Kon Tum phát huy hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng

Kon Tum phát huy hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
Nhà Rông làng Đăk Trăm, xã Đăk Trăm, huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum, được làm mới từ tiền chi trả dịch vụ bảo vệ môi trường rừng. Ảnh: Hồng Điệp – TTXVN
Nhà Rông làng Đăk Trăm, xã Đăk Trăm, huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum, được làm mới từ tiền chi trả dịch vụ bảo vệ môi trường rừng. Ảnh: Hồng Điệp – TTXVN 
Năm 2017, từ số tiền hơn 168 tỷ đồng thu tiền dịch vụ môi trường rừng của các đơn vị sử dụng dịch vụ, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum đã thanh toán, tạm ứng cho 7 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp các huyện với số tiền hơn 52 tỷ đồng; 7 Ban quản lý rừng phòng hộ với số tiền hơn 34 tỷ đồng; 3 Ban quản lý rừng đặc dụng với số tiền hơn 15,5 tỷ đồng; 6 chủ rừng là tổ chức khác với số tiền hơn 4,2 tỷ đồng; 75 UBND các xã, thị trấn với số tiền hơn 9,3 tỷ đồng. Đặc biệt, đã có 3.612 hộ gia đình, cá nhân và 22 cộng đồng được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng với số tiền hơn 16,5 tỷ đồng... Ngoài ra, từ nguồn tiền dịch vụ môi trường rừng, Quỹ đã hỗ trợ kinh phí cho công tác trồng cây phân tán; hỗ trợ các xã, thị trấn có diện tích rừng ít nằm trong vùng cung ứng dịch vụ môi trường để thực hiện công tác quản lý, bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng…với số tiền hơn 18,5 tỷ đồng. Bên cạnh việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho các chủ rừng theo quy định, Quỹ còn giải ngân tiền trồng rừng thay thế từ nguồn các chủ dự án có chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp sang mục đích khác phải nộp tiền về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum. Thông qua các Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp các huyện, các Ban quản lý rừng phòng hộ được UBND tỉnh giao trồng rừng thay thế với số tiền hơn 25,8 tỷ đồng để thanh toán cho công tác trồng mới năm 2016 và chăm sóc diện tích rừng đã trồng trong các năm 2014, 2016 và 2017. Các đơn vị chủ rừng là tổ chức Nhà nước và UBND các xã, thị trấn cũng đã chi trả cho 1.462 hộ gia đình, cá nhân, 226 cộng đồng dân cư thôn, 157 nhóm hộ và 4 tổ chức nhận khoán với số tiền hơn 45,5 tỷ đồng để bảo vệ diện tích hơn 130 ngàn ha rừng. Theo đó, mỗi hộ nhận khoán có mức thu nhập bình gần 7 triệu đồng/hộ/năm; cộng đồng dân cư thôn khoảng 110 triệu đồng/cộng đồng/năm; nhóm hộ hơn 60 triệu đồng/nhóm hộ/năm và tổ chức là hơn 263 triệu đồng/tổ chức/năm. Ông Hồ Thanh Hoàng, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum cho biết: Để thực hiện hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh, thời gian tới, đơn vị tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức của các tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư về tầm quan trọng của tài nguyên rừng và chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Bên cạnh đó, rà soát, đàm phán, ký kết hợp đồng với các nhà máy thủy điện mới đi vào hoạt động để huy động cao nhất nguồn lực xã hội tham gia công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh với mục tiêu bảo vệ, duy trì diện tích rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng hiện có và phát triển thêm diện tích rừng trong thời gian tới. Đồng thời báo cáo, tham mưu cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định pháp luật những đơn vị sử dụng cố tình không chấp hành việc kê khai, nộp tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng theo quy định… Quỹ cũng sẽ phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND các huyện, thành phố kiểm tra, giám sát, đánh giá tình hình thực hiện chính sách của các đơn vị chủ rừng là tổ chức, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cấp xã, UBND cấp xã nhằm phát hiện, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý phát sinh trong quá trình thực hiện. Ngoài ra, Quỹ chủ động phối hợp với Chi cục Kiểm lâm và Hạt Kiểm lâm các huyện, thành phố xác định diện tích rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng, xây dựng bản đồ chi trả dịch vụ môi trường rừng và chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho các chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn và UBND các xã, thị trấn theo hướng dẫn tại Thông tư số 22/2017/TT-BNNPTNT ngày 15/11/2017 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn một số nội dung thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Quang Thái

