Sức sống mới vùng đồng bào Khmer Vĩnh Long

Sức sống mới vùng đồng bào Khmer Vĩnh Long

Tỉnh Vĩnh Long đang bước vào giai đoạn phát triển mới, với mục tiêu xây dựng nông thôn hiện đại, giảm nghèo bền vững và phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Sức sống mới vùng đồng bào Khmer Vĩnh Long

Tỉnh Vĩnh Long đang bước vào giai đoạn phát triển mới, với mục tiêu xây dựng nông thôn hiện đại, giảm nghèo bền vững và phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Nhiều mô hình hay, cách làm sáng tạo

Nhiều năm qua, việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã tạo nhiều chuyển biến mạnh mẽ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.

sucsongmoi5.jpg
Chị Thạch Thị Chane Tha (trái) tại ấp Tân Ngại, xã Song Lộc (Vĩnh Long) được vay vốn 35 triệu đồng để đầu tư trồng trọt, cải thiện sinh kế.

Tại xã Song Lộc, nhiều phụ nữ Khmer đã có điều kiện vươn lên từ chính những khoản vay ưu đãi. Trước đây, gia đình chị Thạch Thị Chane Tha thuộc diện hộ nghèo, không có đất sản xuất, thu nhập chủ yếu dựa vào làm thuê theo thời vụ. Khi được Hội Liên hiệp Phụ nữ xã tạo điều kiện tiếp cận khoản vay 35 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội, chị đầu tư cải tạo đất, trồng rau màu ngắn ngày, lắp đặt hệ thống tưới tiết kiệm nước và từng bước mở rộng sản xuất.

Nhờ sử dụng vốn đúng mục đích, áp dụng kỹ thuật canh tác phù hợp, mô hình sản xuất mang lại hiệu quả ngày càng cao, giúp gia đình chị thoát nghèo và ổn định cuộc sống.

Cũng từ nguồn vốn tín dụng ưu đãi, gia đình bà Thạch Thị Oanh đã đầu tư chăn nuôi bò sinh sản. Từ 5 con bò ban đầu, đến nay đàn bò phát triển lên 26 con. Mỗi năm, gia đình bán khoảng 10 bê con, thu về khoảng 180 triệu đồng. Có nguồn thu ổn định, bà tiếp tục cải tạo vườn tạp, mở rộng diện tích sản xuất và đa dạng hóa sinh kế.

sucsongmoi6.jpg
Gia đình chị Thạch Thị Oanh được vay vốn để phát triển mô hình nuôi bò sinh sản.

Theo bà Nguyễn Thị Thanh Thoảng, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Song Lộc, xã hiện có hơn 5.200 hội viên phụ nữ; trong đó, phụ nữ dân tộc Khmer chiếm trên 50%. Thời gian qua, Hội tập trung hỗ trợ hội viên phát triển kinh tế gia đình, đặc biệt tạo điều kiện để phụ nữ dân tộc Khmer tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội để đầu tư trồng trọt, chăn nuôi, cải thiện sinh kế.

Theo tỉnh ủy Vĩnh Long, trong những năm qua, các cấp ủy, chính quyền, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân trên địa bàn tỉnh đã quyết tâm thực hiện 03 Chương trình mục tiêu quốc gia đạt nhiều kết quả tích cực, nhận thức về xây dựng nông thôn mới nâng lên rõ rệt; vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng nông thôn mới được phát huy; kinh tế - xã hội khu vực nông thôn phát triển, các chính sách an sinh xã hội được quan tâm, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng lên, khoảng cách giữa nông thôn và thành thị ngày càng được thu hẹp; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tập trung đầu tư; hệ thống chính trị được củng cố, kiện toàn; quốc phòng - an ninh được bảo đảm.

Giai đoạn 2021 - 2025, toàn tỉnh Vĩnh Long đã huy động, lồng ghép từ nhiều nguồn vốn hỗ trợ trực tiếp cho việc xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên 29.381 tỷ đồng. Nguồn vốn này được ưu tiên đầu tư hạ tầng giao thông, thủy lợi, trường học, cơ sở y tế, các công trình dân sinh, đồng thời hỗ trợ phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân.

sucsongmoi2.jpg
Từ nguồn vốn Trung ương, ngân sách tỉnh, những năm vừa qua, tỉnh Vĩnh Long đã đẩy mạnh đầu tư hạ tầng thủy lợi, phục vụ nước tưới tiêu cho hàng trăm nghìn hécta đất nông nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, ổn định đời sống đồng bào Khmer.

Nhờ đó, đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm còn 0,88%, hộ cận nghèo còn 1,94%. Đối với đồng bào Khmer, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1,6%, hộ cận nghèo còn 3,2%.

