Tỉnh Đắk Lắk đang triển khai Đề án xây dựng Công viên địa chất Phú Yên hướng tới danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu UNESCO.
Mục tiêu không chỉ hướng đến một danh hiệu quốc tế mà còn bảo tồn các giá trị địa chất, thiên nhiên, văn hóa, lịch sử. Tiềm năng, giá trị này sẽ được khai thác hiệu quả để phục vụ phát triển du lịch bền vững, nâng cao sinh kế cộng đồng và quảng bá hình ảnh vùng đất phía Đông tỉnh Đắk Lắk.
Tiềm năng lớn, giá trị cao
Công viên địa chất Phú Yên được thành lập năm 2024, có tổng diện tích gần 2.000km2 đất liền và khoảng 1.000km2 vùng biển; nằm trên địa bàn 22 xã, phường phía Đông tỉnh Đắk Lắk. Với đường bờ biển dài gần 189km cùng hệ thống đảo ven bờ, gành đá, bãi biển, đầm và vịnh, khu vực sở hữu nhiều giá trị đặc sắc về địa chất, cảnh quan, văn hóa và đa dạng sinh học. Đây còn là mảnh đất hội tụ, giao lưu văn hóa của nhiều dân tộc như Kinh, Hoa, Chăm, Ê Đê, Ba Na…
Theo Ban Quản lý Công viên địa chất Phú Yên, nổi bật về địa chất trong khu vực công viên là các dấu tích đá biến chất có tuổi từ 1,8 - 2 tỷ năm tại núi Chóp Chài, núi Mù U, Nhất Tự Sơn… Trong hàng triệu năm trước, hoạt động của những khối magma nguội lại thành đá granit cổ hiện diện ở núi Nhạn, đèo Cả, núi Đá Bia. Dấu tích các đợt phun trào núi lửa tạo đá bazan dạng cột ở gành Đá Đĩa, Hòn Yến, Hòn Đụn. Sự hình thành biển Đông và các hoạt động đới đứt gãy sâu sông Ba để lại dấu tích qua các điểm xuất lộ nước nóng như: Phú Sen, Trà Ô, Lạc Sanh. Ngoài ra, quá trình tương tác giữa lục địa và đại dương tạo nên những cảnh quan độc đáo như đầm Ô Loan, đầm Cù Mông, vịnh Xuân Đài.
Bên cạnh các giá trị di sản địa chất, Công viên địa chất Phú Yên còn là nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể với 3 di tích quốc gia đặc biệt, 19 di tích quốc gia, hơn 80 di tích cấp tỉnh và 4 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Các di tích quốc gia và di tích cấp tỉnh phong phú về loại hình gồm: lịch sử văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ, danh lam thắng cảnh... Các di sản văn hóa này đang là một trong những điểm du lịch thu hút đông đảo khách tham quan.
Công viên địa chất Phú Yên có đường bờ biển dài cùng với nhiều đầm, vịnh, sông suối nên mang đậm đặc trưng văn hóa miền sông nước. Nhiều lễ hội truyền thống gắn liền với đời sống và sinh hoạt văn hóa cộng đồng nơi đây. Một số lễ hội tiêu biểu như cầu ngư, đua thuyền gắn với các loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian đặc trưng như bài chòi, hò bả trạo, hò khoan, hát tuồng... Đặc biệt, nghệ thuật Bài chòi Phú Yên cùng với Nghệ thuật bài chòi Trung Bộ Việt Nam đã được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Vùng Công viên địa chất Phú Yên đã hình thành, tồn tại và phát triển nhiều làng nghề thủ công truyền thống, lưu giữ nhiều giá trị văn hóa, tri thức và gắn liền với sinh kế người dân như: Nghề làm nước mắm, nghề làm bánh tráng, nghề làm thúng chai, nghề làm muối, nghề gốm, nghề dệt chiếu cói, nghề dệt thổ cẩm… Hiện nay, việc phát triển du lịch gắn với làng nghề đang là mô hình mang lại cho du khách những trải nghiệm lý thú thông qua việc du khách trực tiếp tham gia vào các công đoạn sản xuất, lắng nghe câu chuyện của nghệ nhân và cảm nhận giá trị văn hóa được gìn giữ trong từng sản phẩm.
Sự đa dạng về hệ thực vật, động vật trên cạn và thủy sinh trong Công viên địa chất Phú Yên tạo thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái, du lịch khám phá thiên nhiên, du lịch gắn với giáo dục môi trường cũng như phát triển nuôi trồng thủy sản.
