Diện mạo mới vùng đồng bào Khmer Cần Thơ

Diện mạo mới vùng đồng bào Khmer Cần Thơ

Với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị trong triển khai các chương trình, dự án giảm nghèo, TP Cần Thơ đã đưa tỷ lệ hộ nghèo toàn thành phố xuống còn gần 0,6%, trong đó công tác giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt nhiều kết quả tích cực. Những chính sách hỗ trợ thiết thực đang từng bước cải thiện đời sống người dân, làm thay đổi diện mạo vùng đồng bào Khmer, đồng thời củng cố niềm tin của đồng bào đối với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

giamngheocantho17720266.jpg
Vẻ đẹp nguy nga, lộng lẫy của Chùa Som Rong, phường Sóc Trăng (Cần Thơ).

Những mô hình sinh kế hiệu quả

TP Cần Thơ có hơn 540.000 người Khmer sinh sống, chiếm hơn 14% dân số, sinh sống tại 38 xã, phường; trong đó có 8 xã thuộc khu vực I, 11 xã khu vực II và 19 xã thuộc khu vực III. Thành phố có 406 ấp, khu vực được xác định thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số; trong số này có 164 ấp, khu vực thuộc diện đặc biệt khó khăn.

giamngheocantho17720262.jpg
Nhiều đồng bào Khmer tại phường Mỹ Xuyên (Cần Thơ) vươn lên thoát nghèo nhờ cần cù lao động và được tạo điều kiện hỗ trợ vốn phát triển nông nghiệp.

Khu vực Đại Nghĩa Thắng (phường Mỹ Xuyên) hiện có 983 hộ dân, trong đó đồng bào Khmer chiếm hơn 90%. Từng là địa phương đối mặt với nhiều khó khăn, nhờ sự tiếp sức của các chính sách dân tộc, đời sống bà con nới đây đã hết khó khăn, hiện chỉ còn 15 hộ nghèo và 9 hộ cận nghèo.

Việc tiếp sức thông qua nguồn vốn tín dụng và chuyển giao kỹ thuật đã tạo bước đột phá trong sản xuất. Hộ gia đình của ông Diệp Phước Nghĩa là một minh chứng cho thấy hiệu quả của việc kết hợp giữa chính sách hỗ trợ vốn vay và tinh thần lao động cần cù.

Trước đây, gia đình ông Nghĩa thuộc diện hộ nghèo, thiếu vốn sản xuất, diện tích canh tác rất hạn chế, thu nhập bấp bênh, không đủ trang trải cuộc sống, cả nhà phải sinh sống trong căn nhà lá xuống cấp.

giamngheocantho17720261.jpg
Những rẫy hoa màu xanh tốt mang lại nguồn thu nhập khá, giúp ông Diệp Phước Nghĩa không chỉ thoát nghèo mà còn vươn lên làm giàu.

Hành trình thoát nghèo của gia đình ông bắt đầu từ khi được tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi. Ban đầu, ông được hỗ trợ vay 30 triệu đồng, sau đó tiếp tục được vay thêm 20 triệu đồng để mở rộng sản xuất. Với tổng nguồn vốn 50 triệu đồng, ông Nghĩa đã mạnh dạn đầu tư canh tác trên diện tích hơn 4 công đất, thực hiện mô hình trồng 4 vụ màu mỗi năm, với các loại cây như hành, hẹ, rau thơm. Nhờ cần cù, chịu khó, học hỏi để áp dụng kỹ thuật, mô hình này đã mang lại lợi nhuận hơn 50 triệu đồng mỗi năm sau khi trừ chi phí cho gia đình ông.

Song song với trồng màu, cách đây 3 năm, gia đình ông còn được hỗ trợ đối ứng một con bò giống. Đến nay, đã phát triển lên hai con, tạo thêm nguồn sinh kế bền vững cho gia đình.

Nhờ nỗ lực lao động sản xuất, năm 2024, gia đình ông Nghĩa đã được thoát nghèo. Từ nguồn vốn tích lũy, ông cũng đã xây dựng được căn nhà khang trang trị giá 500 triệu đồng và nuôi dạy các con ăn học đến nơi đến chốn.

Tại xã Trần Đề, từ các mô hình hỗ trợ sinh kế thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhiều hộ Khmer đã có điều kiện phát triển sản xuất, từng bước ổn định cuộc sống. Đến nay, toàn xã chỉ còn 53 hộ nghèo và 206 hộ cận nghèo.

giamngheocantho17720264.jpg
Cán bộ địa phương tham quan mô hình nuôi bò giống tại hộ gia đình bà Thạch Thị Quang ở xã Trần Đề.

Gia đình bà Thạch Thị Quang (78 tuổi, ngụ ấp Lâm Dồ) là một trong những hộ có sự chuyển biến rõ nét nhờ hỗ trợ sinh kế kịp thời. Bà Quang kể: “Trước kia, tôi không có đất sản xuất, sống cùng vợ chồng người con, nguồn thu nhập chủ yếu dựa vào công việc làm thuê, thu nhập không ổn định, thiếu trước hụt sau, gia đình từng nuôi bò với mong muốn cải thiện kinh tế, nhưng quy mô nhỏ, hiệu quả chưa cao”.