Đến cuối năm 2025, tỉnh còn 8.737 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 0,88%; 19.246 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 1,94% so tổng hộ dân, trong đó, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc Khmer giảm còn 1,6% và hộ cận nghèo giảm còn 3,2% so với hộ dân tộc Khmer, hộ nghèo dân tộc Hoa giảm còn 9 hộ và hộ cận nghèo còn 31 hộ... Đây là những con số cho thấy hiệu quả của việc kết hợp đầu tư hạ tầng với các chính sách hỗ trợ sinh kế, tạo việc làm và phát triển sản xuất.

Tín dụng chính sách - điểm sáng trong công tác giảm nghèo

Một trong những điểm sáng của công tác giảm nghèo của tỉnh Vĩnh Long là việc phát huy hiệu quả nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội thông qua hình thức ủy thác với các tổ chức đoàn thể, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận vốn, giúp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn vốn.

Theo Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Châu Thành, đơn vị hiện triển khai 14 chương trình tín dụng ưu đãi dành cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, giải quyết việc làm và nhiều đối tượng chính sách khác.

sucsongmoi1.jpg
Cơ giới hóa trong việc thu hoạch lúa vùng đồng bào Khmer trên địa bàn xã Trà Cú, tỉnh Vĩnh Long.

Đến nay, tổng dư nợ tại 6 xã, phường trên địa bàn đạt hơn 708 tỷ đồng, với hơn 23.000 khoản vay, phục vụ gần 19.000 hộ dân. Trong đó, dư nợ ủy thác qua các tổ chức chính trị - xã hội chiếm trên 99%, cho thấy vai trò rất lớn của các hội, đoàn thể trong việc đưa nguồn vốn đến đúng đối tượng thụ hưởng.

Riêng Hội Liên hiệp Phụ nữ đang quản lý dư nợ hơn 367 tỷ đồng với trên 12.000 khoản vay. Không chỉ giúp hội viên tiếp cận vốn, các cấp Hội còn hướng dẫn xây dựng mô hình sản xuất phù hợp, tham gia tổ hợp tác, hợp tác xã, từng bước chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang liên kết chuỗi giá trị.

Hiện toàn tỉnh Vĩnh Long có 75 hợp tác xã và 701 tổ hợp tác với hàng chục nghìn hội viên phụ nữ tham gia. Đây là nền tảng quan trọng để nhân rộng các mô hình kinh tế hiệu quả, nâng cao thu nhập và phát triển kinh tế nông thôn theo hướng bền vững.

Bước sang giai đoạn 2026 - 2030, Vĩnh Long xác định xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của cả hệ thống chính trị.

sucsongmoi4.jpg
Giờ học âm nhạc của sinh viên Khmer của Trường Ngôn ngữ – Văn hóa – Nghệ thuật Khmer Nam Bộ và Nhân văn (Đại học Trà Vinh), phường Hòa Thuận, tỉnh Vĩnh Long.

Theo kế hoạch của UBND tỉnh Vĩnh Long, tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 65% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có ít nhất 11 xã đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại; không còn xã, ấp đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn phấn đấu tăng ít nhất 2,5 lần so với năm 2020; tỷ lệ hộ nghèo tiếp tục giảm theo chuẩn nghèo đa chiều; đồng thời kiểm soát hiệu quả nguy cơ tái nghèo.

Để hiện thực hóa các mục tiêu này, tỉnh Vĩnh Long dự kiến bố trí khoảng 16.590 tỷ đồng thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trong giai đoạn 2026 - 2030. Nguồn lực sẽ được ưu tiên cho các địa bàn khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, kết hợp đầu tư hạ tầng với phát triển sinh kế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Đáng chú ý, tỉnh Vĩnh Long sẽ tiếp tục cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng; phát triển các sản phẩm OCOP, du lịch nông nghiệp, du lịch cộng đồng; nghiên cứu thành lập quỹ phát triển xanh, quỹ khởi nghiệp cho thanh niên dân tộc thiểu số; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số để tạo động lực mới cho phát triển kinh tế nông thôn.

Song song đó, tỉnh tiếp tục mở rộng tín dụng chính sách, phấn đấu 100% đối tượng đủ điều kiện và có nhu cầu đều được tiếp cận vốn vay để phát triển sản xuất, tạo việc làm và nâng cao thu nhập.

sucsongmoi3.jpg
Công tác chăm lo, giáo dục, đào tạo cho con em đồng bào Khmer luôn được Đảng bộ, chính quyền tỉnh Vĩnh Long chú trọng.

Với vai trò kiến tạo, Tỉnh ủy Vĩnh Long cho rằng, quan điểm xuyên suốt trong giai đoạn mới là phát triển nông thôn theo hướng hiện đại, xanh và bền vững, gắn xây dựng nông thôn mới với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa; lấy người dân làm chủ thể, doanh nghiệp và hợp tác xã là động lực, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, định hướng và hỗ trợ.

