Đắk Lắk mà phóng viên TTXVN đã phản ánh, UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành văn bản số 14151/UBND-PVHCC, ngày 10/9 về việc tăng cường phối hợp giải quyết thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai, hạn chế phát sinh hồ sơ quá hạn. Trong đó, yêu cầu các địa phương kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm đối với những chậm trễ trước đó.

Xả lũ hồ Hạ Gia Nghĩa (Lâm Đồng), khuyến cáo người dân cẩn trọng, chủ động ứng phó

Xả lũ hồ Hạ Gia Nghĩa (Lâm Đồng), khuyến cáo người dân cẩn trọng, chủ động ứng phó

Chiều 10/9, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng số 3, tỉnh Lâm Đồng đã có công văn thông báo thực hiện việc xả lũ hồ Hạ (thuộc dự án hồ Gia Nghĩa). Theo đó, từ 17 giờ 00 phút cùng ngày, đơn vị sẽ bắt đầu thực hiện việc xả lũ theo quy trình đã được phê duyệt.

Chính sách thiết thực, tiếp sức đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên

Chính sách thiết thực, tiếp sức đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên

Tây Ninh là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh, với cộng đồng dân cư đa dạng về dân tộc, tôn giáo. Bằng những chính sách thiết thực, đồng bộ, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào từng bước được nâng lên, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng quê hương ngày càng phát triển.

Giữ hương chè cổ Lộc Thanh

Giữ hương chè cổ Lộc Thanh

Trải qua thăng trầm của thời gian và những khắc nghiệt của thời tiết, hơn một thế kỷ qua, những đồi chè cổ thụ ở thôn Lộc Thanh, xã Bình Minh, tỉnh Quảng Ngãi vẫn bám rễ sâu vào lòng đất.

Đắk Lắk điều tiết nước các hồ chứa, ứng phó với đợt mưa lớn

Đắk Lắk điều tiết nước các hồ chứa, ứng phó với đợt mưa lớn

Theo dự báo của Đài Khí tượng thủy văn tỉnh Đắk Lắk, trong những ngày tới địa bàn tỉnh có mưa vừa, mưa to, có nơi mưa rất to và dông, tổng lượng mưa phổ biến từ 100-150mm, có nơi trên 200mm. Tỉnh Đắk Lắk đang triển khai giải pháp phòng chống thiên tai, đồng thời yêu cầu các hồ chứa chủ động điều tiết nước, đón lũ ứng phó với mưa lớn trong thời gian tới.

Gỡ vướng quỹ đất, thủ tục để hoàn thành 10.000 căn nhà ở xã hội

Gỡ vướng quỹ đất, thủ tục để hoàn thành 10.000 căn nhà ở xã hội

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ Vũ Việt Văn thông tin, để tiếp tục hoàn thành mục tiêu 10.000 căn nhà ở xã hội, tỉnh đang yêu cầu Sở Xây dựng tiếp tục hướng dẫn chủ đầu tư hoàn tất thủ tục chuẩn bị đầu tư, đồng thời rút ngắn tối đa thời gian thẩm định quy hoạch, thiết kế, cấp phép xây dựng thuộc thẩm quyền. Các địa phương phối hợp rà soát, điều chỉnh quy hoạch nếu cần thiết, bảo đảm các dự án nhà ở xã hội được triển khai đúng quy hoạch và đồng bộ hạ tầng.

Học sinh có thể sử dụng sách điện tử để học tập trong khi chờ sách bản giấy

Học sinh có thể sử dụng sách điện tử để học tập trong khi chờ sách bản giấy

Năm học mới đã bắt đầu gần một tuần nhưng việc cung ứng sách giáo khoa tại Đắk Lắk vẫn chưa đáp ứng kịp nhu cầu. Phụ huynh học sinh vẫn đang tìm mua để đủ sách cho con, tại một số trường học, học sinh mượn sách của các anh chị khóa trước, dùng chung sách với bạn để duy trì việc học.

Mở hướng thoát nghèo từ mô hình nuôi cấy mô thực vật

Mở hướng thoát nghèo từ mô hình nuôi cấy mô thực vật

Tốt nghiệp đại học chuyên ngành kế toán nhưng lựa chọn gắn bó với lĩnh vực nuôi cấy mô thực vật, anh La Minh Phúc, dân tộc Dao, thôn Gò Chè, xã Nhữ Khê (Tuyên Quang) đã từng bước xây dựng cơ sở nuôi cấy mô của riêng mình. Hành trình chuyển hướng nghề nghiệp của anh là câu chuyện về sự kiên trì, dám thử sức với lĩnh vực mới, góp phần quan trọng cung ứng giống cây trồng chất lượng cho địa phương.

Định vị hướng phát triển đô thị mới gắn với phát triển kinh tế biên mậu

Định vị hướng phát triển đô thị mới gắn với phát triển kinh tế biên mậu

Ngày 9/9, Đoàn công tác của Bộ Nội vụ và các bộ, ngành liên quan đã đến khảo sát thực tế tại khu vực các xã dự kiến thành lập phường trên địa bàn biên giới, tỉnh Tây Ninh, nhằm đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội, quá trình đô thị hóa, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn thành lập phường theo quy định của pháp luật.

Tăng cường phối hợp quản lý, bảo vệ biên giới

Tăng cường phối hợp quản lý, bảo vệ biên giới

Ngày 9/9, tại phường Nam Gia Nghĩa, tỉnh Lâm Đồng (Việt Nam), Đoàn đại biểu Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lâm Đồng và Đoàn đại biểu Tiểu khu Quân sự tỉnh Mondulkiri, Vương quốc Campuchia tổ chức Hội đàm.

Công nghệ thu hẹp khoảng cách ở vùng cao

Công nghệ thu hẹp khoảng cách ở vùng cao

Từ ứng dụng trí tuệ nhân tạo hỗ trợ cán bộ xử lý công việc đến hướng dẫn người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến, các xã miền núi thành phố Đà Nẵng đang từng bước đưa chuyển đổi số vào những công việc thiết thực của chính quyền và đời sống.