Mô hình luân canh tôm-lúa-tôm càng xanh

Mô hình luân canh tôm-lúa-tôm càng xanh
Kiểm tra độ phát triển của tôm sú. Ảnh : 2lua.vn
Kiểm tra độ phát triển của tôm sú. Ảnh : 2lua.vn
Duy trì mực nước ao nuôi đối với mặt ruộng và mương hoặc ao. Mô hình này khác với cách nuôi quảng canh truyền thống trong thiết kế mương, bờ bao và trảng trồng lúa, vuông nuôi với diện tích trung bình khoảng 1 ha /hộ. Đối tượng tôm nuôi vẫn chủ yếu là tôm sú, tôm được nuôi trong mùa khô và chỉ thả tôm giống nhân tạo với mật độ 5 – 10 con/m2, chỉ có thức ăn công nghiệp được sử dụng trong suốt quá trình nuôi, năng suất thu hoạch đạt 400 – 800kg/ha/năm. Trong khi đó, vụ sản xuất lúa trong mùa mưa có thể đạt được năng suất 5 – 6 tấn/ha. Tuy nhiên hệ thống canh tác tôm - lúa tại Sóc Trăng vẫn còn những khó khăn, hạn chế về cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, thiết kế công trình vuông nuôi, thả tôm giống và chăm sóc, quản lý. Ông Dương Thành Quang ở xã Hòa Tú 1, huyện Mỹ Xuyên, cho biết: “Mỗi năm, sau khi nuôi 1 vụ tôm sú thì bà con cải tạo lại đất để trồng lúa. Còn những ao nuôi tôm sâu quá thì bà con không thể lấp lại vụ lúa, mà phải chọn con giống khác thả nuôi. Với nuôi tôm thẻ thì 1 năm bà con nuôi 2 vụ nhưng vẫn kịp lấp lại vụ lúa. Vì tôm thẻ nuôi thời gian ngắn hơn tôm sú”. Trước thực trạng khó khăn trong canh tác tôm lúa hiện nay, nhất là tác động của biến đổi khí hậu những năm qua đã ảnh hưởng đến hiệu quả của luân canh tôm- lúa, dựa trên cơ sở kết quả khảo sát thực địa của nhóm chuyên gia và cuộc họp với nhóm kỹ thuật địa phương đã đề xuất một số cải tiến kỹ thuật cho mô hình tôm lúa đạt hiệu quả cao hơn. Ông Nguyễn Minh Khải, Phó Trạm Khuyến nông huyện Mỹ Xuyên, cho biết:“Bên cạnh việc tuyên truyền, vận động bà con tuân thủ việc lấp lúa trên nền tôm. Về phía Phòng Nông nghiệp và ngành chuyên môn đã xây dựng các mô hình giúp người dân tăng thêm thu nhập trên diện tích nuôi tôm như nuôi tôm càng xanh xen lúa trên nền đất nuôi tôm. Còn về canh tác lúa thì triển khai mô hình theo hướng sản xuất lúa hữu cơ trên nền đất nuôi tôm để từng bước xây dựng thương hiệu lúa thơm – tôm sạch của huyện Mỹ Xuyên”.
Cải tạo ao nuôi tôm trên nền trồng lúa. Ảnh : .2lua.vn
Cải tạo ao nuôi tôm trên nền trồng lúa. Ảnh : .2lua.vn
Nuôi tôm trong ruộng lúa là hình thức canh tác kết hợp giữa trồng trọt và thủy sản. Phương thức nuôi này không những làm giảm việc tranh diện tích sản xuất mà còn góp phần tăng thu nhập trên một mảnh đất, nuôi tôm trong ruộng lúa, không làm giảm năng suất lúa mà còn có sản phẩm tôm. Để áp dụng trước tiên cần đáp ứng điều kiện về công trình nuôi tôm và trồng lúa. Công trình được chuẩn bị từ đầu vụ vào mùa khô khoảng tháng 1, tháng 2 dương lịch sau khi thu hoạch lúa. Hệ thống công trình hoàn chỉnh gồm ao lắng, ao ương, ruộng nuôi, cống cấp thoát, nơi chứa bùn thải. Bờ bao phải chắc chắn không rò rỉ, rộng đáy mương 2 – 3m, độ sâu mực nước 1 m trở lên, nước trên trảng 0,5m trở lên. Để thích hợp cho việc xen canh đối tượng tôm trên ruộng lúa cần xây dựng mặt trảng thành từng luống, có mương xẻ để diện tích cho tôm được mở rộng thông thoáng, thuận tiện cho tôm phát triển giai đoạn tôm lên ruộng cũng như thao tác trong quá trình chăm sóc lúa. Ao ương, ruộng nuôi tôm sú được cải tạo từ đầu vụ, ao ương tôm càng xanh được cải tạo khoảng tháng 5 – 6 dương lịch (có thể sử dụng ao ương tôm sú cải tạo lại để ương tôm càng xanh chuẩn bị nguồn tôm lóng cho vụ nuôi tôm càng trên ruộng lúa).Quy trình cải tạo được thực hiện như sau: - Ao mới đào: ngâm rửa nhiều lần, bón lót vôi từ 50 – 100kg tùy theo pH đất, phơi đất. - Ao cũ: sên vét bùn đáy ao mương, sửa cống, bọng đầm nén bờ tránh rò rỉ nước. Lưu ý: sau khi thu hoạch lúa dọn sạch gốc rạ cho nước vào ngâm cho rạ mục rồi bơm cạn, phơi ruộng đến nức châm chim thì bón lót vôi. - Rải vôi lúc đất còn ẩm, rải lúc sáng sớm trởi ít gió - Bón nhiều vôi ở nơi còn úng ngập nước - Ruộng nhiều phèn không phơi ao quá khô - Chú ý diệt ốc, tôm, tép tạp trong lúc cải tạo phơi ao - Ao ương cần được cải tạo kỹ càng hơn. Đầu vụ nuôi tôm sú khi ngành chức năng và quản lý địa phương có thông báo lịch thả giống thì môi trường nước công cộng đã đạt yêu cầu về độ mặn và các chỉ tiêu khác về môi trường, mầm bệnh. Chọn con nước rong, nước lớn có độ mặn phù hợp, lấy nước vào ao lắng, ruộng nuôi và ao ương. Nước được lấy thông qua túi lọc, càng lọc kỹ càng tốt để tránh tôm, tép, cá tạp. Diệt tạp sau khi lấy nước đầy ao lắng, ao ương, ruộng nuôi liên tiếp khoảng 3 – 5 ngày sử dụng một trong các phương pháp sau đây: -  Thuốc cá dây: 10 – 15 kg/1.000m3 nước (độ mặn thấp) -   Saponin: 10 – 15 kg/1.000m3 (độ mặn >= 8%)Diệt khuẩn -  Thuốc tím:  3 – 5 kg/1.000 m3 nước -  Iodin: 1 lit/1 – 2.000 m3 nước Gây màu tạo thức ăn tự nhiên: Sau 5 – 7 ngày diệt khuẩn tiến hành gây màu tạo thức ăn tự nhiên ban đầu cho tôm: + Hỗn hợp cám mịn – bột đậu nành – bột cá lạt (tỷ lệ 1:1:1), 3 – 5 kg/1.000 m3 nước nấu, ngâm ủ (18 – 24h) với vi sinh thuộc nhóm Bacillus spp, sử dụng trước khi thả giống 7 ngày, 3 ngày và 1, 3, 5 ngày liên tục sau khi thả giống. + Phân vô cơ: NPK, DAP liều từ 1 – 3 kg/1.000 m3 kết hợp bón vi sinh (B.subtilis, Nitro somonas, nitro bacter…) liều cao để tạo nguồn vi khuẩn có lợi phát triển trong ao và nền đáy giúp phân hủy hữu cơ và đối kháng vi khuẩn gây bệnh phát sinh trong môi trường ao nuôi. + Bổ sung thêm vôi Dolomite, canxi carbonat, khoáng đa và vi lượng hỗ trợ cho sự phát triển của tảo và ổn định các yếu tố môi trường. Kiểm tra các yếu tố môi trường trước khi thả giống: Độ mặn từ 3 ‰ trở lên; Độ trong 3 – 3,5 tấc; pH: 7.5 – 8.5;Độ kiềm 80 – 120 mg/L. Sau khi thả tôm thì việc chăm sóc, quản lý vô cùng quan trọng, nhất là khâu cung cấp thức ăn và quản lý môi trường ao nuôi:
Ao nuôi tôm. Ảnh : 2lua.vn
 Ao nuôi tôm. Ảnh : 2lua.vn