Để thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2026 - 2030 và định hướng đến năm 2035, tỉnh ủy Vĩnh Long tiếp tục huy động tối đa các nguồn lực xã hội, đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số trong quản lý và tổ chức thực hiện các chương trình; tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai.

Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Đối thoại, tháo gỡ điểm nghẽn thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Đối thoại, tháo gỡ điểm nghẽn thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Chiều 11/9, Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam phối hợp với Hội Doanh nhân trẻ tỉnh Tuyên Quang tổ chức Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam (VPSF) 2026 - Vòng đối thoại địa phương tỉnh Tuyên Quang, với sự tham dự của lãnh đạo tỉnh, chuyên gia kinh tế cùng đông đảo doanh nhân, doanh nghiệp trên địa bàn.

Trẻ hóa cán bộ tạo chuyển biến từ cơ sở

Trẻ hóa cán bộ tạo chuyển biến từ cơ sở

Từ ngày 1/7/2026, 888 thôn, bản, tổ dân phố mới trên địa bàn tỉnh Điện Biên chính thức đi vào hoạt động sau sắp xếp. Tại nhiều địa phương, người dân tín nhiệm bầu những cán bộ trẻ làm Bí thư Chi bộ, trưởng thôn, bản. Với sự năng động, tinh thần trách nhiệm và khả năng tiếp cận công nghệ, đội ngũ này đang từng bước đổi mới cách tuyên truyền, vận động nhân dân, nâng cao hiệu quả công việc ở cơ sở.

Khai thác chỉ dẫn địa lý, mở rộng thị trường đặc sản vùng dân tộc thiểu số

Khai thác chỉ dẫn địa lý, mở rộng thị trường đặc sản vùng dân tộc thiểu số

Theo bà Hà Kiều Oanh, Phó trưởng Phòng Phát triển năng lực xúc tiến thương mại, Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương, chỉ dẫn địa lý không chỉ là công cụ bảo hộ nguồn gốc và danh tiếng sản phẩm mà còn là nền tảng để nâng cao giá trị, củng cố niềm tin thị trường và mở rộng đầu ra cho đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Những “công bộc xã” bền bỉ đưa thủ tục hành chính về thôn

Những “công bộc xã” bền bỉ đưa thủ tục hành chính về thôn

Đều đặn ngày thứ 2 đầu tuần, nhóm cán bộ của UBND xã Tà Năng (Lâm Đồng) lại cùng nhau về tận các thôn, buôn để làm thủ tục hành chính lưu động cho người dân. Sau hơn một năm, họ dần trở thành những “công bộc” kéo gần khoảng cách giữa cán bộ xã với nhân dân.

Khai thác sức cầu nội địa, mở rộng đầu ra cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Khai thác sức cầu nội địa, mở rộng đầu ra cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Theo ông Đào Đức Huấn, Trưởng phòng Quản lý OCOP và Du lịch nông thôn, Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, sản phẩm OCOP dù đã có nhiều cải tiến song vẫn cần tiếp tục thay đổi để nâng giá bán và tăng sức lan tỏa trên thị trường.

Đổi mới về quản trị phát triển giáo dục, dồn lực cho vùng khó khăn

Đổi mới về quản trị phát triển giáo dục, dồn lực cho vùng khó khăn

Năm học 2026-2027 đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ, thực chất của ngành Giáo dục trong triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Trọng tâm năm học này là đổi mới mạnh mẽ quản trị phát triển giáo dục; cắt giảm tối đa thủ tục hành chính, các cuộc thi mang tính hình thức, hội họp không cần thiết; tập trung nguồn lực tháo gỡ những “điểm nghẽn” của ngành Giáo dục, nhất là tại các địa bàn, vùng còn nhiều khó khăn.

Nông sản đắt hàng nhờ nhãn hiệu OCOP và truy xuất nguồn gốc

Nông sản đắt hàng nhờ nhãn hiệu OCOP và truy xuất nguồn gốc

Tỉnh Phú Thọ có nhiều sản vật đặc trưng, mang đậm dấu ấn vùng miền. Trước đây, phần lớn nông sản được sản xuất nhỏ lẻ, chủ yếu phục vụ thị trường trong tỉnh và khu vực lân cận. Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đã tạo động lực để các địa phương khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế, từng bước đổi mới phương thức sản xuất và tư duy phát triển sản phẩm.

