Tuy nhiên, những năm gần đây, cây chanh rừng thường bị sâu bệnh, sinh trưởng kém, sản lượng quả giảm, ảnh hưởng đến diện tích trồng và thu nhập của người dân. Trước thực tế này, chính quyền địa phương và người dân mong muốn các cơ quan chuyên môn nghiên cứu, bảo tồn, phát triển giống chanh rừng đặc trưng, đáp ứng nhu cầu thị trường và góp phần nâng cao thu nhập cho người dân.
Theo người Dao ở Mẫu Sơn, quả chanh rừng được thu hoạch từ tháng 5 đến tháng 10 hằng năm. Khác với các loại chanh thông thường, quả chanh rừng có kích thước nhỏ, chỉ bằng hoặc lớn hơn quả quất, hoa màu trắng, mỗi quả có khoảng 3 - 5 hạt. Khi còn xanh, quả chứa nhiều tinh dầu, có mùi thơm nồng; khi chín chuyển sang màu vàng, vỏ có vị ngọt bùi, phần lõi hơi chua thanh và rất thơm. Cây chanh rừng có tốc độ sinh trưởng chậm, thường phải trồng khoảng 5 năm mới bắt đầu cho quả.
Những cây chanh giống được ươm tại vườn của gia đình người dân.
Loại cây này sinh trưởng, phát triển tốt ở vùng núi Mẫu Sơn, nơi có độ cao từ 800 m đến 1.541 m so với mực nước biển, với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng đặc trưng. Không chỉ được sử dụng làm gia vị, nước chấm, tạo hương vị riêng trong bữa ăn của người Dao, chanh rừng còn được chế biến thành nhiều sản phẩm được ưa chuộng. Tại nhiều gia đình, quả chanh được sấy khô làm ô mai. Theo kinh nghiệm dân gian của người địa phương, chanh rừng ngâm với muối trắng hoặc mật ong được sử dụng để hỗ trợ giảm ho, cảm lạnh và viêm họng.
Chị Triệu Thị Múi, thôn Bó Pằm, xã Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn cho hay, để làm ra 1 kg ô mai chanh rừng Mẫu Sơn, người chế biến phải trải qua nhiều công đoạn. Quả sau khi thu hoạch được rửa sạch, ướp muối, cắt bỏ hạt rồi tiếp tục ướp với gừng. Các công đoạn đều được thực hiện thủ công, mất nhiều thời gian; trung bình phải mất vài ngày mới hoàn thành một mẻ ô mai đạt chất lượng. Nhờ quy trình chế biến này, ô mai chanh rừng mang hương vị riêng biệt của vùng núi Mẫu Sơn.
Gắn bó nhiều năm với cây chanh rừng, chị Triệu Thúy Hoa, thôn Bó Pằm, xã Mẫu Sơn chia sẻ, cây chanh con được ươm khoảng 1 năm, đến mùa mưa mới có thể đem trồng trong rừng. Đây là loại cây phát triển chậm, sau khoảng 3 năm mới cao ngang ngực người.
Những cây được chăm sóc tốt cũng phải đến năm thứ 5 mới bắt đầu cho quả. Quá trình trồng và chăm sóc chanh rừng hiện chủ yếu dựa vào kinh nghiệm được những người đi trước truyền lại. Hằng năm, vào thời điểm trước Tết, người dân tiến hành vun gốc, bón phân hữu cơ. Do cây chanh rừng phát triển hoàn toàn dựa vào điều kiện tự nhiên nên năng suất phụ thuộc nhiều vào thời tiết, khí hậu từng năm. Những cây sinh trưởng tốt có thể cho từ 10 đến 20 kg quả/cây/năm.
Hợp tác xã kiểm tra chất lượng quả chanh rừng sau thời gian ngâm ủ.
