Các cấp ủy Đảng, chính quyền thành phố Cần Thơ đã và đang đồng loạt triển khai nhiều hoạt động thăm hỏi, qua đó khẳng định nỗ lực không ngừng trong việc đồng hành và chăm lo toàn diện đời sống đồng bào.
Rộn ràng chào đón lễ Sene Dolta
Sene Dolta là một lễ truyền thống quan trọng nhất của đồng bào Khmer. Đây là dịp thiêng liêng để con cháu tưởng nhớ tổ tiên, tri ân công ơn sinh thành, dưỡng dục của ông bà, cha mẹ và những người đã khuất. Đây cũng là thời gian các gia đình sum họp, thăm hỏi, sẻ chia, vun đắp thêm tình làng nghĩa xóm ngày càng bền chặt, góp phần làm phong phú thêm cho nền văn hóa đa dạng của Việt Nam.
Vào ngày đầu tiên của mùa lễ, không khí tại tất cả các phum sóc có đông đồng bào Khmer sinh sống trở nên rộn ràng và trang nghiêm. Ngay từ sáng sớm, các gia đình đã hối hả dọn dẹp, trang hoàng nhà cửa. Các thành viên cùng chuẩn bị bánh trái, lễ vật và nấu nướng để dâng mâm cơm thành kính, thỉnh mời linh hồn ông bà về chung vui cùng con cháu.
Tại gia đình ông Dương Sưa (ấp Bét Tôn, xã Mỹ Hương), những ngày này rất đông vui. Ông Dương Sưa phấn khởi trước sự thay đổi của xóm làng, khi đường xá được nâng cấp khang trang giúp việc đi lại của con cháu thuận tiện hơn. Niềm vui đó càng trọn vẹn khi gia đình, con cháu đều mạnh khỏe, bình an.
Không chỉ những bậc cao niên, các thế hệ trẻ cũng luôn hướng về cội nguồn. Trong những ngày lễ, con cháu dù đi làm ăn xa hay ở gần đều cố gắng sắp xếp công việc để đoàn tụ cùng gia đình. Chị Dương Thị Siển sinh sống tại xã Nhu Gia chia sẻ, cứ mỗi mùa lễ Dolta, chị luôn tranh thủ thời gian về thăm ba mẹ, hòa mình vào không khí sum họp và cùng người nhà chuẩn bị đồ cúng tươm tất.
Bức tranh lễ hội càng thêm phần sinh động tại các cơ sở Phật giáo. Vào những ngày này, dòng người từ khắp phum sóc đều hướng về những ngôi chùa rực rỡ sắc màu. Tiếng tụng kinh của chư tăng hòa quyện cùng nhịp điệu rộn rã của các hoạt động giao lưu văn nghệ, mở ra không gian tâm linh thanh tịnh, đậm đà bản sắc và thắm tình đoàn kết. Sư sãi và đồng bào Phật tử đã cùng nhau chăm chút mọi công việc, từ trang trí khuôn viên, sắp xếp lễ vật dâng cúng cho đến chuẩn bị chu đáo phục vụ bà con hành lễ.
Theo Đại đức Chau Chành Tha, Trụ trì chùa Đay Om Pu (xã Gia Hòa), lễ Sene Dolta không chỉ là dịp để bà con thực hành tín ngưỡng tôn giáo mà còn là không gian để gìn giữ những nét đẹp văn hóa truyền thống, từ phong tục tập quán đến tiếng nói của dân tộc. Trong suốt thời gian diễn ra lễ hội, các giá trị đạo đức luôn được tôn vinh, tạo cơ hội cho các thế hệ gặp gỡ, giao lưu và trao đổi về tinh thần sống tốt đời, đẹp đạo.
Hiệu quả của chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc
Để bà con có những mùa lễ hội an vui và trọn vẹn, sự đồng hành của chính quyền địa phương là vô cùng quan trọng. Những ngày qua, các cấp chính quyền thành phố Cần Thơ đã thành lập 18 đoàn đến thăm, chúc mừng các vị chức sắc, Ban Quản trị các chùa, cá nhân tiêu biểu và đồng bào dân tộc Khmer, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của chính quyền địa phương đối với đời sống văn hóa, tinh thần của bà con mà còn là minh chứng sinh động cho hiệu quả của chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc.