Nhận thấy gia đình có sẵn chuồng trại và kinh nghiệm chăn nuôi, chính quyền địa phương đã đưa hộ bà Quang vào diện hỗ trợ từ mô hình nuôi bò sinh sản. Từ hai con bò giống ban đầu, gia đình đã nhân đàn và bán được nhiều lứa bò, có thêm nguồn thu để trang trải cuộc sống. Chỉ vài tháng trước, gia đình bà bán 4 con bò, thu về hàng chục triệu đồng. Hiện đàn bò còn 6 bò cái đang mang thai và 2 bò tơ, hứa hẹn tiếp tục mang lại nguồn thu ổn định trong thời gian tới.

Bà Quang phấn khởi chia sẻ: “Được Nhà nước hỗ trợ bò giống, tôi rất mừng vì có điều kiện phát triển chăn nuôi. Các con đi làm thuê về vẫn cố gắng dành thời gian chăm sóc đàn bò, tranh thủ cắt cỏ mỗi ngày. Gia đình luôn động viên nhau cố gắng làm ăn để cuộc sống ngày càng ổn định, khá giả hơn”.

Lấy người dân làm chủ thể của quá trình phát triển

Theo đại diện Sở Dân tộc và Tôn giáo TP Cần Thơ, 6 tháng đầu năm 2026, công tác chỉ đạo và triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) đang được thực hiện đồng bộ và quyết liệt.

giamngheocantho17720265.jpg
Trường THCS Tôn Đức Thắng, phường Sóc Trăng (Cần Thơ) khang trang, rộng rãi đáp ứng nhu cầu học tập của con em đồng bào Khmer.

Theo đó, Sở đã phối hợp với Sở Tài chính và các đơn vị có liên quan rà soát tổng hợp, triển khai nguồn vốn từ các năm trước (2022 - 2025) được phép kéo dài sang năm 2026 với tổng kinh phí gần 208,6 tỉ đồng. Dự kiến, nguồn vốn này sẽ giải ngân đạt 100% kế hoạch vào cuối năm 2026.

Trong giai đoạn I (2026 - 2030) của Hợp phần thứ hai thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, TP Cần Thơ dự kiến bố trí 246,5 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước để triển khai. Trong đó, ngân sách trung ương hỗ trợ khoảng 106,8 tỷ đồng, ngân sách địa phương đối ứng hơn 139,7 tỷ đồng. Riêng năm 2026, tổng nguồn vốn thực hiện dự kiến đạt 73,3 tỷ đồng.

giamngheocantho17720267.jpg
Chính quyền Cần Thơ luôn quan tâm, hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bi đáp ứng nhu cầu học tập của con em đồng bào Khmer trên địa bàn.

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025, các địa phương trên địa bàn Cần Thơ được bố trí nguồn lực đáng kể để đầu tư hạ tầng, hỗ trợ sinh kế và giảm nghèo. Địa bàn Sóc Trăng và Hậu Giang trước đây được phân bổ hơn 1.520 tỉ đồng thực hiện Chương trình; TP Cần Thơ (cũ) cũng chủ động lồng ghép hơn 64 tỉ đồng từ ngân sách địa phương để hỗ trợ phát triển sản xuất cho đồng bào Khmer.

Theo đại diện Thành ủy TP Cần Thơ, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị. Thành phố xác định lấy người dân làm chủ thể của quá trình phát triển, tập trung hỗ trợ về kỹ thuật, nguồn lực và tạo điều kiện để người dân chủ động phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập.

Cùng với đó, TP Cần Thơ định hướng xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hóa và thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển kinh tế nông thôn theo mô hình xanh, tuần hoàn, sinh thái; từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số với các khu vực khác.

giamngheocantho17720263.jpg
Trạm Y tế xã Lai Hòa được đầu tư xây mới khang trang, đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu bà con phum sóc.

Bên cạnh các giải pháp phát triển kinh tế, TP Cần Thơ tiếp tục bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; triển khai đồng bộ chính sách hỗ trợ sinh kế bền vững, đa dạng hóa mô hình sản xuất phù hợp với từng địa phương, ưu tiên vùng khó khăn và khu vực có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.

Thành phố cũng đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường lao động, thực hiện hiệu quả chính sách tín dụng ưu đãi, an sinh xã hội và các giải pháp phòng ngừa tái nghèo.

Đồng thời, ưu tiên đầu tư hạ tầng thiết yếu, cải thiện điều kiện sống của người dân thông qua các chính sách hỗ trợ về đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt, sinh kế, giáo dục, y tế và vệ sinh môi trường.

An Hiếu - Trung Kiên
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Tạo sinh kế, mở lối thoát nghèo ở vùng cao Huế

Tạo sinh kế, mở lối thoát nghèo ở vùng cao Huế

Những năm qua, trên các bản làng vùng cao của xứ Huế, nhiều mô hình hỗ trợ giảm nghèo đã và đang gieo những mầm xanh hy vọng. Những chính sách thiết thực ấy đã trở thành điểm tựa vững chắc tiếp thêm nghị lực để đồng bào dân tộc thiểu số vượt qua gian khó, tự tay gây dựng sinh kế và tự tin mở ra con đường thoát nghèo bền vững.

Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong cộng đồng Chăm Islam

Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong cộng đồng Chăm Islam

Ban Đại diện Cộng đồng Chăm Hồi giáo Islam tỉnh An Giang đã đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, lồng ghép những những tình huống thực tế trong đời sống hàng ngày vào các buổi sinh hoạt tôn giáo, qua đó giúp bà con dễ hiểu và chấp hành tốt quy định của pháp luật.

Đề xuất mở rộng hỗ trợ ăn trưa cho học sinh vùng dân tộc thiểu số, miền núi

Đề xuất mở rộng hỗ trợ ăn trưa cho học sinh vùng dân tộc thiểu số, miền núi

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 66/2025/NĐ-CP ngày 12/3/2025 của Chính phủ quy định chính sách cho trẻ em nhà trẻ, học sinh, học viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo và cơ sở giáo dục có trẻ em nhà trẻ, học sinh hưởng chính sách.

Thanh Hóa phát huy vai trò chi bộ thôn trong phát triển kinh tế

Thanh Hóa phát huy vai trò chi bộ thôn trong phát triển kinh tế

Phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo ở cơ sở, nhiều chi bộ thôn, bản miền núi tỉnh Thanh Hóa đã vận động người dân phát triển kinh tế, giảm nghèo, hiến đất, góp công xây dựng hạ tầng, từng bước nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống.

Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho người dân vùng biên

Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho người dân vùng biên

Ngày 21/10, tại xã biên giới Ba Sơn, tỉnh Lạng Sơn, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn tổ chức tuyên truyền pháp luật về phòng, chống xuất nhập cảnh trái phép, tổ chức, môi giới cho người khác xuất nhập cảnh trái phép; vận chuyển trái phép hàng hóa, hàng cấm trên địa bàn khu vực biên giới năm 2026.

Mở rộng cơ hội việc làm cho lao động miền núi, vùng dân tộc

Mở rộng cơ hội việc làm cho lao động miền núi, vùng dân tộc

Đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đang được tỉnh Quảng Ngãi xác định là giải pháp quan trọng nhằm tạo việc làm, nâng cao thu nhập và thúc đẩy giảm nghèo bền vững, nhất là tại khu vực miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Với sự chủ động của chính quyền địa phương cùng các chính sách hỗ trợ thiết thực, nhiều thanh niên vùng cao đã mạnh dạn tiếp cận thị trường lao động nước ngoài, từng bước cải thiện đời sống gia đình và tích lũy nguồn lực phát triển kinh tế khi trở về quê hương.

Trung tướng Trần Đức Thuận, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội

Quy định 224 thể hiện bước đổi mới trong tư duy lãnh đạo của Đảng

Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Quy định số 224-QĐ/TW về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh, quy định về chủ trương, nguyên tắc, giới hạn, quyền, trách nhiệm và kiểm soát xung đột lợi ích đối với đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh.

Giúp thế hệ trẻ dân tộc thiểu số tự giác sống theo pháp luật

Giúp thế hệ trẻ dân tộc thiểu số tự giác sống theo pháp luật

Trước những thách thức mang tính đặc thù tại khu vực miền núi như nạn tảo hôn, nguy cơ vi phạm lâm nghiệp hay các cạm bẫy trên không gian mạng, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số (DTTS) đang đóng vai trò then chốt.

Trung tướng Vũ Trung Kiên, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Bộ đội Biên phòng trao thưởng cho các lực lượng chức năng có thành tích trong công tác phòng chống mua bán người và ma túy.

Lực lượng Biên phòng nâng cao năng lực chống tội phạm mua bán người

Nhằm kịp thời phát hiện, đấu tranh với tội phạm mua bán người, Bộ đội Biên phòng đã thiết lập thế trận liên hoàn; tăng cường truyền thông, nâng cao nhận thức và kỹ năng nhận diện dấu hiệu nguy hiểm, kiểm chứng thông tin giúp người dân phòng tránh, nhất là nhóm có nguy cơ cao bị mua bán.

Bài 1: Từ chiến trường ngoại biên đến bình yên bản làng

Bài 1: Từ chiến trường ngoại biên đến bình yên bản làng

Với quyết tâm không để trở thành "điểm nóng" về mua bán người, thời gian qua lực lượng Bộ đội Biên phòng đã đánh trúng, đánh mạnh các đường dây tội phạm xuyên quốc gia từ sớm, từ xa, từ ngoài biên giới; xây dựng thế trận lòng dân vững chắc bảo vệ cuộc sống bình yên nhân dân.

Nỗ lực vượt khó, bảo đảm tiến độ khám sức khỏe toàn dân

Nỗ lực vượt khó, bảo đảm tiến độ khám sức khỏe toàn dân

Thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, tính đến giữa tháng 10/2026, tỉnh Cao Bằng đã tổ chức khám sức khỏe định kỳ và sàng lọc miễn phí cho hơn 380.000 lượt người dân, đạt tỷ lệ bao phủ trên 72,4%.