Thuyền đưa khách dạo lòng hồ thường chỉ chạy chầm chậm, lướt nhè nhẹ, dìu dặt như thể sợ làm giật mình nàng con gái Mường đang mơ màng bên khung cửa. Người lái đò quan sát, giữ an toàn cho đoàn. Điểm dừng chân đầu tiên là đền Bà Chúa Thác Bờ, cách bến thuyền chừng 20 phút rong ruổi.
Đền hiện đã được xây dựng khang trang trên một sườn đồi ven hồ. Khi chưa ngăn đập, đền nằm sâu bên dưới, cách điểm hiện nay chừng vài cây số. Đây là nơi thờ một phụ nữ người Mường tên Đinh Thị Vân, có công giúp vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) cùng đoàn quân vượt sông, cung cấp lương thực để chống ngoại xâm khi đó đã tràn vào tận Sơn La (ngày nay). Chiến thắng trận này, vua Lê Thái Tổ sắc phong bà là Hoàng Kim Mẫu Chúa Mường Sơn Trang. Hậu thế xem bà như nữ thần cai quản vùng đất này.
Đêm trở về các đảo trên hồ để nghỉ qua đêm hoặc trở lại bờ, về trung tâm thành phố Hòa Bình. Nhưng nếu khách chán với cảnh nhộn nhịp thì nên nghỉ đêm trên đảo giữa lòng hồ. Đêm Thung Nai vô cùng yên tĩnh. Chỉ có tiếng sóng vỗ nhè nhẹ vào mạn thuyền. Xa xa vọng lại tiếng thuyền chài của ngư dân mưu sinh trên hồ. Bên bếp lửa hồng, vừa thưởng thức lợn bản Mường, gà đồi Thung Nai với cơm lam thơm phức, nghe những câu chuyện từ người phụ nữ Mường mới hiểu được phần nào dòng sông huyền thoại này.
Dọc theo hai bên bờ sông Đà và thác Bờ ngày xưa là ngôi làng của người Mường. Họ sống rất xa trung tâm, heo hút trong núi sâu hiểm trở. Thung Nai ngày nay bao gồm cả bốn mường (làng của người Mường) là mường Bi, mường Vang, mường Thàng và mường Động. Mỗi mường đều có những cánh đồng lúa chia thành nhiều tầng bậc theo địa hình của núi đồi.
Xa các bản làng là rừng rậm. Nơi đó, có một thung lũng là nơi sinh sống của bầy nai rừng hoang dã. Người ta gọi đó là Thung Nai. Thuở ấy, vùng đất này có cả hổ, sói, beo, gấu… Khi ngăn đập làm thủy điện, nước dâng cao hàng chục mét, người dân các mường phải di dời về khu ở tập trung an toàn hơn. Động vật hoang dã cũng rút lên núi cao, rừng sâu hơn. Người ta gộp khu này lại và lấy tên Thung Nai làm tên xã, thuộc huyện Cao Phong, Hòa Bình.