Hòa thượng Lý Hùng, Phó Hội trưởng Thường trực Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước thành phố Cần Thơ bày tỏ sự trân trọng trước những chuyến thăm hỏi chu đáo của lãnh đạo các cấp, các ngành. Hòa thượng Lý Hùng đánh giá cao việc thông qua các chuyến thăm, lãnh đạo thành phố đã kịp thời thông tin đến đồng bào về tình hình phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh của thành phố trong 9 tháng qua. Ông nói, với các chương trình mục tiêu quốc gia và vai trò tham mưu tích cực của Sở Dân tộc và Tôn giáo, nhiều chính sách thiết thực đã được triển khai, góp phần quan trọng giúp đồng bào Khmer phát triển kinh tế, nâng cao đời sống.
Theo ông Lâm Hoàng Mẫu, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo thành phố Cần Thơ, đồng bào Khmer với truyền thống đoàn kết, cần cù và bản sắc văn hóa phong phú là một bộ phận quan trọng, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tành phố luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác chăm lo đời sống đồng bào. Sự quan tâm này thể hiện rõ qua diện mạo kết cấu hạ tầng được nâng cấp, điều kiện sinh hoạt được cải thiện. Sở sẽ tiếp tục phối hợp tham mưu thành phố triển khai hiệu quả các chương trình, chính sách dân tộc. Trong đó, tập trung vào các vấn đề trọng tâm như: giải quyết sinh kế, việc làm, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế và hoàn thiện kết cấu hạ tầng vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Song song với phát triển kinh tế - xã hội, công tác bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết và bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer cũng sẽ được chú trọng.
Những chính sách thiết thực luôn được cụ thể hóa bằng các hoạt động giàu ý nghĩa. Tại dịp Lễ Sene Dolta năm nay, Cần Thơ tổ chức vhương trình giao lưu văn hóa nghệ thuật với chủ đề “Gìn giữ bản sắc văn hóa, phát huy sức mạnh đoàn kết, kiến tạo tương lai” tại xã Gia Hòa. Lãnh đạo thành phố cùng các đơn vị đồng hành trao tặng 50 phần quà cho các hộ đồng bào Khmer có hoàn cảnh khó khăn. Hội Khuyến học thành phố phối hợp cùng Viettel Cần Thơ trao 35 suất học bổng nhằm tiếp bước đến trường cho học sinh vượt khó học tốt. Không khí sự kiện thêm phần rộn ràng qua các tiết mục biểu diễn đậm đà bản sắc văn hóa Khmer Nam Bộ và lãnh đạo thành phố cũng trực tiếp chung vui, giao lưu cùng đồng bào trong những điệu múa truyền thống.
Phó Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ Nguyễn Văn Khởi nêu rõ, song song với nhiệm vụ phát triển kinh tế, thành phố luôn chú trọng thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, chăm lo toàn diện đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số. Llãnh đạo UBND thành phố gửi gắm kỳ vọng các vị chức sắc, sư sãi, người có uy tín cùng toàn thể đồng bào tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực tự cường. Với sự chung sức đồng lòng của bà con cùng sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, vùng đồng bào dân tộc thiểu số sẽ không ngừng phát triển, đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng Cần Thơ ngày càng văn minh, hiện đại, nghĩa tình, xứng đáng là trung tâm của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Cộng đồng người Khmer là dân tộc thiểu số đông nhất, chiếm 14,11% tổng dân số toàn thành phố Cần Thơ. Với quy mô dân số đông đảo và vị trí quan trọng trong khối đại đoàn kết, sự phát triển của cộng đồng người Khmer luôn gắn liền với tiến trình vươn mình của thành phố. Một mùa Sene Dolta lại về trong sự no ấm, bình yên cho thấy tính đúng đắn và hiệu quả của các chính sách dân tộc đang được triển khai. Niềm vui từ phum sóc hôm nay sẽ là nền tảng vững chắc để đồng bào Khmer tiếp tục đặt trọn niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, không ngừng nỗ lực vươn lên, đóng góp xứng đáng vào công cuộc kiến thiết và phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn