Dệt văn hóa Thái trên những khung cửi Pù Luông

Dệt văn hóa Thái trên những khung cửi Pù Luông

Nằm trong vùng lõi của Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, làng nghề dệt thổ cẩm thôn Lặn Ngoài (xã Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa) đang trở thành điểm đến hấp dẫn khách du lịch quốc tế bởi những câu chuyện văn hóa qua từng khung cửi. Ở đó, bên nếp nhà sàn, những người phụ nữ dân tộc Thái mỗi ngày cần mẫn đưa thoi, dệt nên những nét hoa văn đặc trưng của núi rừng Pù Luông.

Những tấm vải thổ cẩm có tuổi đời gần 100 năm được người dân thôn Lặn Ngoài, xã Pù Luông sưu tầm, gìn giữ.

Những tấm vải thổ cẩm có tuổi đời gần 100 năm được người dân thôn Lặn Ngoài, xã Pù Luông sưu tầm, gìn giữ.

Độc đáo làng nghề dệt thổ cẩm thôn Lặn Ngoài

Nghề dệt thổ cẩm bắt đầu xuất hiện ở thôn Lặn Ngoài, xã Pù Luông từ thế kỷ XVIII (khoảng năm 1749) khi dòng họ Hà và dòng họ Lò (2 dòng họ lớn của người Thái Thanh Hóa) khai phá, lập làng ở đây. Khi đó, ở thung lũng Lặn Ngoài có những bãi đất màu mỡ, được người dân trồng bông, trồng dâu, nuôi tằm. Từ những nguyên liệu trồng được, người dân đã phát triển nên nghề dệt thổ cẩm. Đến nay, làng nghề đã trải qua 276 năm hình thành, phát triển và được UBND tỉnh Thanh Hóa công nhận là Làng nghề truyền thống vào năm 2021.

Bà Hà Thị Nhân (thôn Lặn Ngoài, xã Pù Luông) gắn bó với nghề dệt thổ cẩm 65 năm.

Bà Hà Thị Nhân (thôn Lặn Ngoài, xã Pù Luông) gắn bó với nghề dệt thổ cẩm 65 năm.

Tròn 80 tuổi, bà Hà Thị Nhân (thôn Lặn Ngoài, xã Pù Luông) đã có tới 65 năm gắn bó với nghề dệt thổ cẩm. Bên khung dệt, bà Nhân kể, bà lớn lên trong tiếng lách cách dệt vải của bà, của mẹ, rồi biết theo người lớn ra ruộng thu hoạch bông, hái lá dâu về nuôi tằm. Hơn 10 tuổi, bà Nhân đã được mẹ cầm tay chỉ dạy - truyền nghề. Ban đầu là dệt những thứ đơn giản, sau đó, bắt đầu dệt - phối màu hoa văn thổ cẩm.

Bà Nhân cho biết, mỗi cô gái Thái từ nhỏ đều được mẹ, được bà dạy cho nghề dệt thổ cẩm. Vì thế, những người phụ nữ Thái đều rất giỏi ươm tơ, xe sợi, dệt vải, may vá, thêu thùa. Như luật bất thành văn, trước khi lấy chồng, các thiếu nữ Thái phải tự dệt và thêu những bộ chăn, đệm, gối và váy để mang về nhà chồng. Vì thế, với những người phụ nữ Thái ở thôn Lặn Ngoài, việc giữ nghề truyền thống không đơn giản chỉ là câu chuyện mưu sinh mà dường như còn là sự ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn di sản văn hóa của cha ông.

Ghé thăm thôn Lặn Ngoài, không khó để bắt gặp hình ảnh những cụ bà ở tuổi ngoài 70, mắt vẫn tinh, tay vẫn lanh lẹ cần mẫn xe sợi, dệt vải, may vá, thêu thùa.

Ghé thăm thôn Lặn Ngoài, không khó để bắt gặp hình ảnh những cụ bà ở tuổi ngoài 70, mắt vẫn tinh, tay vẫn lanh lẹ cần mẫn xe sợi, dệt vải, may vá, thêu thùa.

Để dệt được một tấm thổ cẩm đẹp, phải trải qua rất nhiều công đoạn đòi hỏi sự khéo léo và vô cùng tỉ mẩn. Từ trồng bông, thu hoạch bông, xử lý quả bông, se bông thành sợi... Để những tấm vải có màu sắc đẹp và bắt mắt, trước khi dệt, bà con vào rừng tìm một số loài cây để lấy lá, vỏ, rễ đem về nấu để tạo màu cho các cuộn sợi bông. Sợi được ngâm màu và phơi khô, đảm bảo độ săn, dai, bền, chắc, tiếp đó sẽ được mắc vào khung dệt để dệt thành những tấm vải thổ cẩm nhiều màu sắc.

Theo bà Nhân, khó nhất trong nghề dệt thổ cẩm là việc làm các hoa văn, vì tùy theo trang phục mà hoa văn dệt sẽ khác nhau. Hoa văn có thể là cỏ cây hoa lá, hay hình các con vật, hình quả trám, hình hoa tám cánh... Những hoa văn khác nhau sẽ chứa đựng những ý nghĩa riêng, những câu chuyện thể hiện sự phong phú, gần gũi thiên nhiên và mang ý nghĩa văn hóa sâu sắc.

Niềm tự hào khi được giới thiệu sản phẩm khăn thổ cẩm của dân tộc.

Niềm tự hào khi được giới thiệu sản phẩm khăn thổ cẩm của dân tộc.

Bà Hà Thị Nhân cho biết, đã là người phụ nữ Thái thì phải cố gắng giữ gìn và dệt nên những sắc phục thật đẹp. Mỗi tấm vải là một câu chuyện, mang đậm bản sắc của dân tộc, được truyền từ đời này sang đời khác. Tôi già rồi, chỉ mong con cháu giữ gìn nghề dệt của cha ông.

Con dâu bà Nhân là chị Vi Thị Luyến cũng đang tiếp bước mẹ chồng theo nghề dệt thổ cẩm. Cùng với việc bán sản phẩm ở làng nghề, ở các chợ truyền thống, chị Luyến đã biết đưa sản phẩm thổ cẩm dệt tay của cơ sở mình lên mạng xã hội như Facebook, Tiktok để giới thiệu, quảng bá cho thêm nhiều người biết đến. Nhờ đó, sản phẩm mang đậm bản sắc văn hóa vùng cao này đã được nhiều khách hàng ở trong và ngoài nước lựa chọn, đặt mua.

Khi Khu Du lịch Pù Luông phát triển, nghề dệt thổ cẩm thôn Lặn Ngoài cũng được du khách biết đến nhiều hơn, trở thành điểm đến cho du khách trải nghiệm, tìm hiểu nghề truyền thống.

Khi Khu Du lịch Pù Luông phát triển, nghề dệt thổ cẩm thôn Lặn Ngoài cũng được du khách biết đến nhiều hơn, trở thành điểm đến cho du khách trải nghiệm, tìm hiểu nghề truyền thống.

Chị Vi Thị Luyến (thôn Lặn Ngoài, xã Pù Luông) chia sẻ: “Trong gia đình, mẹ chồng tôi giống như sợi chỉ nối quá khứ và hiện tại, để nghề xưa không lụi tàn theo năm tháng. Mỗi đường chỉ mẹ dạy không chỉ là dệt vải mà là dệt ký ức, dệt yêu thương. Nhờ những người như mẹ, nghề truyền thống được nối tiếp, trao truyền nên trong thôn, có rất nhiều gia đình cả mẹ chồng - nàng dâu đều say mê với nghề”.

Lặn Ngoài hôm nay không còn là một ngôi làng Thái trầm lặng. Tiếng khung cửi rộn ràng, những tấm vải thổ cẩm rực rỡ sắc màu - sự hồi sinh của làng nghề không chỉ giúp người dân tăng thêm thu nhập mà còn góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa đặc trưng của bản làng người Thái giữa đại ngàn Pù Luông.

Nền tảng để phát triển du lịch bền vững

Những năm gần đây chính quyền xã Pù Luông đã khôi phục và phát triển nghề dệt thổ cẩm ở thôn Lặn Ngoài gắn với khai thác lợi thế du lịch.

Những năm gần đây chính quyền xã Pù Luông đã khôi phục và phát triển nghề dệt thổ cẩm ở thôn Lặn Ngoài gắn với khai thác lợi thế du lịch.

Những năm gần đây chính quyền xã Pù Luông đã khôi phục và phát triển nghề dệt thổ cẩm ở thôn Lặn Ngoài gắn với khai thác lợi thế du lịch. Kể từ khi Khu Du lịch Pù Luông phát triển, nghề dệt thổ cẩm làng Lặn Ngoài cũng được du khách biết đến nhiều hơn... Năm năm trở lại đây, làng nghề trở thành điểm du lịch hấp dẫn, nơi du khách có thể trực tiếp tham quan, trải nghiệm quy trình sản xuất và mua sắm các sản phẩm thủ công độc đáo.

Sản phẩm dệt thổ cẩm thủ công của người dân thôn Lặn Ngoài được du khách, đặc biệt là khách nước ngoài ưa thích, mua làm quà lưu niệm.

Sản phẩm dệt thổ cẩm thủ công của người dân thôn Lặn Ngoài được du khách, đặc biệt là khách nước ngoài ưa thích, mua làm quà lưu niệm.

Làng nghề dệt thổ cẩm thôn Lặn Ngoài hiện duy trì 105 hộ gia đình trực tiếp tham gia làm nghề với mức thu nhập khoảng 6 - 7 triệu đồng/người/tháng. Ngoài việc phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của người dân trong thôn, sản phẩm dệt thổ cẩm thủ công của thôn Lặn Ngoài còn được du khách, đặc biệt là khách nước ngoài ưa thích, mua làm quà lưu niệm.

Hiện, các sản phẩm thổ cẩm ở Lặn Ngoài rất đa dạng, như: Vải thổ cẩm, khăn, mũ, gối, đệm ghế... Tùy theo nguyên liệu làm ra mà sản phẩm bán sẽ có giá thành khác nhau. Sản phẩm dệt thổ cẩm thủ công truyền thống sẽ có giá cao hơn; sản phẩm dệt bằng sợi công nghiệp sẽ rẻ hơn. Các gia đình ở thôn Lặn Ngoài đều giới thiệu rõ nguồn gốc sản phẩm để phù hợp với thị hiếu cũng như mức chi tiêu của khách hàng.

Ông Roistacher Bob (82 tuổi), một du khách Mỹ, rất ấn tượng với đôi bàn tay khéo léo của cụ bà Hà Thị Nhân khi dệt vải.

Ông Roistacher Bob (82 tuổi), một du khách Mỹ, rất ấn tượng với đôi bàn tay khéo léo của cụ bà Hà Thị Nhân khi dệt vải.

Ông Roistacher Bob (82 tuổi) du khách đến từ New York, Hoa Kỳ cho biết: ông rất thích thú khi được trải nghiệm quy trình se bông, dệt thổ cẩm ở đây. Ông ấn tượng với đôi bàn tay khéo léo của bà Hà Thị Nhân và đã chọn mua 2 chiếc khăn thổ cẩm do chính tay bà dệt để về tặng bạn bè.

Ông Roistacher Bob (82 tuổi), du khách Mỹ, chọn mua sản phẩm thổ cẩm tại thôn Lặn Ngoài, xã Pù Luông.

Ông Roistacher Bob (82 tuổi), du khách Mỹ, chọn mua sản phẩm thổ cẩm tại thôn Lặn Ngoài, xã Pù Luông.

Theo ông Hà Văn Tung, Trưởng phòng Kinh tế xã Pù Luông: Mô hình du lịch cộng đồng gắn với nghề dệt thổ cẩm tại thôn Lặn Ngoài đang trở thành điểm nhấn của địa phương. Tại đây, du khách có thể tham gia vào các quy trình dệt nên tấm vải thổ cẩm, tham gia lễ hội truyền thống hay thưởng thức những món ăn đặc sản do chính người dân bản địa chế biến. Điều này không chỉ giúp bảo tồn văn hóa mà còn tạo thêm nguồn thu nhập bền vững cho cộng đồng địa phương, giúp họ phát triển kinh tế dựa trên tiềm năng du lịch sẵn có.

Du khách quốc tế thích thú khi được trải nghiệm quá trình dệt thổ cẩm của người dân tộc Thái.

Du khách quốc tế thích thú khi được trải nghiệm quá trình dệt thổ cẩm của người dân tộc Thái.

Hằng năm, chính quyền địa phương đều phối hợp Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Trường đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch… tổ chức các lớp đào tạo nâng cao trình độ tay nghề cho lao động dệt thổ cẩm. Năm 2024, khăn thổ cẩm Mường Khoòng được công nhận OCOP 3 sao cấp tỉnh. Địa phương đang xây dựng thêm 2 sản phẩm OCOP là trang phục dân tộc Thái và khăn thổ cẩm trải đệm, trải bàn…

UBND xã Pù Luông đang tích cực kết nối với các đơn vị lữ hành, nhất là các đơn vị lữ hành ở Hà Nội để đưa khách quốc tế tới làng nghề dệt thổ cẩm thôn Lặn Ngoài, đồng thời tìm kiếm nguồn lực mở rộng không gian sinh hoạt chung, nơi dạy nghề, trưng bày sản phẩm và đón khách…

Làng nghề dệt thổ cẩm thôn Lặn Ngoài (xã Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa) trở thành điểm đến hấp dẫn khách du lịch quốc tế.

Làng nghề dệt thổ cẩm thôn Lặn Ngoài (xã Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa) trở thành điểm đến hấp dẫn khách du lịch quốc tế.

Có thể thấy, việc kết hợp giữa phát triển du lịch và bảo tồn văn hóa đang là hướng đi đúng đắn cho các địa phương ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông. Mô hình này không chỉ giúp người dân địa phương nâng cao thu nhập, mà còn góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống, tạo nên nét riêng độc đáo, định vị thương hiệu Pù Luông trên bản đồ du lịch Việt Nam./.

Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Thái

Có thể bạn quan tâm

Bộ đội Biên phòng chủ động ứng phó mưa lớn, bảo đảm an toàn khu vực biên giới

Bộ đội Biên phòng chủ động ứng phó mưa lớn, bảo đảm an toàn khu vực biên giới

Từ tối 11 đến chiều 12/9, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã xảy ra mưa vừa đến mưa to và có nơi có dông. Đặc biệt, ở khu vực biên giới của tỉnh, mưa lớn kéo dài nhiều giờ khiến mực nước trên các sông, suối dâng cao, một số tuyến đường bị ngập, gây ách tắc và chia cắt tạm thời một số nơi.

Dịp Lễ hội Nguyên Tiêu hàng năm, bà con người Hoa thường tổ chức nhiều hoạt động văn hóa đặc sắc tại các hội quán ở khu vực Chợ Lớn.

Thầy giáo Trần Thích - cầu nối tin cậy của bà con người Hoa Chợ Lớn

Am hiểu tiếng nói, phong tục và đời sống của bà con, thầy giáo Trần Thích, nguyên Hiệu trưởng Trường Tiểu học Châu Văn Liêm, nhiều năm trực tiếp tuyên truyền chính sách, tham gia hòa giải, vận động nguồn lực chăm lo an sinh và khuyến học. Với ông, muốn người dân đồng thuận, trước hết phải gần gũi, lắng nghe và tạo dựng niềm tin.

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Chiến sĩ Biên phòng làm truyền thông số nơi biên giới

Ở vùng biên giới Nà Hỳ, tỉnh Điện Biên, nơi điều kiện tiếp cận công nghệ của người dân còn hạn chế, những người lính Đồn Biên phòng Nậm Nhừ đang tìm cách đưa thông tin chính thống và kỹ năng số đến gần hơn với từng bản làng. Từ những chiếc điện thoại, mã QR đến loa truyền thanh di động, họ đang trở thành những “người lính truyền thông số”, giúp bà con chủ động hơn trong tiếp cận thông tin và bảo vệ mình trên không gian mạng.

Đối thoại, tháo gỡ điểm nghẽn thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Đối thoại, tháo gỡ điểm nghẽn thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Chiều 11/9, Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam phối hợp với Hội Doanh nhân trẻ tỉnh Tuyên Quang tổ chức Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam (VPSF) 2026 - Vòng đối thoại địa phương tỉnh Tuyên Quang, với sự tham dự của lãnh đạo tỉnh, chuyên gia kinh tế cùng đông đảo doanh nhân, doanh nghiệp trên địa bàn.