Đối với tôm sú: Tháng đầu tiên: cho ăn thức ăn công nghiệp, mỗi ngày từ 2 – 3 cử, lượng thức ăn trong ngày đầu 1 kg/ 100.000 con giống. Lượng thức ăn tăng tính trên 100.000 con giống thả. Tuần 1 tăng 100 gr/ngày; tuần 2 tăng 200 gr/ngày; tuần 3 và 4 tăng 300 gr/ngày. Nếu nuôi tôm sú ở mật độ thấp <= 3 con/m2 trong điều kiện chuẩn bị ao tốt (gây màu tạo thức ăn tự nhiên) có thể không cần cho ăn trong 10 – 15 ngày đầu, tuy nhiên cũng cần tập cho tôm quen dần thức ăn công nghiệp nên cho tôm ăn ít trong những ngày đầu mới thả. Sau 10 ngày thả, đặt sàn để kiểm tra tỉ lệ sống của tôm, cho một ít thức ăn vào sàn để tôm quen dần, thường thì khoảng 20 ngày tôm quen sàn và ăn hết thức ăn trong sàn khi tôm được 30 ngày tuổi. Từ tháng thứ 2 trở đi: cho tôm ăn 4 – 5 cử/ngày, lượng thức ăn được tính toán dựa vào thời gian tôm ăn hết sàn. Đối với tôm càng xanh: Việc quản lý cho ăn nên bắt đầu từ giai đoạn thả ương, tôm thuộc loại háo ăn, khi thiếu thức ăn tôm ăn thịt lẫn nhau sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ sống, tập tính tôm ăn mạnh vào chiều tối cần lưu ý để tôm sử dụng tốt thức ăn. Tôm không có nhu cầu độ đạm cao nên sử dụng tốt thức ăn công nghiệp cho tôm thẻ, giai đoạn tôm lên ruộng sử dụng tự nhiên là chủ yếu khi mật độ thưa 0,5 – 1 con/m2, tuy nhiên cũng cần bổ sung thêm thức ăn tự chế hoặc thức ăn công nghiệp để tôm được ăn no đầy đủ.Quản lý môi trường ao nuôi: Thường xuyên kiểm tra các yếu tố môi trường để điều chỉnh cho thích hợp sẽ giúp tôm khỏe, lớn nhanh, phòng tránh bệnh: pH kiểm tra 2 lần/ngày; độ kiềm: kiểm tra 3 ngày/lần; kiểm tra các khí độc thường xuyên… Duy trì mực nước 0,5 m trở lên đối với mặt ruộng và 1 m trở lên đối với mương hoặc ao. Nước cấp thêm phải được lắng, lọc, xử lý từ ao lắng, không cấp nước trực tiếp từ sông, rạch vì dễ bị nhiễm bệnh và số tôm. Theo Thạc sĩ Lâm Ánh Tiên, Phó Phòng Kỹ thuật – Trung tâm Khuyến nông Sóc Trăng: “Mô hình tôm – lúa có đặc điểm là phải đảm bảo thời gian nuôi tôm nước lợ sao cho đạt giá trị thương phẩm, nhưng bà con phải kết thúc vụ nuôi và rửa mặn để lấp lại vụ lúa vào tháng 10 mỗi năm. Do đó, bà con phải thả tôm giống nước lợ khoảng tháng 3, tháng 4, cần phải chuẩn bị 1 ao ương dưỡng con giống. Sau khi sang tôm ương dưỡng qua ao nuôi thì ao ương dưỡng này cải tạo lại để ương dưỡng giống tôm càng xanh nhân tạo, để khi nền ao nuôi tôm lấp lại vụ lúa thì bà con đưa tôm càng xanh vào nuôi trong ruộng lúa”.Thu hoạch: Đối với tôm sú: sau thời gian nuôi 5 – 6 tháng, tôm đạt kích cỡ 30 – 35 con/kg thì có thể thu hoạch, nên thu hoạch khi tôm cứng vỏ, nếu thấy vỏ tôm lột nhiều thì khoảng 7 – 8 ngày sau mới thu hoạch, trong thời gian này thường xuyên bón vôi để tôm chắc, khỏe, vỏ bóng đẹp sẽ nặng cân. Đối với tôm càng xanh: thu hoạch vào tháng 1 năm sau, sau mùa thu hoạch lúa, tôm nuôi được 6 – 8 tháng, đạt kích cỡ 8 – 15 con/kg (loại 1 và loại 2). Tôm bán được giá khi sống (tôm oxy) vì vậy cần liên hệ mối lái trước khi có quyết định thu hoạch tôm. Chuẩn bị vèo trong ao, thu tôm thả vào vèo để chủ động khi bán tôm sống. Đối với lúa: thu hoạch vào khoảng tháng 1 dương lịch, trước khi thu hoạch nên rút nước xuống mương để không ảnh hưởng đến tôm nuôi, rút nước từ từ nhiều ngày để tôm rút về được mương bao, kiểm tra tôm dưới mương nếu thấy tôm nằm nhiều thì tiến hành thu hoạch lúa.
Theo : 2lua.vn

Có thể bạn quan tâm

Giữ bình yên từ mỗi mái nhà nơi biên giới Tùng Vài

Giữ bình yên từ mỗi mái nhà nơi biên giới Tùng Vài

Là xã vùng cao biên giới của tỉnh Tuyên Quang, Tùng Vài có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Việc nâng cao nhận thức pháp luật, phòng ngừa ma túy và phát huy trách nhiệm của người dân trong bảo vệ biên giới có ý nghĩa thiết thực đối với cuộc sống từng gia đình.

Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong cộng đồng Chăm Islam

Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong cộng đồng Chăm Islam

Ban Đại diện Cộng đồng Chăm Hồi giáo Islam tỉnh An Giang đã đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, lồng ghép những những tình huống thực tế trong đời sống hàng ngày vào các buổi sinh hoạt tôn giáo, qua đó giúp bà con dễ hiểu và chấp hành tốt quy định của pháp luật.

Người có uy tín góp sức đưa chính sách vào cuộc sống

Người có uy tín góp sức đưa chính sách vào cuộc sống

Ông Đàm Văn Lâm, dân tộc Sán Chay, ở thôn Thống Nhất, xã Ba Chẽ (TP Quảng Ninh), là người có uy tín trong cộng đồng, tích cực tuyên truyền pháp luật, hòa giải mâu thuẫn, vận động bà con thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Cầu nối phát triển kinh tế nông thôn

Cầu nối phát triển kinh tế nông thôn

Thông qua hỗ trợ vốn, chuyển giao khoa học - kỹ thuật, phát triển kinh tế tập thể và kết nối tiêu thụ nông sản, Hội Nông dân tỉnh Vĩnh Long đang phát huy vai trò cầu nối, giúp hội viên đổi mới phương thức sản xuất, nâng cao giá trị nông sản và cải thiện thu nhập.

Giúp trẻ em tạo 'lá chắn' để nhận diện và phòng tránh nguy cơ bị xâm hại trên không gian mạng

Giúp trẻ em tạo 'lá chắn' để nhận diện và phòng tránh nguy cơ bị xâm hại trên không gian mạng

Với thông điệp chính “Kết nối không tổn thương”, Chiến dịch “Không một mình” năm 2026 đang được Công an tỉnh Quảng Ngãi phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh triển khai tại các trường học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng giúp trẻ em nhận diện và phòng tránh nguy cơ bị xâm hại trên không gian mạng.

Những 'đại sứ' công nghệ trong cộng đồng dân tộc ở TP Hồ Chí Minh

Những 'đại sứ' công nghệ trong cộng đồng dân tộc ở TP Hồ Chí Minh

Nhiều thanh niên tình nguyện, người có uy tín trong cộng đồng ở TP Hồ Chí Minh đang trở thành những “đại sứ công nghệ” thực thụ, hướng dẫn bà con dân tộc cách sử dụng các ứng dụng dịch vụ công trực tuyến, từng bước đưa công nghệ số đến gần hơn với cộng đồng các dân tộc.

