Lễ Sene Dolta (Sen Đôn Ta) là một trong những nghi lễ truyền thống quan trọng của đồng bào Khmer Nam Bộ, mang ý nghĩa tưởng nhớ tổ tiên, báo đáp công ơn sinh thành, dưỡng dục của ông bà, cha mẹ; đồng thời thể hiện những giá trị văn hóa, tín ngưỡng đặc trưng của cộng đồng Khmer. Đây cũng là dịp để các thành viên trong gia đình gặp gỡ, sum họp, trao đổi công việc, cùng nhau duy trì những phong tục, nét đẹp truyền thống đã được cộng đồng Khmer gìn giữ, truyền lại qua nhiều thế hệ.
Trước đây, mùa lễ Sen Đôn Ta thường diễn ra trong thời gian khoảng nửa tháng với các nghi thức chính gồm: Lễ đặt cơm vắt (Banh canh banh); Lễ cúng ông bà (Banh Sene Dolta); Lễ hội linh (Banh phchum banh) và Lễ tiễn đưa ông bà (Banh chuônh Đôn-ta). Ngày nay, để phù hợp với điều kiện sinh hoạt, các nghi lễ chính được tổ chức tập trung trong ba ngày, nhưng vẫn giữ những nét văn hóa, tín ngưỡng đặc trưng trong cộng đồng. Lễ Sen Đôn Ta 2026 của đồng bào Khmer Nam Bộ diễn ra từ ngày 10 đến 12/10 ( nhằm ngày 1 - 3/9, năm Bính Ngọ).
Tại chùa Pothiwong, phường Bảy Hiền, TP Hồ Chí Minh, Lễ Sen Đôn Ta diễn ra trong không khí trang nghiêm và đầm ấm. Từ sáng sớm, các Phật tử Khmer trong trang phục chỉnh tề đã tập trung về chùa để lễ Phật, cùng với các chư tăng Khmer cầu nguyện cho ông bà, tổ tiên đã quá vãng. Có người mang theo bánh trái, hoa quả, người chuẩn bị những phần cơm ... Dù lễ vật khác nhau, nhưng tất cả đều gửi gắm lòng thành kính, biết ơn đối với những người đã sinh thành, nuôi dưỡng mình.
Với nhiều người Khmer xa quê, đây còn là dịp gặp gỡ cộng đồng. Có mặt từ sáng sớm tại chùa Pothiwong, em Kim Của, quê ở Cà Mau, hiện đang sinh sống và làm việc tại TP Hồ Chí Minh, cho biết, dù công việc bận rộn, em vẫn cố gắng sắp xếp thời gian đến chùa dự lễ.
“Là người con dân tộc Khmer, mỗi dịp Sen Đôn Ta, em đều cố gắng đến chùa lễ Phật, làm phước và hồi hướng công đức cho ông bà, tổ tiên đã khuất. Em cũng cầu mong cha mẹ luôn mạnh khỏe, gia đình, dòng họ được bình an, mọi người có cuộc sống an lành, hạnh phúc”, em Của chia sẻ.
Còn chị Yên Thị Hồng Viên, quê ở phường Giá Rai, tỉnh Cà Mau, cho biết, từ nhiều năm nay, chị luôn dành thời gian tham gia lễ Sen Đôn Ta để cầu nguyện cho gia đình và tưởng nhớ những người thân đã qua đời.
Theo chị Viên, việc đến chùa vừa có ý nghĩa để cầu nguyện, vừa là dịp làm việc thiện, tích lũy phước lành, hướng bản thân đến những điều tốt đẹp trong cuộc sống. “Tôi mong lễ Sen Đôn Ta ngày càng được nhiều người biết đến, để những nét đẹp văn hóa của đồng bào Khmer được lan tỏa rộng rãi hơn, nhất là tinh thần biết ơn ông bà, cha mẹ và hướng về cội nguồn”, chị Viên bày tỏ.
Theo sư Danh Lây, Thư ký chùa Pothiwong, phường Bảy Hiền, lễ Sen Đôn Ta là một trong những nghi lễ truyền thống quan trọng, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, lòng hiếu thảo và sự tri ân đối với ông bà, cha mẹ, tổ tiên của đồng bào Khmer Nam Bộ. “Điều quan trọng nhất trong lễ Sen Đôn Ta là tấm lòng hiếu kính và sự biết ơn đối với những người đã sinh thành, dưỡng dục mình. Thông qua việc cúng dường, làm phước và hồi hướng công đức, mỗi người có dịp tưởng nhớ tổ tiên, đồng thời tự nhắc nhở bản thân sống tốt, làm nhiều việc thiện”, sư Danh Lây chia sẻ.
Theo sư Danh Lây, trong quan niệm Phật giáo Nam tông Khmer, việc cúng dường Tam bảo, làm việc thiện và hồi hướng phước báu cho người thân đã khuất là những hoạt động mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc. Những nghi thức này còn góp phần giáo dục lòng nhân ái, tinh thần hiếu thảo và trách nhiệm của mỗi người đối với gia đình và cộng đồng.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn