Kết nối di sản địa chất với văn hóa, ẩm thực, làng nghề

Tỉnh Đắk Lắk đang triển khai Đề án xây dựng Công viên địa chất Phú Yên hướng tới danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu UNESCO.

Mục tiêu không chỉ hướng đến một danh hiệu quốc tế mà còn bảo tồn các giá trị địa chất, thiên nhiên, văn hóa, lịch sử. Tiềm năng, giá trị này sẽ được khai thác hiệu quả để phục vụ phát triển du lịch bền vững, nâng cao sinh kế cộng đồng và quảng bá hình ảnh vùng đất phía Đông tỉnh Đắk Lắk.

Tiềm năng lớn, giá trị cao

phu-yen3-200826.jpg
Sự đa dạng về địa chất trong Công viên địa chất Phú Yên tạo nên nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp cho khu vực phía Đông tỉnh Đắk Lắk.

Công viên địa chất Phú Yên được thành lập năm 2024, có tổng diện tích gần 2.000km2 đất liền và khoảng 1.000km2 vùng biển; nằm trên địa bàn 22 xã, phường phía Đông tỉnh Đắk Lắk. Với đường bờ biển dài gần 189km cùng hệ thống đảo ven bờ, gành đá, bãi biển, đầm và vịnh, khu vực sở hữu nhiều giá trị đặc sắc về địa chất, cảnh quan, văn hóa và đa dạng sinh học. Đây còn là mảnh đất hội tụ, giao lưu văn hóa của nhiều dân tộc như Kinh, Hoa, Chăm, Ê Đê, Ba Na…

Theo Ban Quản lý Công viên địa chất Phú Yên, nổi bật về địa chất trong khu vực công viên là các dấu tích đá biến chất có tuổi từ 1,8 - 2 tỷ năm tại núi Chóp Chài, núi Mù U, Nhất Tự Sơn… Trong hàng triệu năm trước, hoạt động của những khối magma nguội lại thành đá granit cổ hiện diện ở núi Nhạn, đèo Cả, núi Đá Bia. Dấu tích các đợt phun trào núi lửa tạo đá bazan dạng cột ở gành Đá Đĩa, Hòn Yến, Hòn Đụn. Sự hình thành biển Đông và các hoạt động đới đứt gãy sâu sông Ba để lại dấu tích qua các điểm xuất lộ nước nóng như: Phú Sen, Trà Ô, Lạc Sanh. Ngoài ra, quá trình tương tác giữa lục địa và đại dương tạo nên những cảnh quan độc đáo như đầm Ô Loan, đầm Cù Mông, vịnh Xuân Đài.

phu-yen-200826.jpg
Mũi Đại Lãnh (xã Hòa Xuân) nằm trong khu vực Công viên địa chất Phú Yên.

Bên cạnh các giá trị di sản địa chất, Công viên địa chất Phú Yên còn là nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể với 3 di tích quốc gia đặc biệt, 19 di tích quốc gia, hơn 80 di tích cấp tỉnh và 4 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Các di tích quốc gia và di tích cấp tỉnh phong phú về loại hình gồm: lịch sử văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ, danh lam thắng cảnh... Các di sản văn hóa này đang là một trong những điểm du lịch thu hút đông đảo khách tham quan.

Công viên địa chất Phú Yên có đường bờ biển dài cùng với nhiều đầm, vịnh, sông suối nên mang đậm đặc trưng văn hóa miền sông nước. Nhiều lễ hội truyền thống gắn liền với đời sống và sinh hoạt văn hóa cộng đồng nơi đây. Một số lễ hội tiêu biểu như cầu ngư, đua thuyền gắn với các loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian đặc trưng như bài chòi, hò bả trạo, hò khoan, hát tuồng... Đặc biệt, nghệ thuật Bài chòi Phú Yên cùng với Nghệ thuật bài chòi Trung Bộ Việt Nam đã được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

phu-yen2-200826.jpg
Gành Đá Đĩa thu hút du khách bởi cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, đa dạng, đặc biệt.