Lâm Đồng hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả mưa lũ

Lâm Đồng hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả mưa lũ

Sau nhiều ngày mưa lớn gây ngập lụt, sạt lở tại nhiều khu vực, ngày 11/9, khi nước tại một số nơi bắt đầu rút, chính quyền các địa phương tỉnh Lâm Đồng khẩn trương huy động lực lượng hỗ trợ người dân dọn dẹp nhà cửa, đường sá, khắc phục hậu quả; đồng thời rà soát, đánh giá thiệt hại và chủ động phương án ứng phó trước nguy cơ mưa lớn tiếp diễn.

Gieo mùa hoa, hẹn mùa hội trên Cao nguyên đá Đồng Văn

Gieo mùa hoa, hẹn mùa hội trên Cao nguyên đá Đồng Văn

Trên những triền núi vừa đi qua mùa ngô, người dân các xã vùng cao tỉnh Tuyên Quang lại bắt đầu làm đất, lên luống, gieo xuống những hạt tam giác mạch nhỏ bé, chuẩn bị cho Lễ hội Hoa tam giác mạch lần thứ XII với chủ đề “Âm vang miền đá”.

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Đổi mới quản trị để phù hợp với mô hình trường học mới

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới cơ sở giáo dục công lập, năm học 2026-2027, hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bước vào giai đoạn vận hành theo mô hình mới. Toàn tỉnh giảm 642/1.267 cơ sở giáo dục, tương đương 50,7%. Quy mô mạng lưới thay đổi kéo theo những thay đổi lớn về tổ chức, đội ngũ và phương thức quản lý. Những ngày đầu vận hành cho thấy, các trường cơ bản bảo đảm việc dạy và học; đồng thời bắt đầu nhận diện những thuận lợi, khó khăn và từng bước điều chỉnh cách quản trị để phù hợp với mô hình mới.

Độc đáo nghề làm mão, mặt nạ của đồng bào Khmer

Độc đáo nghề làm mão, mặt nạ của đồng bào Khmer

Đó là chủ đề trưng bày chuyên đề do Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Bảo tàng tỉnh Vĩnh Long tổ chức, ngày 11/9. Trưng bày giới thiệu đến công chúng những giá trị đặc sắc của nghề làm mão, mặt nạ truyền thống - di sản văn hóa gắn với đời sống tín ngưỡng và các loại hình nghệ thuật biểu diễn dân gian của đồng bào Khmer.

Đắk Lắk yêu cầu làm rõ trách nhiệm việc chậm giải quyết hồ sơ đất đai

Đắk Lắk yêu cầu làm rõ trách nhiệm việc chậm giải quyết hồ sơ đất đai

Liên quan đến vấn đề tồn đọng hồ sơ đất đai tại Đắk Lắk mà phóng viên TTXVN đã phản ánh, UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành văn bản số 14151/UBND-PVHCC, ngày 10/9 về việc tăng cường phối hợp giải quyết thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai, hạn chế phát sinh hồ sơ quá hạn. Trong đó, yêu cầu các địa phương kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm đối với những chậm trễ trước đó.

Nhịp cầu nối đôi bờ biên giới với những câu chuyện phối hợp và sẻ chia

Nhịp cầu nối đôi bờ biên giới với những câu chuyện phối hợp và sẻ chia

Tiếng hát “Việt Nam - Trung Hoa” vang lên trong buổi giao lưu tại phường Hà Giang 1, tỉnh Tuyên Quang, mở đầu cho những câu chuyện giữa cán bộ làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới hai nước. Phía sau những tiết mục văn nghệ, trận bóng bàn và hành trình tìm hiểu các điểm đến của địa phương là một mối quan hệ được bồi đắp bằng nhiều năm phối hợp, chia sẻ và đồng hành.

Trẻ hóa cán bộ tạo chuyển biến từ cơ sở

Trẻ hóa cán bộ tạo chuyển biến từ cơ sở

Từ ngày 1/7/2026, 888 thôn, bản, tổ dân phố mới trên địa bàn tỉnh Điện Biên chính thức đi vào hoạt động sau sắp xếp. Tại nhiều địa phương, người dân tín nhiệm bầu những cán bộ trẻ làm Bí thư Chi bộ, trưởng thôn, bản. Với sự năng động, tinh thần trách nhiệm và khả năng tiếp cận công nghệ, đội ngũ này đang từng bước đổi mới cách tuyên truyền, vận động nhân dân, nâng cao hiệu quả công việc ở cơ sở.