Mở rộng không gian trồng sâm Ngọc Linh - Định hình tầm nhìn mới

Việc mở rộng không gian trồng sâm Ngọc Linh tại Đà Nẵng đặt ra yêu cầu cần định hình một tầm nhìn mới, để thương hiệu và các sản phẩm chế biến sâu của loại cây “Quốc bảo” này vươn xa hơn trên thị trường quốc tế.

sam-ngoc-linh-13072026-01.jpg
Vườn ươm cây sâm Ngọc Linh giống của Trung tâm Phát triển sâm Ngọc Linh và Dược liệu trên đỉnh núi Ngọc Linh, ở xã Trà Linh, thành phố Đà Nẵng.

Qua giai đoạn đầu khuyến khích phát triển trồng cây sâm Ngọc Linh dưới tán rừng đã mang lại những kết quả bước đầu, đặt nền móng định vị vùng nguyên liệu sâm đặc hữu của thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, thực tế cũng bộc lộ nhiều bất cập, chưa hình thành vùng sản xuất dược liệu nguyên liệu tập trung theo tiêu chuẩn GACP-WHO (Thực hành tốt nuôi trồng và thu hái) của Tổ chức Y tế thế giới; người trồng chưa tuân thủ đúng phương án trồng sâm trong rừng tự nhiên; nguồn giống chưa được kiểm soát chặt; thiếu hạ tầng kỹ thuật kiểm định phân biệt sâm thật, giả; thay đổi chính sách về thuê môi trường rừng; chưa hình thành ngành công nghiệp chế biến sâu…

Để giải quyết những vấn đề trên, thành phố Đà Nẵng xác định cây sâm Ngọc Linh là cây dược liệu trồng dưới tán rừng chủ lực và đã định hình quy hoạch vùng trồng sâm lên đến 15.000 ha. Việc mở rộng không gian trồng sâm Ngọc Linh thời gian tới đặt ra yêu cầu cần định hình một tầm nhìn mới, để thương hiệu và các sản phẩm chế biến sâu của loại cây “Quốc bảo” này vươn xa hơn trên thị trường quốc tế.

Đảm bảo ổn định về nguồn giống sâm gốc

Cây sâm Ngọc Linh là loại sâm đặc hữu sinh trưởng phát triển dưới tán rừng trên đỉnh núi Ngọc Linh thành phố Đà Nẵng ở độ cao từ 1.500 - 2.000m so với mực nước biển. Nguồn giống cây có vai trò quyết định trong việc mở rộng diện tích vùng trồng, cũng như bảo tồn nguồn gen gốc.

Hiện nay, hầu hết các vườn trồng sâm trên địa bàn xã Trà Linh đều chủ động việc ươm trồng cây giống tại chỗ. Vào tháng 7 đến tháng 9 hàng năm, người dân sẽ thu hái những chùm quả sâm đỏ tươi, có chấm đen trên đầu quả, lựa chọn những hạt tốt nhất để gieo ươm thành cây con. Những cây sâm con được chăm sóc cẩn thận trong những khay trồng từ 1 - 2 năm, sau đó được đưa ra trồng ở vườn dưới tán rừng.

Là người dưới đồng bằng lên và gắn bó với cây “Thuốc giấu” của đồng bào Xơ Đăng hơn chục năm qua, anh Nguyễn Thành Thi đang đồng sở hữu một vườn sâm rộng gần 4ha. Theo anh Thi, để đảm bảo đúng nguồn gen cây sâm Ngọc Linh bản địa phụ thuộc chủ yếu vào ý thức của chủ vườn trong lựa chọn nguồn gốc xuất xứ giống cây. Với những cây sâm giống ban đầu mua lại của bà con đồng bào Xơ Đăng, hiện nay, vườn sâm của anh Thi đã nhân ra thành hàng chục ngàn cây sâm ở các độ tuổi khác nhau.

“Về nguồn giống, chúng tôi tự chủ hoàn toàn. Cứ mỗi năm khi sâm cho hạt, tôi lấy hạt đó để gieo ươm lại, chứ không lấy từ nơi khác. Những năm đầu mới trồng, tôi nhân giống khoảng 2.000 - 3.000 cây. Nhưng sau này, khi số lượng cây giống đó trưởng thành và cho hạt, mỗi năm tôi có thể gieo lại khoảng 10.000 - 20.000 cây”, anh Nguyễn Thành Thi chia sẻ.

Tuy nhiên theo anh Thi, các kênh mua bán sâm trên không gian mạng rất đa dạng, dẫn đến việc khó kiểm soát nguồn gốc xuất xứ vùng trồng cũng như nguồn gốc cây giống, làm ảnh hưởng đến giá trị và đầu ra tiêu thụ sản phẩm của các nhà vườn tại đỉnh núi Ngọc Linh.

Thành phố Đà Nẵng hiện có khoảng 6.000 ha rừng phòng hộ đang được các tổ chức, nhóm hộ, cá nhân triển khai trồng sâm dưới tán rừng. Cách đây vài năm, nguồn cung sâm giống trở lên khan hiếm trước nhu cầu lớn mở rộng diện tích vùng trồng, cây sâm một năm tuổi có giá lên đến 300.000 đồng. Nhưng hiện tại giá đã bị rớt “lao dốc”, còn khoảng 35.000 đồng/cây.

Những cây sâm Ngọc Linh một năm tuổi tại vườn ươm của Trung tâm Phát triển sâm Ngọc Linh và Dược liệu trên đỉnh núi Ngọc Linh, ở xã Trà Linh, thành phố Đà Nẵng.

Những cây sâm Ngọc Linh một năm tuổi tại vườn ươm của Trung tâm Phát triển sâm Ngọc Linh và Dược liệu trên đỉnh núi Ngọc Linh, ở xã Trà Linh, thành phố Đà Nẵng.

Xã vùng cao Trà Linh hiện có trên 3.000 hộ dân tham gia trồng sâm Ngọc Linh, đây là nguồn sinh kế chủ yếu của đồng bào dân tộc Xơ Đăng, không chỉ giúp bà con thoát cảnh đói nghèo mà nhiều người còn vươn lên làm giàu, trở thành những “tỷ phú sâm”.

Ông Trịnh Minh Hải, Chủ tịch UBND xã Trà Linh cho biết, chính quyền địa phương không có chủ trương du nhập các giống sâm ngoại lai từ nơi khác vào địa bàn. Tuy nhiên, việc giống sâm khác xâm nhập qua thị trường thương mại là có thật. Chính quyền xã đang tích cực và quyết liệt trong việc kiểm soát vấn đề này. Giải pháp chính là đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức người dân về bảo vệ giá trị thương hiệu, bảo tồn nguồn giống cây sâm Ngọc Linh gốc, đây là tiền đề phát triển vùng nguyên liệu bền vững.

Ở độ cao 1.800m so với mực nước biển, Trạm Dược liệu Ngọc Linh của Trung tâm Phát triển sâm Ngọc Linh và Dược liệu (thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Đà Nẵng) đang quản lý hơn 50 ha rừng tự nhiên nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo tồn, lưu giữ và phát triển nguồn gen gốc của giống sâm quý này.

Khác với vườn sâm của người dân được trồng theo luống, che chắn cẩn thận bằng mái bạt để hạn chế tác động bất lợi của thời tiết như sương muối, mưa đá. Những củ sâm gân guốc hàng chục năm tuổi “dạn dày sương gió” ở Trạm Dược liệu Ngọc Linh mọc tự nhiên trên lớp thực bì dưới tán rừng nguyên sinh. Ông Nguyễn Cảnh Cường, Phụ trách Phòng Kỹ thuật của Trung tâm Phát triển sâm Ngọc Linh và Dược liệu chia sẻ, những cây sâm ở đây không khai thác củ để bán, ngược lại được bảo vệ nghiêm ngặt để bảo tồn nguồn gen. Đây là những cây giống đầu dòng, thuần chủng, những chùm hạt của cây là nguồn giống quý để tạo ra những cây sâm con khỏe mạnh, ít sâu bệnh cho thị trường.

“Năm 2025, Trung tâm đã thực hiện thành công việc cấp giấy chứng nhận cơ sở bảo tồn dược liệu sinh học với 268.902 cây sâm Ngọc Linh. Với số lượng cây này, Trung tâm sẽ thực hiện thu hái nguồn hạt phong phú để ươm cây giống cung cấp cho thị trường”, ông Nguyễn Cảnh Cường nói.

Trạm Dược liệu Ngọc Linh hiện đang ươm tạo thành công mỗi năm khoảng 200.000 cây sâm giống. Mục tiêu đến năm 2030, đơn vị phấn đấu đạt sản lượng ươm trồng trên 500.000 cây, góp phần đáp ứng nhu cầu mở rộng diện tích vùng trồng.

Nhận diện những “rào cản”

Những cây sâm mọc tự nhiên trong rừng được gắn mã QRCode phục vụ công tác quản lý bảo tồn và phát triển nguồn gen phục vụ công tác nhân giống của Trung tâm Phát triển sâm Ngọc Linh và Dược liệu trên đỉnh núi Ngọc Linh, ở xã Trà Linh, thành phố Đà Nẵng.

Những cây sâm mọc tự nhiên trong rừng được gắn mã QRCode phục vụ công tác quản lý bảo tồn và phát triển nguồn gen phục vụ công tác nhân giống của Trung tâm Phát triển sâm Ngọc Linh và Dược liệu trên đỉnh núi Ngọc Linh, ở xã Trà Linh, thành phố Đà Nẵng.

Thời gian qua, thành phố Đà Nẵng có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển trồng cây sâm Ngọc Linh dưới tán rừng. Tuy nhiên có một thực tế, diện tích rừng mà tổ chức, cá nhân, nhóm hộ sử dụng để trồng sâm không được quản lý chặt chẽ, cả phía chủ vườn và chủ rừng đều không nắm chính xác số liệu cụ thể.

Để khắc phục “lỗ hổng” này, Ban Quản lý rừng phòng hộ Đà Nẵng đang chỉ đạo các đơn vị nghiệp vụ thực hiện đo đạc tại từng vườn sâm về diện tích rừng sử dụng, diện tích khu vực trồng sâm, số lượng và độ tuổi cây sâm, nguồn gốc cây giống… Từ đó, thực hiện việc ký thuê môi trường rừng đối với toàn bộ các chủ vườn theo theo Nghị định số 183/2025/NĐ-CP ngày 1/7/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 156/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp.

Trước đây, thời gian và phí thuê môi trường rừng để trồng sâm Ngọc Linh do thành phố Đà Nẵng quy định. Tuy nhiên, sau một năm áp dụng theo Nghị định số 183/2025/NĐ-CP của Chính phủ đang cho thấy nhiều bất cập, cần sớm được tháo gỡ.

Theo ông Võ Hùng Nhân, Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Đà Nẵng, Nghị định số 183/2025/NĐ-CP có bất cập về thời gian thuê môi trường rừng để trồng cây dược liệu giới hạn là 10 năm, ký lần thứ 2 gia hạn thêm được 7 năm, sau đó phải hoàn trả diện tích cho chủ rừng. Nếu muốn thuê nữa phải làm thủ tục lại từ đầu và chưa chắc đấu giá trúng vị trí đã trồng, nếu phải di dời hàng chục ngàn cây sâm qua vị trí thuê mới sẽ ảnh hưởng đến việc hao hụt cũng như sức phát triển của cây. Trong khi cây sâm Ngọc Linh có chu kỳ sinh trưởng dài, người dân thường để lại những cây đầu dòng hàng chục năm tuổi trong vườn để lấy giống và thời gian trồng đến khi thu hoạch củ bán thương phẩm cũng phải đến 8 năm. Do vậy, Chính phủ nên nghiên cứu, điều chỉnh kéo dài thời gian thuê môi trường rừng đối với cây sâm lên khoảng 30 năm để chủ vườn yên tâm đầu tư.

Ngoài ra, Nghị định số 183/2025/NĐ-CP quy định phí thuê môi trường rừng là 5% doanh thu của chủ vườn tính từ khi xuất hiện doanh thu bán sản phẩm. Đây là con số rất lớn, trong khi trồng sâm đòi hỏi vốn đầu tư cao, vô hình chung tạo “rào cản” thu hút doanh nghiệp đầu tư vào khu vực miền núi có nhiều khó khăn. Cơ quan chức năng cần nghiên cứu điều chỉnh cách tính phần trăm trên doanh thu chuyển qua tính trên lợi nhuận, hoặc điều chỉnh lại con số tỷ lệ này. Đồng thời, Nghị định cũng chưa đề cập đến việc miễn giảm tiền thuê môi trường rừng trong trường hợp vườn sâm của người dân xảy ra thiên tai bất khả kháng hoặc thiệt hại lớn do dịch bệnh trên cây trồng.

Mới đây, thành phố Đà Nẵng đã thông qua Nghị quyết số 50/2026/NQ-HĐND về cơ chế khuyến khích bảo tồn, phát triển sâm Ngọc Linh và các cây dược liệu khác giai đoạn 2026 - 2030, với tổng kinh phí thực hiện dự kiến hơn 136 tỷ đồng. Nghị quyết nhằm bảo tồn nguồn gen quý, phát triển vùng dược liệu tập trung, nâng cao thu nhập cho người dân miền núi gắn với bảo vệ rừng, từng bước xây dựng sâm Ngọc Linh và các sản phẩm dược liệu khác trở thành ngành kinh tế có giá trị cao của thành phố. Nghị quyết được kỳ vọng sẽ tạo ra "cú hích" để mở rộng phát triển vùng dược liệu sâm Ngọc Linh của thành phố theo hướng bền vững.