Có thể bạn quan tâm

Đồng hành, hỗ trợ phụ nữ, trẻ em nơi biên cương

Đồng hành, hỗ trợ phụ nữ, trẻ em nơi biên cương

Những năm gần đây, giáo dục tại khu vực biên giới đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, vùng biên giới vẫn còn không ít khó khăn, đời sống của nhiều hộ dân vẫn phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, thu nhập thiếu ổn định; không ít học sinh cần được hỗ trợ...

Giữ niềm tin, vun đắp sinh kế cho đồng bào Khmer

Giữ niềm tin, vun đắp sinh kế cho đồng bào Khmer

Gần dân, hiểu hoàn cảnh từng hộ và gương mẫu trong việc chung là cách người có uy tín tạo dựng niềm tin trong đồng bào Khmer. Từ sự tin tưởng ấy, việc vận động bà con phát triển sản xuất, chăm lo học hành và gìn giữ văn hóa dân tộc có thêm nền tảng để thực hiện.

Đồng hành để nguồn vốn chính sách phát huy hiệu quả

Đồng hành để nguồn vốn chính sách phát huy hiệu quả

Nguồn vốn chính sách không chỉ giúp người dân đầu tư sản xuất mà còn đi kèm hướng dẫn, kiểm tra để vốn được sử dụng đúng mục đích, phát huy hiệu quả. Tại bản Ten Lúa, xã Núa Ngam, tỉnh Điện Biên, 90 hội viên nông dân đang vay vốn Ngân hàng Chính sách xã hội, với tổng dư nợ trên 6,8 tỷ đồng. Gia đình ông Lường Văn Hóa cũng sử dụng nguồn vốn này để mua trâu sinh sản, từng bước mở rộng đàn, tăng thu nhập.

Hỗ trợ hơn 537 tấn gạo cho học sinh vùng khó khăn, biên giới

Hỗ trợ hơn 537 tấn gạo cho học sinh vùng khó khăn, biên giới

Thực hiện Quyết định số 3846/QĐ-UBND của UBND tỉnh Quảng Trị về việc phân bổ gạo hỗ trợ học sinh học kỳ I năm học 2026-2027 theo chính sách của Chính phủ, 12.427 học sinh thuộc diện được hưởng chính sách tại các địa bàn khó khăn được hỗ trợ hơn 537 tấn gạo.

Nguồn vốn chính sách tiếp sức người dân vùng cao vươn lên

Nguồn vốn chính sách tiếp sức người dân vùng cao vươn lên

Từ những khoản vay ưu đãi của Ngân hàng Chính sách xã hội, nhiều hộ dân ở khu vực vùng cao tỉnh Cao Bằng có thêm nguồn lực đầu tư sản xuất, phát triển chăn nuôi, trồng cây ăn quả, mở rộng dịch vụ, chủ động vươn lên, giảm nghèo và xây dựng cuộc sống ổn định.

Đưa dòng vốn chính sách đến đúng địa chỉ

Đưa dòng vốn chính sách đến đúng địa chỉ

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, yêu cầu đặt ra với tỉnh Phú Thọ không chỉ là huy động đủ nguồn lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, mà quan trọng hơn là đưa nguồn lực ấy đến đúng nơi, đúng đối tượng, đúng nhu cầu.