Mặc dù, chính quyền địa phương và Hợp tác xã Nông trang sinh thái Mẫu Sơn đã tổ chức tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc và hỗ trợ giống cho người dân, diện tích chanh rừng tại địa phương vẫn bị thu hẹp do cây chết bởi thời tiết bất lợi và sâu bệnh. Theo Hợp tác xã Nông trang sinh thái Mẫu Sơn, ảnh hưởng của mưa bão trong các năm 2024, 2025 cùng tình trạng sâu bệnh đã khiến diện tích chanh rừng của hợp tác xã giảm mạnh, từ trên 11 ha xuống còn khoảng 3-4 ha.
Anh Hoàng Phúc Thắng, Giám đốc Hợp tác xã Nông trang sinh thái Mẫu Sơn cho biết, chanh rừng là giống cây bản địa đặc trưng của địa phương. Để nhân giống và bảo tồn, hợp tác xã thường xuyên hướng dẫn người dân lựa chọn những cây không bị sâu bệnh, có quả to, vỏ bóng đẹp để làm giống. Toàn bộ diện tích chanh rừng đã được người dân trồng và chăm sóc theo tiêu chuẩn VietGAP. Dù vậy, nhiều diện tích chanh rừng đang bị chết, khiến diện tích trồng giảm mạnh. Nguyên nhân được xác định là do cây bị sâu đục thân, người dân bón phân, chăm sóc chưa đúng cách và ảnh hưởng của mưa bão. Trước thực trạng này, anh Hoàng Phúc Thắng mong muốn các cơ quan chức năng có sự hỗ trợ kịp thời để bảo vệ, phát triển giống chanh rừng đặc trưng của địa phương.
Theo ông Hoàng Vĩnh Hưng, Chủ tịch UBND xã Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn, chanh rừng là một trong những đặc sản của Mẫu Sơn và được chính quyền xã xác định là cây trồng chủ lực. Nếu sinh trưởng, phát triển tốt, 1 ha chanh rừng có thể cho thu nhập lên đến 1 tỷ đồng/năm. Tuy nhiên, một số diện tích chanh rừng hiện bị chết do sâu bệnh, ảnh hưởng đến sản xuất và thu nhập của người dân. Để hạn chế thiệt hại, chính quyền xã đã phối hợp với các cơ quan liên quan và người dân tích cực chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây. Do đặc điểm sinh trưởng, phát triển chậm, việc nhân giống chanh rừng còn hạn chế và mất nhiều thời gian.
Vì vậy, xã đang tích cực phối hợp với các cơ quan chức năng nghiên cứu, đánh giá khả năng nhân rộng diện tích trồng chanh rừng tại địa phương. Cùng với các giải pháp chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, chính quyền địa phương đang đề xuất với tỉnh triển khai chính sách hỗ trợ ứng dụng kết quả nghiên cứu các nhiệm vụ khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Dự kiến, toàn xã sẽ nâng diện tích chanh rừng lên 30 ha, góp phần phát triển kinh tế và nâng cao thu nhập cho người dân.
Theo Nghị quyết số 10/2025/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Lạng Sơn về chính sách hỗ trợ ứng dụng kết quả nghiên cứu từ các nhiệm vụ khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh, mỗi hộ gia đình trồng chanh rừng thực hiện theo chính sách được hỗ trợ tối đa 200 triệu đồng/dự án; doanh nghiệp hoặc hợp tác xã được hỗ trợ tối đa 2 tỷ đồng/dự án. Hiện, toàn xã đang hoàn thiện hồ sơ, thủ tục cho các hộ trồng chanh rừng tại địa phương. Việc triển khai chính sách hỗ trợ được kỳ vọng sẽ tạo động lực để người dân mở rộng diện tích trồng chanh rừng, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và thu nhập, góp phần bảo tồn, phát huy giá trị giống cây bản địa đặc trưng của Mẫu Sơn, từng bước phát triển chanh rừng thành cây trồng có giá trị kinh tế cao.
Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).
Tên gọi khác: Mán.
Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).
Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.
Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.
Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.
Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.
Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...
Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.
Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.
Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.
Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.
Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.
Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.
Ở: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.
Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.
Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.
Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.
Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.
Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.
Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.
Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.
Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.
Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.
Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.
Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.
Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.
Theo cema.gov.vn