Dưới chân Cột cờ Lũng Cú, người Mông giữ hồn bản để đón khách

Dưới chân cột cờ Lũng Cú nơi địa đầu cực Bắc Tổ quốc, bản Thèn Pả (xã Lũng Cú, tỉnh Tuyên Quang) nép mình bên hồ Mắt Rồng xanh biếc, với những mái ngói âm dương cũ, những nếp nhà trình tường phủ màu thời gian và tiếng khèn Mông dìu dặt âm vang lúc chiều muộn.

Du khách đến Lũng Cú không chỉ để ngắm cảnh hay chụp ảnh check-in, họ tìm đến Thèn Pả để được sống chậm giữa một bản làng người Mông còn giữ gần như nguyên vẹn nếp sinh hoạt truyền thống, nơi văn hóa không nằm trong những màn biểu diễn dựng sẵn mà hiện hữu trong từng bữa cơm, nếp nhà, phiên chợ và ánh lửa bập bùng bên bếp.

Bản nhỏ dưới chân núi đá

lung-cu-160526-2.jpg
Du khách chụp ảnh lưu niệm cùng các em nhỏ dân tộc Lô Lô ở bản Lô Lô Chải, xã Lũng Cú, tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: Minh Tâm/TTXVN

Trước kia, có thời điểm, Thèn Pả chỉ là một thôn nghèo ít người biết đến ở xã Lũng Cú. Người dân quanh năm sống dựa vào chăn nuôi, trồng trọt. Mùa đông gió cắt da, mùa khô thiếu nước, nhiều thanh niên rời bản đi làm thuê ở miền xuôi.
Trong khi làng văn hóa du lịch cộng đồng Lô Lô Chải bên cạnh đã trở thành điểm đến nổi tiếng trên Cao nguyên đá Đồng Văn, Thèn Pả vẫn gần như đứng ngoài dòng chảy du lịch.

Bước chuyển bắt đầu khi một số hộ dân mạnh dạn cải tạo nhà trình tường để làm homestay, giữ nguyên kiến trúc truyền thống nhưng bổ sung thêm những tiện nghi cần thiết. Không bê tông hóa bản làng, không phá bỏ nếp cũ, người dân chọn cách làm du lịch từ chính văn hóa của mình.

Ông Vàng Sính Lùng, một hộ dân tham gia làm du lịch cộng đồng ở Thèn Pả cho biết, ban đầu, nhiều người trong bản lo lắng vì chưa từng đón khách và cũng không nghĩ những căn nhà đất cũ kỹ lại có thể trở thành nơi lưu trú cho du khách. Nhưng rồi khách đến ngày một đông hơn, người dân dần nhận ra, chính những điều bình dị nhất lại là điều níu chân du khách.
“Du khách thích được ngồi bên bếp lửa, ăn mèn mén, uống rượu ngô, sáng dậy nghe tiếng gà gáy và nhìn sương phủ trên núi đá. Họ bảo ở đây rất yên bình”, ông Lùng chia sẻ.

Từ vài hộ ban đầu, đến nay, Thèn Pả đã có hàng chục phòng lưu trú cộng đồng với sức chứa khoảng 100 khách. Người làm bánh ngô, người nuôi ngựa phục vụ khách trải nghiệm, người dệt lanh, người làm thịt trâu gác bếp… Mỗi gia đình góp một phần vào bức tranh du lịch cộng đồng đang dần hình thành nơi cực Bắc Tổ quốc.
Những con đường nhỏ trong bản cũng đổi khác. Hai bên lối đi, hoa nở thay cho những bãi đất trống. Chuồng trại được di dời xa khu sinh hoạt. Không gian bản làng sạch sẽ và xanh hơn trước.

Khi người Mông trở thành chủ thể của du lịch

lung-cu-160526-3.jpg
Du khách được người dân Lũng Cú giới thiệu những sản vật đặc trưng văn hóa nơi đây. Ảnh: Đức Thọ/TTXVN

Điều dễ nhận thấy nhất ở Thèn Pả hôm nay không chỉ là sự đổi thay của cảnh quan mà là sự đổi thay trong chính người dân.

Những cô gái Mông từng quen với việc lên nương giờ đã có thể tự tin giới thiệu với du khách về nghề dệt lanh, vẽ sáp ong hay nhuộm chàm truyền thống. Nhiều người trẻ học thêm tiếng Anh để giao tiếp với khách nước ngoài.

Em Vàng Thị Mỷ cho biết, trước đây, gia đình thuộc diện khó khăn, cuộc sống quanh năm chỉ trông vào vụ ngô. Từ khi làm du lịch, mẹ em dệt vải bán cho khách du lịch, còn các chị em thay phiên nhau phụ giúp homestay. Thu nhập ổn định hơn giúp gia đình có điều kiện chăm lo học hành và sinh hoạt.

Không chỉ tạo sinh kế, du lịch cộng đồng còn khiến nhiều người trẻ nhìn lại giá trị văn hóa của dân tộc mình.

Em Hờ Thị Máy, người Mông ở bản Thèn Pả cho biết, trước đây, em chỉ học vẽ sáp ong theo mẹ và bà như một công việc quen thuộc trong gia đình. Nhưng khi du khách thích thú tìm hiểu, em mới nhận ra nghề truyền thống của người Mông quý giá như thế nào.

“Em muốn giữ nghề để sau này truyền dạy lại cho con cháu”, em Máy nói.

Theo anh Vũ Gia Đại, người đồng hành cùng bà con xây dựng mô hình du lịch cộng đồng tại Thèn Pả, điều quan trọng nhất là để người dân trở thành chủ thể của du lịch chứ không phải người đứng ngoài cuộc.
Khi bà con tự làm, tự giới thiệu văn hóa của mình với du khách, họ sẽ thấy tự hào hơn về bản sắc dân tộc. Đó mới là điều bền vững nhất, anh Đại chia sẻ.

Trong sự phát triển du lịch ngày càng nhanh trên Cao nguyên đá Đồng Văn, Thèn Pả vẫn giữ cho mình một nhịp điệu riêng. Ở đó, du khách có thể thức dậy trong tiếng khèn gọi bạn tình vọng qua sườn núi, ngồi bên bếp lửa nghe người già kể chuyện về những mùa ngô cũ hay theo chân người Mông đi qua những triền đá tai mèo xám bạc trong sương sớm.

Giữ màu xanh dưới chân cột cờ cực Bắc

lung-cu-160626-5.jpg
Du khách trải nghiệm cưỡi ngựa tham quan Lũng Cú (Tuyên Quang). Ảnh: TTXVN phát

Du lịch đang trở thành hướng phát triển quan trọng của xã Lũng Cú. Từ đầu năm 2025 đến nay, địa phương đón hàng trăm nghìn lượt khách du lịch; trong đó, các mô hình du lịch cộng đồng như Thèn Pả ngày càng thu hút đông du khách trong và ngoài nước.

Ông Trần Đức Chung, Chủ tịch UBND xã Lũng Cú cho biết, địa phương xác định phát triển du lịch phải đi đôi với gìn giữ văn hóa truyền thống và bảo vệ môi trường sinh thái. Các làng du lịch cộng đồng sẽ là hạt nhân để từng bước đưa Lũng Cú trở thành điểm du lịch đặc sắc của vùng Công viên Địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn.

Theo định hướng của địa phương, thời gian tới, xã sẽ tiếp tục hoàn thiện hạ tầng du lịch, nâng cao chất lượng dịch vụ, đồng thời kết nối các điểm tham quan như cụm công trình văn hóa tâm linh, nhà cổ Há Súng và không gian trải nghiệm văn hóa cộng đồng để kéo dài thời gian lưu trú của du khách.

Anh Nguyễn Thành Trung đến từ Hà Nội chia sẻ, điều khiến anh nhớ nhất sau chuyến đi không chỉ là cảnh quan hùng vĩ nơi địa đầu Tổ quốc mà còn là cảm giác được sống giữa một bản làng vẫn giữ được sự chân thành và mộc mạc.
“Ở đây, người ta không làm du lịch theo kiểu chạy theo đám đông. Mình có cảm giác được chạm vào đời sống thật của người Mông”, anh Trung nói.

Chiều muộn, lá cờ đỏ sao vàng trên đỉnh Lũng Cú vẫn tung bay giữa nền trời xanh thẳm. Dưới chân cột cờ, Thèn Pả bình yên trong làn sương mỏng đang dần buông xuống những mái nhà trình tường cũ.

Và ở nơi cực Bắc ấy, người Mông hôm nay đang học cách làm giàu từ chính văn hóa của mình, để mỗi du khách khi rời đi không chỉ mang theo những bức ảnh đẹp mà còn mang theo ký ức về một ngôi làng xanh, nơi bản sắc truyền thống vẫn được gìn giữ nguyên vẹn giữa đại ngàn đá xám./.

Dân tộc Mông

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...

Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.

Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt.jpg
Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt

: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).

Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung.jpg
Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mông

Có thể bạn quan tâm

Gieo mùa hoa, hẹn mùa hội trên Cao nguyên đá Đồng Văn

Gieo mùa hoa, hẹn mùa hội trên Cao nguyên đá Đồng Văn

Trên những triền núi vừa đi qua mùa ngô, người dân các xã vùng cao tỉnh Tuyên Quang lại bắt đầu làm đất, lên luống, gieo xuống những hạt tam giác mạch nhỏ bé, chuẩn bị cho Lễ hội Hoa tam giác mạch lần thứ XII với chủ đề “Âm vang miền đá”.

Những trải nghiệm độc đáo từ dấu tích núi lửa hàng triệu năm tuổi

Những trải nghiệm độc đáo từ dấu tích núi lửa hàng triệu năm tuổi

Phía Tây tỉnh Lâm Đồng đang sở hữu một không gian tự nhiên đặc biệt, nơi những dấu tích núi lửa hàng triệu năm tuổi cùng hệ thống hang động, rừng nguyên sinh, hồ, thác và những giá trị văn hóa lâu đời của các dân tộc bản địa. Từ những giá trị tưởng như chỉ dành cho nghiên cứu khoa học, địa chất đang dần trở thành nền tảng để địa phương hình thành những sản phẩm du lịch trải nghiệm khác biệt.

Mùa vàng hút khách ở Mù Cang Chải

Mùa vàng hút khách ở Mù Cang Chải

Từ tháng 9 đến đầu tháng 10 hằng năm, vùng cao Mù Cang Chải, tỉnh Lào Cai lại bước vào “mùa vàng” đẹp nao lòng với những thửa ruộng bậc thang chín rộ, tạo nên bức tranh thiên nhiên kỳ vĩ, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến chiêm ngưỡng và check in, chụp ảnh.

Sơn La: Vẻ đẹp của Di tích Lịch sử - Văn hóa Hang Dơi

Sơn La: Vẻ đẹp của Di tích Lịch sử - Văn hóa Hang Dơi

Di tích Lịch sử - Văn hóa Hang Dơi (Động Sơn Mộc Hương) ở phường Mộc Sơn, là một Danh lam thắng cảnh tự nhiên, Di chỉ khảo cổ và cũng là Di tích lịch sử kháng chiến của tỉnh Sơn La. Tên gọi Hang Dơi xuất phát từ việc nơi đây có rất nhiều dơi sinh sống. Hiện nay, mặc dù dơi không còn nhiều như trước nhưng vẫn có những đàn dơi trú ngụ tại đây.

Khi trái ngọt kể câu chuyện đại ngàn

Khi trái ngọt kể câu chuyện đại ngàn

Lần đầu tiên được tổ chức ở quy mô cấp tỉnh, Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk năm 2026 là sự kết hợp hài hòa giữa văn hóa, du lịch, nông nghiệp, xúc tiến thương mại và quảng bá hình ảnh địa phương. Thành công từ Lễ hội tạo tiền đề quan trọng để tỉnh từng bước xây dựng, đưa Lễ hội Sầu riêng trở thành sản phẩm văn hóa - du lịch đặc trưng trong những năm tới.

Kết nối mở hướng phát triển du lịch bền vững

Kết nối mở hướng phát triển du lịch bền vững

Với lợi thế biển đẹp, cảnh quan hoang sơ cùng hệ thống di sản văn hóa, du lịch phía Đông Đắk Lắk đang có nhiều chuyển biến tích cực. Việc tăng cường kết nối giữa điểm đến, doanh nghiệp, làng nghề và cộng đồng đang mở ra hướng phát triển du lịch bền vững.

Slam Chiêm - Sắc màu trên thảo nguyên

Slam Chiêm - Sắc màu trên thảo nguyên

Trong không khí thi đua sôi nổi chào mừng kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), xã Hiệp Lực (tỉnh Thái Nguyên) đã tưng bừng tổ chức chuỗi hoạt động văn hóa, thể thao với chủ đề “Slam Chiêm - Sắc màu trên thảo nguyên”. Sự kiện mang đến không gian trải nghiệm văn hóa độc đáo, tràn ngập sức sống giữa thiên nhiên khoáng đạt.

Đưa điểm đến nơi cực Tây Tổ quốc vào khai thác du lịch

Đưa điểm đến nơi cực Tây Tổ quốc vào khai thác du lịch

Trong không khí cả nước hướng tới kỷ niệm 81 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh 2/9, sáng nay (1/9), UBND xã Sín Thầu, tỉnh Điện Biên tổ chức khai trương hoạt động du lịch tại Mốc giao điểm đường biên giới ba nước Việt Nam - Lào - Trung Quốc và Cột cờ A Pa Chải.

Đặc sắc Tuần Văn hóa - Du lịch trên cao nguyên Mộc Châu

Đặc sắc Tuần Văn hóa - Du lịch trên cao nguyên Mộc Châu

Chào mừng kỷ niệm 81 năm Quốc khánh 2/9, tối 31/8, tại Quảng trường 8/5 (phường Mộc Châu), tỉnh Sơn La tổ chức Khai mạc Tuần Văn hóa - Du lịch Mộc Châu và Đêm hội Thổ cẩm quốc tế Sơn La năm 2026 với chủ đề "Dệt di sản hòa giao sắc màu".

Đánh thức 'viên ngọc xanh' từ du lịch cộng đồng

Đánh thức 'viên ngọc xanh' từ du lịch cộng đồng

Cao nguyên La Vuông (phường Hoài Nhơn Bắc, tỉnh Gia Lai) nằm ở độ cao trên 700 m so với mực nước biển, sở hữu lợi thế về cảnh quan và giao thông kết nối. Đây là điều kiện thuận lợi để phường Hoài Nhơn Bắc từng bước khai thác du lịch trải nghiệm, gắn với cộng đồng và bảo vệ cảnh quan tự nhiên.

Rộn ràng ghé thăm 'Mường quên lãng'

Rộn ràng ghé thăm 'Mường quên lãng'

Từng được gọi là “Mường quên lãng”, Mường Lựm thuộc xã Chiềng Hặc, tỉnh Sơn La nay đang dần được đánh thức. Từ những phiên chợ vùng cao rộn ràng sắc màu, những sản vật mang hương vị núi rừng, đến di tích lịch sử, hồ nước giữa rừng nguyên sinh…, tất cả đang mở ra những câu chuyện mới về một điểm đến giàu tiềm năng trên hành trình khám phá vùng đất Sơn La.

Hành trình trải nghiệm đa dạng trên miền di sản

Hành trình trải nghiệm đa dạng trên miền di sản

Sau hợp nhất, không gian du lịch Tuyên Quang được mở rộng từ miền quê cách mạng Tân Trào, hồ sinh thái Na Hang - Lâm Bình đến Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn, những thửa ruộng bậc thang Hoàng Su Phì và miền biên cương Lũng Cú.

Thái Nguyên: Thúc đẩy quảng bá, giới thiệu điểm đến tại TP Hồ Chí Minh

Thái Nguyên: Thúc đẩy quảng bá, giới thiệu điểm đến tại TP Hồ Chí Minh

Chiều 28/8, tại TP Hồ Chí Minh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên đã tổ chức Hội nghị “Thái Nguyên - Điểm đến xanh cho du khách quốc tế” nhằm quảng bá, giới thiệu văn hóa, điểm đến, sản phẩm du lịch, tạo cầu nối cho doanh nghiệp du lịch - lữ hành mở rộng thị trường và thu hút du khách quốc tế đến địa phương.

Ứng dụng mạnh công nghệ số vào phát triển du lịch

Ứng dụng mạnh công nghệ số vào phát triển du lịch

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lào Cai phối hợp với Công ty Cổ phần IGB đã nghiên cứu, phát triển Ứng dụng Du lịch thông minh Lào Cai Tour trên các nền tảng số.

Đánh thức 'mỏ vàng xanh' từ nông nghiệp - Bài cuối

Đánh thức 'mỏ vàng xanh' từ nông nghiệp - Bài cuối

Từ hạt cà phê trên những triền đồi Khe Sanh, gói gạo quê giữa cánh đồng Hải Lăng đến chai nước mắm của làng biển hay sản vật trong những bản làng Bru - Vân Kiều, Pa Kô, Quảng Trị đang tìm cách gia tăng giá trị nông sản bằng du lịch. Khi du khách bước vào vùng nguyên liệu, gặp người làm ra sản phẩm và trải nghiệm đời sống bản địa, nông sản không chỉ là hàng hóa mà còn trở thành câu chuyện của một vùng đất.

Đánh thức 'mỏ vàng xanh' từ nông nghiệp - Bài 1

Đánh thức 'mỏ vàng xanh' từ nông nghiệp - Bài 1

Quảng Trị có lợi thế đa dạng về cảnh quan, hệ sinh thái, nông sản và văn hóa bản địa, từ những cánh đồng vùng đồng bằng, làng biển đến những đồi cà phê, bản làng dưới chân Trường Sơn. Những giá trị ấy đang được nhiều địa phương từng bước chuyển hóa thành sản phẩm du lịch, tạo thêm sinh kế cho người dân và nâng cao giá trị nông sản.