Khi công an xã 'nói tiếng lòng' của đồng bào

Khi công an xã 'nói tiếng lòng' của đồng bào

Tại các xã miền núi tỉnh Quảng Ngãi, việc học tiếng dân tộc thiểu số đang giúp cán bộ công an gần dân hơn, nâng cao hiệu quả tuyên truyền pháp luật và hỗ trợ người dân tiếp cận các tiện ích số.

Chăn nuôi tuần hoàn tăng giá trị nhờ chế biến sâu

Chăn nuôi tuần hoàn tăng giá trị nhờ chế biến sâu

Mô hình chăn nuôi bò thịt tuần hoàn kết hợp chế biến sâu tại xã Điềm Thụy (tỉnh Thái Nguyên) không chỉ giải bài toán ô nhiễm môi trường mà còn đem lại hiệu quả kinh tế vượt trội, mở ra hướng đi bền vững cho nông dân địa phương.

Nâng cao kiến thức nhà ở an toàn trước thiên tai

Nâng cao kiến thức nhà ở an toàn trước thiên tai

Ngày 8/10, tại Trường THPT Lương Ngọc Quyến, phường Phan Đình Phùng, tỉnh Thái Nguyên, đã diễn ra vòng chung kết cấp tỉnh của Cuộc thi “Mái ấm kiên cố - Cộng đồng kiên cường: Gia đình và cộng đồng chung tay phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu”.

Lớp học nhỏ, ước mơ lớn ở bản biên giới Lai Châu

Lớp học nhỏ, ước mơ lớn ở bản biên giới Lai Châu

Tại điểm du lịch cộng đồng từng đoạt giải thưởng quốc tế Bản Sin Suối Hồ, xã Sin Suối Hồ, Lai Châu, có một lớp học rất đặc biệt: Không thu học phí, không áp lực điểm số, nhưng lại mở ra những cơ hội mới cho trẻ em vùng cao biên giới.

Phương án nghỉ hưu cho người lao động ở vùng đặc biệt khó khăn

Phương án nghỉ hưu cho người lao động ở vùng đặc biệt khó khăn

Bạn đọc hỏi: Tôi là thầy giáo 48 tuổi, đã đóng BHXH bắt buộc 25 năm 5 tháng, trong đó có 8 năm công tác ở vùng đặc biệt khó khăn. Do sức khỏe không ổn định nên tôi muốn nghỉ việc để chuyển sang công việc khác. Xin hỏi, nếu không đóng tiếp BHXH thì đợi đến năm 62 tuổi mới nhận được lương hưu, thì mức lương hưu hằng tháng được tính như thế nào? Thời gian công tác ở vùng đặc biệt khó khăn là 8 năm có được tính để nghỉ hưu sớm hay không?

Hiểu tiếng đồng bào, thấu lòng dân

Hiểu tiếng đồng bào, thấu lòng dân

Tại các xã miền núi tỉnh Quảng Ngãi - nơi quy tụ đồng bào của 44 dân tộc thiểu số cùng chung sống, rào cản ngôn ngữ từng là khó khăn lớn trong công tác tiếp xúc, giải quyết công việc của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ và giáo viên công tác tại cơ sở.

Điện Biên xây dựng môi trường giáo dục số

Điện Biên xây dựng môi trường giáo dục số

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong dạy học, tỉnh Điện Biên đang từng bước xây dựng môi trường giáo dục số. Công nghệ không chỉ làm cho bài học trực quan, sinh động hơn mà còn hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy và công tác quản lý nhà trường. Ghi nhận tại Trường Tiểu học và THCS Mường Thanh, phường Mường Thanh.

Phổ biến Bộ Quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường mạng

Phổ biến Bộ Quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường mạng

Ngày 28/9, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến Bộ Quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường mạng và các quy định của pháp luật về quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên mạng năm 2026.