Vùng Công viên địa chất Phú Yên đã hình thành, tồn tại và phát triển nhiều làng nghề thủ công truyền thống, lưu giữ nhiều giá trị văn hóa, tri thức và gắn liền với sinh kế người dân như: Nghề làm nước mắm, nghề làm bánh tráng, nghề làm thúng chai, nghề làm muối, nghề gốm, nghề dệt chiếu cói, nghề dệt thổ cẩm… Hiện nay, việc phát triển du lịch gắn với làng nghề đang là mô hình mang lại cho du khách những trải nghiệm lý thú thông qua việc du khách trực tiếp tham gia vào các công đoạn sản xuất, lắng nghe câu chuyện của nghệ nhân và cảm nhận giá trị văn hóa được gìn giữ trong từng sản phẩm.

Sự đa dạng về hệ thực vật, động vật trên cạn và thủy sinh trong Công viên địa chất Phú Yên tạo thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái, du lịch khám phá thiên nhiên, du lịch gắn với giáo dục môi trường cũng như phát triển nuôi trồng thủy sản.

Bảo tồn để phát triển du lịch

phu-yen4-200826.jpg
Các đợt phun trào núi lửa hàng triệu năm trước tạo đá bazan dạng cột ở gành Đá Đĩa (xã Tuy An Đông).

Theo ông Huỳnh Vĩnh Ngọc, Giám đốc Ban Quản lý Công viên địa chất Phú Yên, triển khai Đề án xây dựng Công viên địa chất Phú Yên hướng tới danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu UNESCO, Ban đang triển khai 12 nhiệm vụ trọng tâm; trong đó tập trung khảo sát, đánh giá di sản địa chất, đa dạng sinh học và hoàn thiện hồ sơ trình UNESCO trong năm 2027. Đồng thời, Ban đẩy mạnh hợp tác, đào tạo, tổ chức hội nghị quốc tế, quảng bá và phát triển du lịch gắn với công viên địa chất.

Dù Công viên địa chất Phú Yên có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch nhưng hiện nay chưa phát huy hết giá trị. Nhiều ý kiến của các chuyên gia, nhà đầu tư, người dân cho rằng, hạ tầng tại một số điểm di sản chưa đáp ứng yêu cầu đón khách quy mô lớn. Một số đơn vị lữ hành du lịch hoạt động diễn giải di sản còn thiếu tính chuyên nghiệp; chưa truyền tải đầy đủ những câu chuyện khoa học, văn hóa và lịch sử đến du khách... Đây là những thách thức cần được giải quyết bằng một chiến lược dài hạn đối với ngành du lịch tỉnh Đắk Lắk.

phu-yen5-200826.jpg
Rừng ngập nước Bầu Đá (xã Hòa Thịnh), nằm trong Công viên địa chất Phú Yên, có hệ sinh thái tự nhiên đa dạng.

Ông Hoàng Xuân Đôn, Trưởng Ban Quản lý Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn nhận định, Công viên địa chất Phú Yên có tiềm năng lớn về địa chất, văn hóa và thiên nhiên. Việc được UNESCO công nhận sẽ tạo động lực cho phát triển du lịch. Đắk Lắk cần hoàn thiện đội ngũ chuyên môn, chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO và đặc biệt phát huy vai trò cộng đồng; đồng thời phát triển làng nghề gắn với du lịch, tạo sinh kế cho người dân, qua đó nâng cao ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

Để Công viên địa chất Phú Yên đạt các tiêu chí Công viên địa chất toàn cầu UNESCO, tỉnh Đắk Lắk đặt mục tiêu xây dựng một mô hình phát triển thực chất, lấy bảo tồn làm nền tảng, lấy cộng đồng làm trung tâm. Bên cạnh đó, địa phương tập trung hình thành các tuyến du lịch địa chất, du lịch trải nghiệm, du lịch cộng đồng, du lịch giáo dục và du lịch nghiên cứu; kết nối di sản địa chất với văn hóa, ẩm thực, làng nghề và nông nghiệp địa phương để tạo chuỗi sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Khi người dân được hưởng lợi từ di sản, cộng đồng sẽ trở thành lực lượng tích cực nhất trong việc gìn giữ các giá trị địa chất, thiên nhiên và văn hóa.

phu-yen6-200826.jpg
Rừng đặc dụng Đèo Cả nằm trong Công viên địa chất Phú Yên lưu giữ nhiều hệ thực vật, động vật quý hiếm.

Ông Trịnh Hải Sơn, Viện trưởng Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Chủ tịch Tiểu ban Chuyên môn Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Việt Nam khẳng định, xây dựng Công viên địa chất Phú Yên theo tiêu chí UNESCO là một chiến lược dài hạn, đòi hỏi sự kiên trì, kỷ cương khoa học và sự đồng thuận của cả hệ thống chính trị, doanh nghiệp và cộng đồng. Mục tiêu không chỉ là đạt được danh hiệu mà quan trọng hơn là bảo tồn được các giá trị di sản, tạo sinh kế bền vững và đưa những giá trị đặc sắc của Phú Yên đến gần hơn với bạn bè trong nước và quốc tế.

Tiểu ban Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Việt Nam tiếp tục phối hợp với tỉnh Đắk Lắk, huy động mạng lưới chuyên gia trong nước và quốc tế, đồng hành trong quá trình khảo sát, hoàn thiện hồ sơ và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho các bước thẩm định theo tiêu chí UNESCO./.

Dân tộc Chăm

Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...

Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.

Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).

Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh ThuậnBình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.

Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.

Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.

Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.

Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.

Vào dịp lễ Ramưwan, nam nữ người Chăm thường khoác lên mình trang phục truyền thống với nhiều sắc màu thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng người Chăm. Ảnh Nguyễn Thanh.jpg
Vào dịp lễ Ramưwan, nam nữ người Chăm thường khoác lên mình trang phục truyền thống với nhiều sắc màu thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng người Chăm. Ảnh Nguyễn Thanh

: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.

Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...

Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.

Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ. 

Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà. 

Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.

Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.

Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo. 

Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp. 

Thiếu nữ Chăm biểu diễn điệu múa truyền thống trong lễ hội Katê. Ảnh Nguyễn Thanh.jpg
Thiếu nữ Chăm biểu diễn điệu múa truyền thống trong lễ hội Katê. Ảnh Nguyễn Thanh

Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.  

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Chăm
Dân tộc Ê Đê

Tên tự gọi: Anăk Ea Ðê, Ra Ðê (hay Rhađê), ê Ðê, êgar, Ðê.

Nhóm địa phương: Kpă, Adham, Krung, Mđhur, Ktul, Dliê, Hruê, Bih, Blô, Kah, Kdrao, Dong Kay, Dong Mak, Ening, Arul, Hwing, Ktlê, Êpan... 

Dân số: 331.194 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói của người Ê Đê thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Pôlinêxia (ngữ hệ Nam Ðảo).

Lịch sử: Người Ê Đê là cư dân đã có mặt lâu đời ở miền trung Tây Nguyên. Dấu vết về nguồn gốc hải đảo của dân tộc Ê Đê đã phản ánh lên từ các sử thi và trong nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật tạo hình dân gian. Cho đến nay, cộng đồng Ê Đê vẫn còn là một xã hội đang tồn tại những truyền thống đậm nét mẫu hệ ở nước ta.

Hoạt động sản xuất: Người Ê Đê chủ yếu trồng lúa rẫy theo chế độ luân khoảnh. Rẫy sau một thời gian canh tác thì bỏ hoá cho rừng tái sinh rồi mới trở lại phát, đốt. Chu kỳ canh tác khoảng từ 5-8 năm tuỳ theo chất đất và khả năng hồi phục của đất. Rẫy đa canh và mỗi năm chỉ trồng một vụ. Ruộng nước trâu quần chỉ có ít nhiều ở vùng Bih ven hồ Lắc.

Gia súc được nuôi nhiều hơn cả là lợn và trâu, gia cầm được nuôi nhiều là gà, nhưng chăn nuôi chủ yếu chỉ để phục vụ cho tín ngưỡng. Nghề thủ công gia đình phổ biến có nghề đan lát mây tre làm đồ gia dụng, nghề trồng bông dệt vải bằng khung dệt kiểu Inđônêdiêng cổ xưa. Nghề gốm và rèn không phát triển lắm. Trước đây việc mua bán, trao đổi bằng phương thức hàng đổi hàng.

Ăn: Người Ê Đê ăn cơm tẻ bằng cách nấu trong nồi đất nung hay nồi đồng cỡ lớn. Thức ăn có muối ớt, măng, rau, củ do hái lượm, cá, thịt, chim thú do săn bắn. Thức uống có rượu cần ủ trong các vò sành. Xôi nếp chỉ dùng trong dịp cúng thần. Nam nữ đều có tục ăn trầu cau.

Mặc: Trang phục truyền thống là phụ nữ quấn váy tấm dài đến gót, mùa hè thì ở trần hay mặc áo ngắn chui đầu. Nam giới thì đóng khố, mặc áo cánh ngắn chui đầu. Mùa lạnh, nam nữ thường choàng thêm một tấm mền. Ðồ trang sức có chuỗi hạt, vòng đồng, vòng kền đeo ở cổ và tay, chân. Nam nữ đều có tục cà răng-căng tai và nhuộm đen răng. Ðội đầu có khăn, nón.

: Ðịa bàn cư trú chủ yếu hiện nay là tỉnh Ðắk Lắk, phía nam tỉnh Gia Lai và miền tây Phú Yên, Khánh Hòa. Ngôi nhà truyền thống của người Ê Đê là nhà sàn dài, kiến trúc mô phỏng hình thuyền với 2 đặc trưng cơ bản là: hai vách dọc dựng thượng thách - hạ thu; hai đầu mái nhô ra. Nhà chỉ có hai hàng cột ngang, kết cấu theo vì cột, không kết cấu theo vì kèo. Không gian nội thất chia ra làm hai phần theo chiều dọc. Phần đầu gọi là Gah, vừa là phòng khách, vừa là nơi sinh hoạt cộng đồng của cả đại gia đình mẫu hệ. Phần cuối gọi là ôk, dành cho các cặp hôn nhân ở trong từng buồng có vách ngăn bằng phên nứa.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là gùi đan cõng trên lưng bằng đôi quai quàng qua vai. ở vùng Krông Băk phổ biến có loại gùi cao cẳng. Vận chuyển trên bộ thì có voi nhưng không phổ biến lắm.

Quan hệ xã hội: Gia đình Ê Đê là gia đình mẫu hệ, hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con mang họ mẹ, con gái út là người thừa kế. Xã hội Ê Đê vận hành theo tập quán pháp truyền của tổ chức gia đình mẫu hệ. Cả cộng đồng được chia làm hai hệ dòng để thực hiện hôn nhân trao đổi. Làng gọi là buôn và là đơn vị cư trú cơ bản, cũng là tổ chức xã hội duy nhất. Người trong một buôn thuộc về nhiều chi họ của cả hai hệ dòng nhưng vẫn có một chi họ là hạt nhân. Ðứng đầu mỗi làng có một người được gọi là chủ bến nước (Pô pin ca) thay mặt vợ điều hành mọi hoạt động của cộng đồng.

Cưới xin: Người phụ nữ chủ động trong việc hôn nhân, nhờ mai mối hỏi chồng và cưới chồng về ở rể. Khi một trong hai người qua đời thì gia đình và dòng họ của người quá cố phải có người đứng ra thay thế theo tục "nối dòng" (chuê nuê) để cho người sống không bao giờ đơn lẻ, sợi dây luyến ái giữa hai dòng họ Niê và Mlô không có chỗ nào bị đứt theo lời truyền bảo của ông bà xưa.

Ma chay: Khi có người chết thì tục nối dòng phải được thực hiện. Người chết già và chết bệnh thì tang lễ được tổ chức tại nhà rồi đưa ra nghĩa địa thổ táng. Xưa kia có tục người trong một dòng họ chết trong một thời gian gần nhau thì các quan tài được chôn chung một huyệt. Vì quan niệm thế giới bên kia là sự tái hiện thế giới bên này nên người chết được chia tài sản đặt ở nhà mồ. Khi dựng nhà mồ, lễ bỏ mả được tổ chức linh đình, sau đó là sự kết thúc việc săn sóc vong linh và phần mộ.

Nhà mới: Việc làm nhà được cả làng quan tâm. Sự giúp đỡ lẫn nhau về nguyên vật liệu: gỗ, tre, nứa và tranh lợp cũng như ngày công thông qua hình thức gọi là H’rim zít (tổ chức "giúp công" lao động hay "đổi công" trong làng). Lễ khánh thành được tiến hành sau khi dựng xong hàng cây chân vách. Nhưng việc dọn lên nhà mới có thể được thực hiện trước đó một thời gian dài khi các điều kiện để khánh thành nhà chưa cho phép. Nữ giới là đoàn người đầu tiên được bước lên sàn nhà mới. Họ mang theo nước và lửa để sưởi ấm và tưới mát cho nơi cư trú mới mẻ này. Ðó là cách chúc phúc cho ngôi nhà và các thành viên của gia chủ. Dẫn đầu các thành viên nữ là một khoa sang – bà chủ của gia đình mẫu hệ.

Lễ Tết: Người Ê Đê ăn tết vào tháng chạp (tháng 12 lịch âm) khi mùa màng đã thu hoạch xong (không vào một ngày nhất định, tuỳ theo từng buôn). Sau tế ăn mừng cơm mới (hmạ ngắt) rồi mới đến tết (mnăm thun) ăn mừng vụ mùa bội thu. Ðó là tết lớn nhất, nhà giàu có khi mổ trâu, bò để cúng thần lúa; nhà khác thì mổ lợn gà. Vị thần lớn nhất là đấng sáng tạo Aê Ðiê và Aê Ðu rồi đến thần đất (yang lăn), thần lúa (yang mđiê) và các thần linh khác. Phổ biến quan niệm vạn vật hữu linh. Các vị thần nông được coi là phúc thần. Sấm, sét, giông bão, lũ lụt và ma quái được coi là ác thần. Nghi lễ theo đuổi cả đời người và lễ cầu phúc, lễ mừng sức khoẻ cho từng cá nhân. Ai tổ chức được nhiều nghi lễ này và nhất là những nghi lễ lớn hiến sinh bằng nhiều trâu, bò, chè quý (vò ủ rượu cần) thì người đó càng được dân làng kính nể.

Lịch: Nông lịch cổ truyền Ê Đê được tính theo tuần trăng: một năm có 12 tháng và được chia làm 9 mùa tương ứng với 9 công đoạn trong chu kỳ nông nghiệp rẫy: mùa phát rẫy, mùa đốt rẫy mới, mùa xới đất, mùa diệt cỏ... Mỗi tháng có 30 ngày.

Học: Việc học tập (học nghề, truyền bá kiến thức...) theo lối làm mẫu, bắt chước và nhập tâm, truyền khẩu. Ðến năm 1923 mới xuất hiện chữ Ê Đê theo bộ vần chữ cái La-tinh.

Văn nghệ: Có hình thức kể khan rất hấp dẫn. Về văn chương, khan là sử thi, trường ca cổ xưa; về hình thức biểu diễn là loại ngâm kể kèm theo một số động tác để truyền cảm. Về dân ca có hát đối đáp, hát đố, hát kể gia phả... Nền âm nhạc Ê Đê nổi tiếng ở bộ cồng chiêng gồm 6 chiêng bằng, 3 chiêng núm, một chiêng giữ nhịp và một trống cái mặt da. Không có một lễ hội nào, một sinh hoạt văn hoá nào của cộng đồng lại có thể vắng mặt tiếng cồng chiêng. Bên cạnh cồng chiêng là các loại nhạc cụ bằng tre nứa, vỏ bầu khô như các dân tộc khác ở Trường Sơn, Tây Nguyên, nhưng với ít nhiều kỹ thuật riêng mang tính độc đáo.

Chơi: Trẻ em thường thích chơi cù quay, thả diều vằng có sáo trúc. Trò chơi đi cà kheo trên cao nguyên cũng lôi cuốn không ít thiếu niên Ê Đê ở nhiều nơi. Trò bịt mắt dê, ném lao (ném xa và ném trúng mục tiêu cũng được nhiều trẻ em Ê Đê ưa thích.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Ê Đê

Có thể bạn quan tâm

Gieo mùa hoa, hẹn mùa hội trên Cao nguyên đá Đồng Văn

Gieo mùa hoa, hẹn mùa hội trên Cao nguyên đá Đồng Văn

Trên những triền núi vừa đi qua mùa ngô, người dân các xã vùng cao tỉnh Tuyên Quang lại bắt đầu làm đất, lên luống, gieo xuống những hạt tam giác mạch nhỏ bé, chuẩn bị cho Lễ hội Hoa tam giác mạch lần thứ XII với chủ đề “Âm vang miền đá”.