Bảo tồn để phát triển du lịch
Theo ông Huỳnh Vĩnh Ngọc, Giám đốc Ban Quản lý Công viên địa chất Phú Yên, triển khai Đề án xây dựng Công viên địa chất Phú Yên hướng tới danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu UNESCO, Ban đang triển khai 12 nhiệm vụ trọng tâm; trong đó tập trung khảo sát, đánh giá di sản địa chất, đa dạng sinh học và hoàn thiện hồ sơ trình UNESCO trong năm 2027. Đồng thời, Ban đẩy mạnh hợp tác, đào tạo, tổ chức hội nghị quốc tế, quảng bá và phát triển du lịch gắn với công viên địa chất.
Dù Công viên địa chất Phú Yên có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch nhưng hiện nay chưa phát huy hết giá trị. Nhiều ý kiến của các chuyên gia, nhà đầu tư, người dân cho rằng, hạ tầng tại một số điểm di sản chưa đáp ứng yêu cầu đón khách quy mô lớn. Một số đơn vị lữ hành du lịch hoạt động diễn giải di sản còn thiếu tính chuyên nghiệp; chưa truyền tải đầy đủ những câu chuyện khoa học, văn hóa và lịch sử đến du khách... Đây là những thách thức cần được giải quyết bằng một chiến lược dài hạn đối với ngành du lịch tỉnh Đắk Lắk.
Ông Hoàng Xuân Đôn, Trưởng Ban Quản lý Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn nhận định, Công viên địa chất Phú Yên có tiềm năng lớn về địa chất, văn hóa và thiên nhiên. Việc được UNESCO công nhận sẽ tạo động lực cho phát triển du lịch. Đắk Lắk cần hoàn thiện đội ngũ chuyên môn, chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO và đặc biệt phát huy vai trò cộng đồng; đồng thời phát triển làng nghề gắn với du lịch, tạo sinh kế cho người dân, qua đó nâng cao ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di sản.
Để Công viên địa chất Phú Yên đạt các tiêu chí Công viên địa chất toàn cầu UNESCO, tỉnh Đắk Lắk đặt mục tiêu xây dựng một mô hình phát triển thực chất, lấy bảo tồn làm nền tảng, lấy cộng đồng làm trung tâm. Bên cạnh đó, địa phương tập trung hình thành các tuyến du lịch địa chất, du lịch trải nghiệm, du lịch cộng đồng, du lịch giáo dục và du lịch nghiên cứu; kết nối di sản địa chất với văn hóa, ẩm thực, làng nghề và nông nghiệp địa phương để tạo chuỗi sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Khi người dân được hưởng lợi từ di sản, cộng đồng sẽ trở thành lực lượng tích cực nhất trong việc gìn giữ các giá trị địa chất, thiên nhiên và văn hóa.
Ông Trịnh Hải Sơn, Viện trưởng Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Chủ tịch Tiểu ban Chuyên môn Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Việt Nam khẳng định, xây dựng Công viên địa chất Phú Yên theo tiêu chí UNESCO là một chiến lược dài hạn, đòi hỏi sự kiên trì, kỷ cương khoa học và sự đồng thuận của cả hệ thống chính trị, doanh nghiệp và cộng đồng. Mục tiêu không chỉ là đạt được danh hiệu mà quan trọng hơn là bảo tồn được các giá trị di sản, tạo sinh kế bền vững và đưa những giá trị đặc sắc của Phú Yên đến gần hơn với bạn bè trong nước và quốc tế.
Tiểu ban Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Việt Nam tiếp tục phối hợp với tỉnh Đắk Lắk, huy động mạng lưới chuyên gia trong nước và quốc tế, đồng hành trong quá trình khảo sát, hoàn thiện hồ sơ và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho các bước thẩm định theo tiêu chí UNESCO./.
Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...
Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.
Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).
Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.
Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.
Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.
Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.
Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.
Ở: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.
Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...
Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.
Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ.
Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà.
Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.
Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.
Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo.
Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp.
Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.
Theo cema.gov.vn
Tên tự gọi: Anăk Ea Ðê, Ra Ðê (hay Rhađê), ê Ðê, êgar, Ðê.
Nhóm địa phương: Kpă, Adham, Krung, Mđhur, Ktul, Dliê, Hruê, Bih, Blô, Kah, Kdrao, Dong Kay, Dong Mak, Ening, Arul, Hwing, Ktlê, Êpan...
Dân số: 331.194 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói của người Ê Đê thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Pôlinêxia (ngữ hệ Nam Ðảo).
Lịch sử: Người Ê Đê là cư dân đã có mặt lâu đời ở miền trung Tây Nguyên. Dấu vết về nguồn gốc hải đảo của dân tộc Ê Đê đã phản ánh lên từ các sử thi và trong nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật tạo hình dân gian. Cho đến nay, cộng đồng Ê Đê vẫn còn là một xã hội đang tồn tại những truyền thống đậm nét mẫu hệ ở nước ta.
Hoạt động sản xuất: Người Ê Đê chủ yếu trồng lúa rẫy theo chế độ luân khoảnh. Rẫy sau một thời gian canh tác thì bỏ hoá cho rừng tái sinh rồi mới trở lại phát, đốt. Chu kỳ canh tác khoảng từ 5-8 năm tuỳ theo chất đất và khả năng hồi phục của đất. Rẫy đa canh và mỗi năm chỉ trồng một vụ. Ruộng nước trâu quần chỉ có ít nhiều ở vùng Bih ven hồ Lắc.
Gia súc được nuôi nhiều hơn cả là lợn và trâu, gia cầm được nuôi nhiều là gà, nhưng chăn nuôi chủ yếu chỉ để phục vụ cho tín ngưỡng. Nghề thủ công gia đình phổ biến có nghề đan lát mây tre làm đồ gia dụng, nghề trồng bông dệt vải bằng khung dệt kiểu Inđônêdiêng cổ xưa. Nghề gốm và rèn không phát triển lắm. Trước đây việc mua bán, trao đổi bằng phương thức hàng đổi hàng.
Ăn: Người Ê Đê ăn cơm tẻ bằng cách nấu trong nồi đất nung hay nồi đồng cỡ lớn. Thức ăn có muối ớt, măng, rau, củ do hái lượm, cá, thịt, chim thú do săn bắn. Thức uống có rượu cần ủ trong các vò sành. Xôi nếp chỉ dùng trong dịp cúng thần. Nam nữ đều có tục ăn trầu cau.
Mặc: Trang phục truyền thống là phụ nữ quấn váy tấm dài đến gót, mùa hè thì ở trần hay mặc áo ngắn chui đầu. Nam giới thì đóng khố, mặc áo cánh ngắn chui đầu. Mùa lạnh, nam nữ thường choàng thêm một tấm mền. Ðồ trang sức có chuỗi hạt, vòng đồng, vòng kền đeo ở cổ và tay, chân. Nam nữ đều có tục cà răng-căng tai và nhuộm đen răng. Ðội đầu có khăn, nón.
Ở: Ðịa bàn cư trú chủ yếu hiện nay là tỉnh Ðắk Lắk, phía nam tỉnh Gia Lai và miền tây Phú Yên, Khánh Hòa. Ngôi nhà truyền thống của người Ê Đê là nhà sàn dài, kiến trúc mô phỏng hình thuyền với 2 đặc trưng cơ bản là: hai vách dọc dựng thượng thách - hạ thu; hai đầu mái nhô ra. Nhà chỉ có hai hàng cột ngang, kết cấu theo vì cột, không kết cấu theo vì kèo. Không gian nội thất chia ra làm hai phần theo chiều dọc. Phần đầu gọi là Gah, vừa là phòng khách, vừa là nơi sinh hoạt cộng đồng của cả đại gia đình mẫu hệ. Phần cuối gọi là ôk, dành cho các cặp hôn nhân ở trong từng buồng có vách ngăn bằng phên nứa.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là gùi đan cõng trên lưng bằng đôi quai quàng qua vai. ở vùng Krông Băk phổ biến có loại gùi cao cẳng. Vận chuyển trên bộ thì có voi nhưng không phổ biến lắm.
Quan hệ xã hội: Gia đình Ê Đê là gia đình mẫu hệ, hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con mang họ mẹ, con gái út là người thừa kế. Xã hội Ê Đê vận hành theo tập quán pháp truyền của tổ chức gia đình mẫu hệ. Cả cộng đồng được chia làm hai hệ dòng để thực hiện hôn nhân trao đổi. Làng gọi là buôn và là đơn vị cư trú cơ bản, cũng là tổ chức xã hội duy nhất. Người trong một buôn thuộc về nhiều chi họ của cả hai hệ dòng nhưng vẫn có một chi họ là hạt nhân. Ðứng đầu mỗi làng có một người được gọi là chủ bến nước (Pô pin ca) thay mặt vợ điều hành mọi hoạt động của cộng đồng.
Cưới xin: Người phụ nữ chủ động trong việc hôn nhân, nhờ mai mối hỏi chồng và cưới chồng về ở rể. Khi một trong hai người qua đời thì gia đình và dòng họ của người quá cố phải có người đứng ra thay thế theo tục "nối dòng" (chuê nuê) để cho người sống không bao giờ đơn lẻ, sợi dây luyến ái giữa hai dòng họ Niê và Mlô không có chỗ nào bị đứt theo lời truyền bảo của ông bà xưa.
Ma chay: Khi có người chết thì tục nối dòng phải được thực hiện. Người chết già và chết bệnh thì tang lễ được tổ chức tại nhà rồi đưa ra nghĩa địa thổ táng. Xưa kia có tục người trong một dòng họ chết trong một thời gian gần nhau thì các quan tài được chôn chung một huyệt. Vì quan niệm thế giới bên kia là sự tái hiện thế giới bên này nên người chết được chia tài sản đặt ở nhà mồ. Khi dựng nhà mồ, lễ bỏ mả được tổ chức linh đình, sau đó là sự kết thúc việc săn sóc vong linh và phần mộ.
Nhà mới: Việc làm nhà được cả làng quan tâm. Sự giúp đỡ lẫn nhau về nguyên vật liệu: gỗ, tre, nứa và tranh lợp cũng như ngày công thông qua hình thức gọi là H’rim zít (tổ chức "giúp công" lao động hay "đổi công" trong làng). Lễ khánh thành được tiến hành sau khi dựng xong hàng cây chân vách. Nhưng việc dọn lên nhà mới có thể được thực hiện trước đó một thời gian dài khi các điều kiện để khánh thành nhà chưa cho phép. Nữ giới là đoàn người đầu tiên được bước lên sàn nhà mới. Họ mang theo nước và lửa để sưởi ấm và tưới mát cho nơi cư trú mới mẻ này. Ðó là cách chúc phúc cho ngôi nhà và các thành viên của gia chủ. Dẫn đầu các thành viên nữ là một khoa sang – bà chủ của gia đình mẫu hệ.
Lễ Tết: Người Ê Đê ăn tết vào tháng chạp (tháng 12 lịch âm) khi mùa màng đã thu hoạch xong (không vào một ngày nhất định, tuỳ theo từng buôn). Sau tế ăn mừng cơm mới (hmạ ngắt) rồi mới đến tết (mnăm thun) ăn mừng vụ mùa bội thu. Ðó là tết lớn nhất, nhà giàu có khi mổ trâu, bò để cúng thần lúa; nhà khác thì mổ lợn gà. Vị thần lớn nhất là đấng sáng tạo Aê Ðiê và Aê Ðu rồi đến thần đất (yang lăn), thần lúa (yang mđiê) và các thần linh khác. Phổ biến quan niệm vạn vật hữu linh. Các vị thần nông được coi là phúc thần. Sấm, sét, giông bão, lũ lụt và ma quái được coi là ác thần. Nghi lễ theo đuổi cả đời người và lễ cầu phúc, lễ mừng sức khoẻ cho từng cá nhân. Ai tổ chức được nhiều nghi lễ này và nhất là những nghi lễ lớn hiến sinh bằng nhiều trâu, bò, chè quý (vò ủ rượu cần) thì người đó càng được dân làng kính nể.
Lịch: Nông lịch cổ truyền Ê Đê được tính theo tuần trăng: một năm có 12 tháng và được chia làm 9 mùa tương ứng với 9 công đoạn trong chu kỳ nông nghiệp rẫy: mùa phát rẫy, mùa đốt rẫy mới, mùa xới đất, mùa diệt cỏ... Mỗi tháng có 30 ngày.
Học: Việc học tập (học nghề, truyền bá kiến thức...) theo lối làm mẫu, bắt chước và nhập tâm, truyền khẩu. Ðến năm 1923 mới xuất hiện chữ Ê Đê theo bộ vần chữ cái La-tinh.
Văn nghệ: Có hình thức kể khan rất hấp dẫn. Về văn chương, khan là sử thi, trường ca cổ xưa; về hình thức biểu diễn là loại ngâm kể kèm theo một số động tác để truyền cảm. Về dân ca có hát đối đáp, hát đố, hát kể gia phả... Nền âm nhạc Ê Đê nổi tiếng ở bộ cồng chiêng gồm 6 chiêng bằng, 3 chiêng núm, một chiêng giữ nhịp và một trống cái mặt da. Không có một lễ hội nào, một sinh hoạt văn hoá nào của cộng đồng lại có thể vắng mặt tiếng cồng chiêng. Bên cạnh cồng chiêng là các loại nhạc cụ bằng tre nứa, vỏ bầu khô như các dân tộc khác ở Trường Sơn, Tây Nguyên, nhưng với ít nhiều kỹ thuật riêng mang tính độc đáo.
Chơi: Trẻ em thường thích chơi cù quay, thả diều vằng có sáo trúc. Trò chơi đi cà kheo trên cao nguyên cũng lôi cuốn không ít thiếu niên Ê Đê ở nhiều nơi. Trò bịt mắt dê, ném lao (ném xa và ném trúng mục tiêu cũng được nhiều trẻ em Ê Đê ưa thích.
Theo cema.gov.vn