Đối thoại, tháo gỡ điểm nghẽn thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Đối thoại, tháo gỡ điểm nghẽn thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Chiều 11/9, Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam phối hợp với Hội Doanh nhân trẻ tỉnh Tuyên Quang tổ chức Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam (VPSF) 2026 - Vòng đối thoại địa phương tỉnh Tuyên Quang, với sự tham dự của lãnh đạo tỉnh, chuyên gia kinh tế cùng đông đảo doanh nhân, doanh nghiệp trên địa bàn.

Trẻ hóa cán bộ tạo chuyển biến từ cơ sở

Trẻ hóa cán bộ tạo chuyển biến từ cơ sở

Từ ngày 1/7/2026, 888 thôn, bản, tổ dân phố mới trên địa bàn tỉnh Điện Biên chính thức đi vào hoạt động sau sắp xếp. Tại nhiều địa phương, người dân tín nhiệm bầu những cán bộ trẻ làm Bí thư Chi bộ, trưởng thôn, bản. Với sự năng động, tinh thần trách nhiệm và khả năng tiếp cận công nghệ, đội ngũ này đang từng bước đổi mới cách tuyên truyền, vận động nhân dân, nâng cao hiệu quả công việc ở cơ sở.

Khai thác chỉ dẫn địa lý, mở rộng thị trường đặc sản vùng dân tộc thiểu số

Khai thác chỉ dẫn địa lý, mở rộng thị trường đặc sản vùng dân tộc thiểu số

Theo bà Hà Kiều Oanh, Phó trưởng Phòng Phát triển năng lực xúc tiến thương mại, Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương, chỉ dẫn địa lý không chỉ là công cụ bảo hộ nguồn gốc và danh tiếng sản phẩm mà còn là nền tảng để nâng cao giá trị, củng cố niềm tin thị trường và mở rộng đầu ra cho đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Những “công bộc xã” bền bỉ đưa thủ tục hành chính về thôn

Những “công bộc xã” bền bỉ đưa thủ tục hành chính về thôn

Đều đặn ngày thứ 2 đầu tuần, nhóm cán bộ của UBND xã Tà Năng (Lâm Đồng) lại cùng nhau về tận các thôn, buôn để làm thủ tục hành chính lưu động cho người dân. Sau hơn một năm, họ dần trở thành những “công bộc” kéo gần khoảng cách giữa cán bộ xã với nhân dân.

Khai thác sức cầu nội địa, mở rộng đầu ra cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Khai thác sức cầu nội địa, mở rộng đầu ra cho sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Theo ông Đào Đức Huấn, Trưởng phòng Quản lý OCOP và Du lịch nông thôn, Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, sản phẩm OCOP dù đã có nhiều cải tiến song vẫn cần tiếp tục thay đổi để nâng giá bán và tăng sức lan tỏa trên thị trường.

Đổi mới về quản trị phát triển giáo dục, dồn lực cho vùng khó khăn

Đổi mới về quản trị phát triển giáo dục, dồn lực cho vùng khó khăn

Năm học 2026-2027 đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ, thực chất của ngành Giáo dục trong triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Trọng tâm năm học này là đổi mới mạnh mẽ quản trị phát triển giáo dục; cắt giảm tối đa thủ tục hành chính, các cuộc thi mang tính hình thức, hội họp không cần thiết; tập trung nguồn lực tháo gỡ những “điểm nghẽn” của ngành Giáo dục, nhất là tại các địa bàn, vùng còn nhiều khó khăn.

Nông sản đắt hàng nhờ nhãn hiệu OCOP và truy xuất nguồn gốc

Nông sản đắt hàng nhờ nhãn hiệu OCOP và truy xuất nguồn gốc

Tỉnh Phú Thọ có nhiều sản vật đặc trưng, mang đậm dấu ấn vùng miền. Trước đây, phần lớn nông sản được sản xuất nhỏ lẻ, chủ yếu phục vụ thị trường trong tỉnh và khu vực lân cận. Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đã tạo động lực để các địa phương khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế, từng bước đổi mới phương thức sản xuất và tư duy phát triển sản phẩm.