Những trải nghiệm độc đáo từ dấu tích núi lửa hàng triệu năm tuổi

Những trải nghiệm độc đáo từ dấu tích núi lửa hàng triệu năm tuổi

Phía Tây tỉnh Lâm Đồng đang sở hữu một không gian tự nhiên đặc biệt, nơi những dấu tích núi lửa hàng triệu năm tuổi cùng hệ thống hang động, rừng nguyên sinh, hồ, thác và những giá trị văn hóa lâu đời của các dân tộc bản địa. Từ những giá trị tưởng như chỉ dành cho nghiên cứu khoa học, địa chất đang dần trở thành nền tảng để địa phương hình thành những sản phẩm du lịch trải nghiệm khác biệt.

Mùa vàng hút khách ở Mù Cang Chải

Mùa vàng hút khách ở Mù Cang Chải

Từ tháng 9 đến đầu tháng 10 hằng năm, vùng cao Mù Cang Chải, tỉnh Lào Cai lại bước vào “mùa vàng” đẹp nao lòng với những thửa ruộng bậc thang chín rộ, tạo nên bức tranh thiên nhiên kỳ vĩ, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến chiêm ngưỡng và check in, chụp ảnh.

Sơn La: Vẻ đẹp của Di tích Lịch sử - Văn hóa Hang Dơi

Sơn La: Vẻ đẹp của Di tích Lịch sử - Văn hóa Hang Dơi

Di tích Lịch sử - Văn hóa Hang Dơi (Động Sơn Mộc Hương) ở phường Mộc Sơn, là một Danh lam thắng cảnh tự nhiên, Di chỉ khảo cổ và cũng là Di tích lịch sử kháng chiến của tỉnh Sơn La. Tên gọi Hang Dơi xuất phát từ việc nơi đây có rất nhiều dơi sinh sống. Hiện nay, mặc dù dơi không còn nhiều như trước nhưng vẫn có những đàn dơi trú ngụ tại đây.

Khi trái ngọt kể câu chuyện đại ngàn

Khi trái ngọt kể câu chuyện đại ngàn

Lần đầu tiên được tổ chức ở quy mô cấp tỉnh, Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk năm 2026 là sự kết hợp hài hòa giữa văn hóa, du lịch, nông nghiệp, xúc tiến thương mại và quảng bá hình ảnh địa phương. Thành công từ Lễ hội tạo tiền đề quan trọng để tỉnh từng bước xây dựng, đưa Lễ hội Sầu riêng trở thành sản phẩm văn hóa - du lịch đặc trưng trong những năm tới.

Kết nối mở hướng phát triển du lịch bền vững

Kết nối mở hướng phát triển du lịch bền vững

Với lợi thế biển đẹp, cảnh quan hoang sơ cùng hệ thống di sản văn hóa, du lịch phía Đông Đắk Lắk đang có nhiều chuyển biến tích cực. Việc tăng cường kết nối giữa điểm đến, doanh nghiệp, làng nghề và cộng đồng đang mở ra hướng phát triển du lịch bền vững.

Slam Chiêm - Sắc màu trên thảo nguyên

Slam Chiêm - Sắc màu trên thảo nguyên

Trong không khí thi đua sôi nổi chào mừng kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), xã Hiệp Lực (tỉnh Thái Nguyên) đã tưng bừng tổ chức chuỗi hoạt động văn hóa, thể thao với chủ đề “Slam Chiêm - Sắc màu trên thảo nguyên”. Sự kiện mang đến không gian trải nghiệm văn hóa độc đáo, tràn ngập sức sống giữa thiên nhiên khoáng đạt.

Đưa điểm đến nơi cực Tây Tổ quốc vào khai thác du lịch

Đưa điểm đến nơi cực Tây Tổ quốc vào khai thác du lịch

Trong không khí cả nước hướng tới kỷ niệm 81 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh 2/9, sáng nay (1/9), UBND xã Sín Thầu, tỉnh Điện Biên tổ chức khai trương hoạt động du lịch tại Mốc giao điểm đường biên giới ba nước Việt Nam - Lào - Trung Quốc và Cột cờ A Pa Chải.