Vượt khó đưa học sinh vùng cao vào năm học mới

Vượt khó đưa học sinh vùng cao vào năm học mới

Năm học 2026-2027 đã đến. Ở những địa bàn vùng cao tỉnh Điện Biên, để học sinh có thể đến trường đầy đủ trong ngày khai giảng, các thầy cô giáo đang nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, từ vận động học sinh ra lớp đến chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất và những điều kiện cần thiết cho một năm học mới.

Cuộc sống mới của đồng bào dân tộc biên giới Tây Ninh

Cuộc sống mới của đồng bào dân tộc biên giới Tây Ninh

Tỉnh Tây Ninh đang triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhiều lĩnh vực được ghi nhận với những kết quả tích cực, tạo nền tảng vững chắc để hoàn thành các mục tiêu của năm 2026.

Phát động đợt thi đua cao điểm '80 ngày hành động vì cộng đồng'

Phát động đợt thi đua cao điểm '80 ngày hành động vì cộng đồng'

Ngày 3/9, tại Trường Phổ thông Dân tộc Bán trú Tiểu học Nấm Dẩn (xã Nấm Dẩn, tỉnh Tuyên Quang), Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam phối hợp với Hội Chữ thập đỏ tỉnh Tuyên Quang tổ chức Lễ phát động cấp quốc gia đợt thi đua cao điểm “80 ngày hành động vì cộng đồng”, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Chữ thập đỏ Việt Nam (23/11/1946 - 23/11/2026).

Đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ở TP Hồ Chí Minh khởi sắc

Đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ở TP Hồ Chí Minh khởi sắc

Trong suốt chăng đường xây dựng và phát triển đất nước, TP Hồ Chí Minh đã triển khai nhiều chính sách, cách làm hay, chương trình hỗ trợ linh hoạt, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc. Nhân dịp kỷ niệm 81 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc phỏng vấn ông Lâm Đình Thắng, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo Thành phố Hồ Chí Minh, để làm rõ hơn những chuyển biến tích cực trong đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), đặc biệt trong giai đoạn đất nước đang đổi mới, phát triển và hội nhập.

Tết Độc lập nơi đảo tiền tiêu của Tổ quốc

Tết Độc lập nơi đảo tiền tiêu của Tổ quốc

Nhân 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Hòn Khoai cùng các lực lượng đứng chân trên đảo đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, tạo không khí vui tươi, đoàn kết, góp phần giáo dục truyền thống, nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trên biển.

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài cuối: Hợp tác bén rễ trên những vườn cây

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài cuối: Hợp tác bén rễ trên những vườn cây

Không có đường biên trực tiếp với Lào, nhưng Đắk Lắk đang triển khai các thỏa thuận hợp tác với Champasak, Attapeu, Salavan và Sekong. Từ đề nghị của Attapeu về chuyên gia và kỹ thuật sầu riêng, một hướng hợp tác mới đang hiện rõ: kết nối vùng nguyên liệu bằng tri thức, hợp tác xã và cơ chế theo dõi đến cùng.

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài 1: Từ đường biên đến hành lang phát triển

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài 1: Từ đường biên đến hành lang phát triển

Cùng hướng tới một không gian hợp tác rộng hơn với tỉnh Mondulkiri của Vương quốc Campuchia và các tỉnh Nam Lào, hai tỉnh Lâm Đồng và Đắk Lắk đang đứng trước yêu cầu chuyển những bản ghi nhớ cấp tỉnh thành dòng hàng, vùng nguyên liệu, chương trình chuyển giao kỹ thuật và sinh kế cụ thể ở khu vực biên giới. Giá trị của hợp tác vì thế không chỉ được đo bằng số cuộc gặp, mà bằng khả năng mở đường cho từng nhu cầu từ cơ sở đi đến đúng nơi giải quyết.

Đưa đặc sản từ bản làng vào ‘giỏ hàng’ thường xuyên của người tiêu dùng

Đưa đặc sản từ bản làng vào ‘giỏ hàng’ thường xuyên của người tiêu dùng

Theo ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), sản phẩm của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã từng bước hiện diện rõ hơn trên thị trường, nhưng để đứng vững và tạo giá trị gia tăng tương xứng, cần chuyển từ tư duy đưa sản phẩm đi giới thiệu sang xây dựng năng lực để sản phẩm cạnh tranh, tiêu thụ lâu dài.

Nhiều chính sách đột phá vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Cần Thơ

Nhiều chính sách đột phá vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Cần Thơ

Trong hành trình phát triển của đất nước, Đảng bộ, chính quyền thành phố Cần Thơ đã thực hiện hàng loạt chương trình, chính sách cụ thể, tạo chuyển biến tích cực trong cộng đồng người dân tộc thiểu số (DTTS). Nhân dịp kỷ niệm 81 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc phỏng vấn ông Lâm Hoàng Mẫu, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo thành phố Cần Thơ để làm rõ hơn về vấn đề này.