Tại các địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Khánh Hòa, thời gian này có rất đông trẻ đến trường để làm quen và học sớm tiếng phổ thông (tiếng Việt) đầu cấp tiểu học. Đây là hoạt động thiết thực, giúp các em khỏi bỡ ngỡ, mạnh dạn giao tiếp, sớm thành thạo kỹ năng nghe, nói tiếng phổ thông trước khi bước vào năm học mới.
Ở Trường Tiểu học Phước Lập và nhiều trường tiểu học khác ở xã Thuận Nam thời gian này, tiếng đọc, tiếng nói của các em học sinh và thầy, cô giáo đều đặn vang lên mỗi ngày. Đây là những lớp học đặc biệt dành cho trẻ em đồng bào dân tộc thiểu số, giúp các em làm quen với tiếng Việt, thầy cô và môi trường học tập trước khi bước vào lớp 1.
Thầy Quảng Đại Thể, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Phước Lập thông tin, nhà trường tổ chức các lớp dạy học tiếng Việt trong hè cho 65 em học sinh đến từ các thôn Phước Lập, Tâm Lang và một phần thôn của Văn Lâm 3 với nội dung trọng tâm là tập trung rèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và hình thành những kỹ năng học tập ban đầu cho trẻ. Những ngày đầu các em được làm quen với lớp học, với thầy cô, bạn bè và tập giao tiếp bằng tiếng Việt thông qua các hoạt động gần gũi, sinh động. Mỗi bài học được giáo viên lồng ghép với trò chơi kể chuyện, hát, múa giúp các em tiếp thu và mạnh dạn hơn. Không chỉ dạy các em nhận biết mặt chữ, các thầy cô còn hướng dẫn kỹ năng cầm bút, ngồi học đúng tư thế, xây dựng nề nếp và tạo sự hứng thú để các em thêm yêu trường, yêu lớp ngay từ những ngày đầu đi học.
Tại Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Nguyễn Bỉnh Khiêm (xã Thuận Nam), không khí học tập cũng diễn ra sôi nổi. Nhà trường đang tổ chức 5 lớp học với 160 học sinh tham gia. Cơ sở vật chất, phòng học, tài liệu và đồ dùng dạy học được nhà trường chuẩn bị đầy đủ, đội ngũ giáo viên có kinh nghiệm trực tiếp giảng dạy, giúp các em từng bước làm quen với môi trường học tập. Cùng với việc học tiếng Việt, các em còn được rèn luyện kỹ năng giao tiếp, làm việc theo nhóm, tự phục vụ và tham gia hoạt động trải nghiệm phù hợp với lứa tuổi để các em thêm tự tin khi bước vào năm học mới.
Với các địa phương có đồng bào dân tộc Raglai sinh sống như ở các xã Bác Ái, Ba Ngòi…, hơn một tháng nay, cứ đều đặn vào mỗi buổi sáng từ thứ Hai đến thứ Sáu hằng tuần, không khí học tập, rèn luyện cho các em học sinh luôn rất khẩn trương, tạo khí thế vui tươi, phấn khởi và hiệu quả, sẵn sàng cho một năm học mới.
Tại Trường Tiểu học Cam Phước Đông 1 (tổ dân phố Giải Phóng, phường Ba Ngòi), lớp học do cô giáo Võ Nguyên Thục Vân đứng lớp luôn rộn rã tiếng đọc bài của gần 50 em học sinh đồng bào dân tộc Raglai. Cô giáo cho biết, phần lớn học sinh đều là con em đồng bào Raglai. Nhiều em sử dụng tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hằng ngày nên khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt còn hạn chế. Vì vậy, nhà trường lập 2 lớp học hè dành cho học sinh từ 7-10 tuổi nhằm ôn tập, hệ thống lại kiến thức nền tảng về Toán và tiếng Việt, duy trì nề nếp học tập, tạo tâm thế tự tin để các em không bỡ ngỡ khi bước vào năm học mới.
Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Khánh Hòa phối hợp với chính quyền các địa phương thông báo cho Ban Giám hiệu các trường tiểu học tổ chức lớp dạy học tiếng Việt trong hè, tập trung rèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và hình thành kỹ năng học tập ban đầu cho trẻ. Các trường tập trung xây dựng mô hình hoạt động; phân công giáo viên đầu cấp có kinh nghiệm đứng lớp giảng dạy để học sinh nắm bắt nhanh nhất theo phương thức tổng hợp dưới dạng chủ đề... Hiện nay, các trường tiểu học ở vùng đồng bào dân tộc tiểu số ở Khánh Hòa bố trí giáo viên đứng lớp giảng dạy đều đặn, giúp các em biết rõ con chữ, ghép chữ thành câu, lồng ghép với trò chơi dân gian, kể chuyện, hát, múa giúp các em cởi mở, hoạt bát hơn, tiếp thu nhanh nhạy hơn.
Việc tăng cường dạy tiếng Việt cho học sinh đồng bào dân tộc thiểu số là chuỗi hoạt động có ý nghĩa, hiệu quả, góp phần thu hẹp khoảng cách về ngôn ngữ, tạo điều kiện để các em tiếp cận với chương trình giáo dục thuận lợi hơn, đảm bảo khi vào năm học mới sẽ tránh được tình trạng bỡ ngỡ... Những lớp học trong dịp hè rồi sẽ khép lại, nhưng kiến thức và kỹ năng được trang bị hôm nay sẽ là hành trang thiết thực, giúp các em học sinh đồng bào dân tộc có thêm nghị lực vượt qua rào cản ngôn ngữ, tự tin bước vào đầu cấp học thuận lợi./.
Nhóm địa phương: Rai (ở Hàm Tân - Bình Thuận), Hoang, La Oang (Ðức Trọng - Lâm Ðồng)...
Dân số: 122.245 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Pôlynêxia (ngữ hệ Nam Ðảo). Do có sự tiếp xúc với các dân tộc khác quanh vùng nên ở người Ra Glai đã xuất hiện tượng song ngữ và đa ngữ. Tiếng phổ thông hiện giữ một vai trò quan trọng, là ngôn ngữ giao tiếp của người dân nơi đây với những dân tộc cận cư khác.
Lịch sử: Người Ra Glai đã sinh sống lâu đời ở vùng miền Nam Trung bộ.
Hoạt động sản xuất: Nghề làm rẫy luôn chi phối các hoạt động kinh tế khác. Trên rẫy đồng bào trỉa cả lúa, bắp, đậu, bầu bí và cây ăn trái. Rẫy được phát bằng chà gạc, rựa hoặc rìu. Cư dân sử dụng đoạn gỗ ngắn, nhọn đầu để trỉa giống, làm cỏ rẫy bằng chiếc cào nhỏ và thu hoạch lúa bằng tay... Rèn và đan lát là hai nghề thủ công khá phát triển... Chăn nuôi phổ biến với các đàn gia súc, gia cầm gồm trâu, lợn, gà, vịt... Ngày nay cư dân đã biết trồng cấy lúa nước.
Có nhiều cách chế thóc thành gạo: xay, cối giã gạo bằng chân, cối giã gạo bằng sức nước, cối giã gạo bằng chày, tay... Người Ra Glai cũng như các dân tộc Tây Nguyên phổ biến giã gạo bằng chày tay.
Cồng chiêng là nhạc cụ rất phổ biến ở Tây Nguyên và các tỉnh miền Trung. Nam nữ, người già, người trẻ Ra Glai đều say sưa chơi và thưởng thức tiếng cồng chiêng trong các đêm hội.
Ðàn môi là một loại nhạc cụ truyền thống của người Ra Glai, các bộ phận của đàn được làm bằng các chất liệu khác nhau: nhôm, lá đồng, tre, dây đàn, sáp ong. Khi thổi tay phải giữ bệ đàn, thân đàn cho vào môi ngậm, ngón tay trỏ của tay trái gầy vào đầu nốt nhạc.
Ăn: Sáng và chiều là hai bữa ăn chính. Cơm trưa thường được mang lên rẫy. Canh nấu lẫn thịt, cá và các loại rau là món ăn được ưa thích. Ðồ uống gồm nước lã đựng trong vỏ bầu khô và rượu cần. Thuốc lá tự thái, quấn trong vỏ bắp ngô được dùng phổ biến trong các gia đình.
Mặc: Rất khó tìm thấy y phục truyền thống của người Ra Glai. Ngày nay, đàn ông thì mặc quần âu và áo sơ mi, đàn bà mặc váy hoặc quần với áo bà ba. Thời xa xưa, đàn ông nơi đây ở trần, đóng một loại khố đơn giản, không có hoa văn trang trí. Những ngày lễ hội truyền thống, phụ nữ mặc áo dài, phía trên được ghép thành những ô vuông màu đỏ trắng xen kẽ nhau.
Ở: Người Ra Glai ở trong vùng núi và thung lũng có độ cao từ 500-1000m, tập trung ở các huyện Ninh Sơn (Ninh Thuận), Bắc Bình (Bình Thuận) và một số nơi thuộc Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Ðồng. Trước đây, họ ở nhà sàn. Hiện nay, nhà đất đã khá phổ biến. Những căn nhà thường có dạng hình vuông, chỉ rộng chừng 12-14m2. Một vài nhà lớn hơn, có hình chữ nhật. Kỹ thuật lắp ghép rất đơn sơ, chủ yếu sử dụng chạc cây và dây buộc. Mái lợp bằng tranh hoặc lá mây. Vách được che bằng phên đan hay sử dụng đất trát.
Phương tiện vận chuyển: Như các dân tộc khác trên Trường Sơn - Tây Nguyên, phương tiện vận chuyển của người Ra Glai là gùi. Gùi được đan đơn giản, không hoa văn trang trí. Gùi có các kích cỡ khác nhau, phù hợp với đôi vai của từng người và từng công việc cụ thể.
Quan hệ xã hội: Mỗi làng là nơi sinh sống của nhiều dòng họ. Trong những trường hợp cần thiết "Hội đồng già làng" hình thành dựa trên sự thừa nhận của mọi thành viên trong làng. Mỗi đơn vị cư trú đều có một người đứng đầu, là người có công tìm đất lập làng. Khi nhiều làng cùng sinh tụ trên một vùng rừng núi thì ở đó có một người là chủ núi bên cạnh các chủ làng... Tầng lớp thày cúng cũng đã hình thành. Tuy nhiên, mọi quan hệ xã hội của người Ra Glai trước kia và hiện nay đều chịu sự chi phối của chế gia đình mẫu hệ.
Cưới xin: Tình yêu của trai gái trước hôn nhân được người Ra Glai tôn trọng. Việc cưới xin phải trải qua nhiều bước, nhiều thủ tục khá phức tạp. Lễ cưới được tiến hành cả ở hai bên gia đình: nhà gái trước, nhà trai sau. Quan trọng nhất trong lễ cưới là nghi thức trải chiếu cho cô dâu, chú rể. Cô dâu, chú rể ngồi trên chiếu này để hai ông cậu của hai bên cúng trình với tổ tiên, thần linh về việc cưới xin. Cũng chính trên chiếc chiếu này, họ ăn chung bữa cơm đầu tiên trước sự chứng kiến của hai họ. Sau lễ cưới, việc cư trú bên vợ đang còn phổ biến.
Sinh đẻ: Trước và sau khi sinh nở, phụ nữ Ra Glai kiêng một số thức ăn, không nói tên một vài loài thú và tránh làm những công việc nặng nhọc. Họ được chồng dựng cho một căn nhà nhỏ ở bìa rừng để sinh đẻ. Họ đẻ ngồi và tự mình giải quyết các công việc khi sinh. Một số nơi, sản phụ được sự giúp đỡ của một người đàn bà giàu kinh nghiệm. Khi sinh xong, người mẹ bế con về nhà và khoảng 7 ngày sau họ tiếp tục làm các công việc như bình thường. Ngày nay, phụ nữ nơi đây đã đến sinh đẻ ở trạm xá, với sự giúp đỡ của các nữ hộ sinh.
Ma chay: Người chết được quấn trong vải hoặc quần áo cũ rồi đặt trong quan tài bằng thân cây rỗng hay quấn bằng vỏ cây là tuỳ theo mức giàu nghèo của gia đình. Người chết được chôn trên rẫy hoặc trong rừng, đầu hướng về phía tây. Khi có đủ điều kiện về kinh tế người ta làm lễ bỏ mả, dựng nhà mồ cho người chết. Quanh nhà mồ được trồng các loại cây như: chuối, mía, dứa và khoai môn. Trên đỉnh nhà mồ còn có hình chiếc thuyền và những chú chim bông lau. Vật dụng thuộc về người chết được phá hỏng, đặt quanh nhà và trong nhà mồ.
Thờ cúng: Người Ra Glai cho rằng có một thế giới thần linh bao quanh và vượt ra ngoài hiểu biết của họ. Các vị thần đều có thể bớt gây tai họa hay trợ giúp họ nếu được cúng tế và thỉnh cầu. Vong linh người chết là lực lượng siêu nhiên gây cho họ nhiều sợ hãi nhất. Cư dân còn tin vào sự linh hoá của các loại thú vật... Vì vậy, hàng năm thường xuyên diễn ra các nghi lễ cúng bái với việc hiến tế để mong thần linh giúp đỡ. Việc cúng tế này đã có sự tham gia của lớp thầy cúng, họ đang dần tách khỏi lao động và coi cúng bái như một nghề nghiệp chính thức.
Lễ tết: Theo chu kỳ sản xuất, người Ra Glai thường tiến hành các nghi lễ khi chọn rẫy, phát và đốt rẫy, gieo trỉa và thu hoạch. Theo chu kỳ đời người, đó là các lễ tiết khi sinh nở, lúc ốm đau, rồi cưới xin, ma chay... Những nghi lễ lớn trong năm thường tập trung vào khoảng tháng 1-2 dương lịch, khi đã thu hoạch rẫy, gồm cả lễ mừng thu hoạch, cưới xin và lễ bỏ mả. Ðây chính là những ngày tết của cư dân vùng này.
Văn nghệ: Ðó là những truyện cổ tích, thần thoại, những làn điệu dân ca, những câu tục ngữ, ca dao... thể hiện tâm tư, tình cảm của cư dân. Ðó cúng còn là bộ nhạc cụ khá phong phú của người Ra Glai. Bộ chiêng đồng đầy đủ với 12 chiếc. Tuy nhiên, có thể sử dụng 4, 6, 7 hay 9 chiếc. Khèn bầu, khèn môi, đàn ống tre khá phổ biến. Người Ra Glai cũng là cư dân biết sử dụng những thanh đá kêu, ghép thành bộ thường gọi là đàn đá, đánh thay chiêng, khá độc đáo và lý thú.
Theo cema.gov.vn