Đặc sắc Tuần Văn hóa - Du lịch trên cao nguyên Mộc Châu

Đặc sắc Tuần Văn hóa - Du lịch trên cao nguyên Mộc Châu

Chào mừng kỷ niệm 81 năm Quốc khánh 2/9, tối 31/8, tại Quảng trường 8/5 (phường Mộc Châu), tỉnh Sơn La tổ chức Khai mạc Tuần Văn hóa - Du lịch Mộc Châu và Đêm hội Thổ cẩm quốc tế Sơn La năm 2026 với chủ đề "Dệt di sản hòa giao sắc màu".

Đánh thức 'viên ngọc xanh' từ du lịch cộng đồng

Đánh thức 'viên ngọc xanh' từ du lịch cộng đồng

Cao nguyên La Vuông (phường Hoài Nhơn Bắc, tỉnh Gia Lai) nằm ở độ cao trên 700 m so với mực nước biển, sở hữu lợi thế về cảnh quan và giao thông kết nối. Đây là điều kiện thuận lợi để phường Hoài Nhơn Bắc từng bước khai thác du lịch trải nghiệm, gắn với cộng đồng và bảo vệ cảnh quan tự nhiên.

Rộn ràng ghé thăm 'Mường quên lãng'

Rộn ràng ghé thăm 'Mường quên lãng'

Từng được gọi là “Mường quên lãng”, Mường Lựm thuộc xã Chiềng Hặc, tỉnh Sơn La nay đang dần được đánh thức. Từ những phiên chợ vùng cao rộn ràng sắc màu, những sản vật mang hương vị núi rừng, đến di tích lịch sử, hồ nước giữa rừng nguyên sinh…, tất cả đang mở ra những câu chuyện mới về một điểm đến giàu tiềm năng trên hành trình khám phá vùng đất Sơn La.

Hành trình trải nghiệm đa dạng trên miền di sản

Hành trình trải nghiệm đa dạng trên miền di sản

Sau hợp nhất, không gian du lịch Tuyên Quang được mở rộng từ miền quê cách mạng Tân Trào, hồ sinh thái Na Hang - Lâm Bình đến Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn, những thửa ruộng bậc thang Hoàng Su Phì và miền biên cương Lũng Cú.

Thái Nguyên: Thúc đẩy quảng bá, giới thiệu điểm đến tại TP Hồ Chí Minh

Thái Nguyên: Thúc đẩy quảng bá, giới thiệu điểm đến tại TP Hồ Chí Minh

Chiều 28/8, tại TP Hồ Chí Minh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên đã tổ chức Hội nghị “Thái Nguyên - Điểm đến xanh cho du khách quốc tế” nhằm quảng bá, giới thiệu văn hóa, điểm đến, sản phẩm du lịch, tạo cầu nối cho doanh nghiệp du lịch - lữ hành mở rộng thị trường và thu hút du khách quốc tế đến địa phương.

Ứng dụng mạnh công nghệ số vào phát triển du lịch

Ứng dụng mạnh công nghệ số vào phát triển du lịch

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lào Cai phối hợp với Công ty Cổ phần IGB đã nghiên cứu, phát triển Ứng dụng Du lịch thông minh Lào Cai Tour trên các nền tảng số.

Đánh thức 'mỏ vàng xanh' từ nông nghiệp - Bài cuối

Đánh thức 'mỏ vàng xanh' từ nông nghiệp - Bài cuối

Từ hạt cà phê trên những triền đồi Khe Sanh, gói gạo quê giữa cánh đồng Hải Lăng đến chai nước mắm của làng biển hay sản vật trong những bản làng Bru - Vân Kiều, Pa Kô, Quảng Trị đang tìm cách gia tăng giá trị nông sản bằng du lịch. Khi du khách bước vào vùng nguyên liệu, gặp người làm ra sản phẩm và trải nghiệm đời sống bản địa, nông sản không chỉ là hàng hóa mà còn trở thành câu chuyện của một vùng đất.

Đánh thức 'mỏ vàng xanh' từ nông nghiệp - Bài 1

Đánh thức 'mỏ vàng xanh' từ nông nghiệp - Bài 1

Quảng Trị có lợi thế đa dạng về cảnh quan, hệ sinh thái, nông sản và văn hóa bản địa, từ những cánh đồng vùng đồng bằng, làng biển đến những đồi cà phê, bản làng dưới chân Trường Sơn. Những giá trị ấy đang được nhiều địa phương từng bước chuyển hóa thành sản phẩm du lịch, tạo thêm sinh kế cho người dân và nâng cao giá trị nông sản.