Đáng chú ý, Nghị quyết số 50/2026/NQ-HĐND tập trung hỗ trợ chi phí đầu tư cho các dự án, phương án nuôi trồng phát triển sâm Ngọc Linh; hỗ trợ tối đa 2.000 cây sâm giống cho mỗi thành viên trong các hộ, nhóm hộ đáp ứng các điều kiện trong thời gian trên… Trước đó, từ năm 2022 - 2025, thành phố Đà Nẵng đã hỗ trợ hơn 103.000 cây sâm giống Ngọc Linh cho 1.695 hộ dân.

Vấn đề thị trường đầu ra ổn định gắn với công nghệ chế biến sâu các sản phẩm từ sâm Ngọc Linh cũng là kỳ vọng và mục tiêu mà thành phố Đà Nẵng đẩy mạnh thực hiện trong thời gian tới. Bởi hiện nay, sâm củ và lá sâm chủ yếu được chế biến ngâm cùng mật ong hoặc ngâm rượu, tiêu thụ chính ở thị trường trong nước.

Những cây sâm gốc mọc tự nhiên trong rừng cho những hạt giống quý để bảo tồn và phát triển nguồn gen phục vụ công tác nhân giống của Trung tâm Phát triển sâm Ngọc Linh và Dược liệu trên đỉnh núi Ngọc Linh, ở xã Trà Linh, thành phố Đà Nẵng.

Những cây sâm gốc mọc tự nhiên trong rừng cho những hạt giống quý để bảo tồn và phát triển nguồn gen phục vụ công tác nhân giống của Trung tâm Phát triển sâm Ngọc Linh và Dược liệu trên đỉnh núi Ngọc Linh, ở xã Trà Linh, thành phố Đà Nẵng.

Ông Nguyễn Văn Lượng, người đồng bào Xơ Đăng, một trong những hộ có diện tích trồng sâm Ngọc Linh lớn nhất của thành phố Đà Nẵng cho rằng, việc mở rộng vùng trồng sâm hiện nay cần thu hút doanh nghiệp lớn gắn với xây dựng nhà máy chế biến sâu để hình thành liên kết chuỗi, mở rộng thị trường tiêu thụ, thay thế cho tình trạng manh mún như hiện nay. Đồng thời, thành phố cũng cần sớm đầu tư hệ thống thiết bị kiểm định thành phần hoạt chất sinh học saponin sâm Ngọc Linh góp phần chống nạn sâm giả, sâm không rõ nguồn gốc, từ đó tạo niềm tin đối với người tiêu dùng.

Hiện nay, Công ty cổ phần Tập đoàn Trường Hải đang nghiên cứu triển khai Dự án sản xuất, trồng trọt, chế biến sâm Ngọc Linh và dược liệu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Dự án hướng đến việc bảo tồn và phát triển giống sâm Ngọc Linh, đồng thời tổ chức sản xuất theo mô hình công nghiệp hiện đại, ứng dụng khoa công nghệ cao để nâng cao năng suất, chất lượng, tạo ra những sản phẩm có giá thành hợp lý. Dự án đang được kỳ vọng tạo sự đột phá hình thành chuỗi giá trị khép kín để nâng tầm định vị thương mại sâm Ngọc Linh ra thị trường quốc tế.

Năm 2025, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Phát triển và hình thành trung tâm công nghiệp dược liệu tại tỉnh Quảng Nam (nay là thành phố Đà Nẵng) với sâm Ngọc Linh là cây chủ lực”; trong đó nhấn mạnh mục tiêu phát triển đồng bộ vùng nguyên liệu dược liệu và hệ thống chế biến, sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa học… Để hiện thực hóa mục tiêu này, thành phố Đà Nẵng cần tháo gỡ những nút thắt, rào cản trong quá trình phát triển vùng dược liệu để định hình một tầm nhìn mới cho cây sâm Ngọc Linh - loại sâm tốt nhất thế giới./.

Dân tộc Xơ Đăng

Tên tự gọi: Xơ Teng (Hđang, Xđang, Xđeng), Tơ Ðrá (Xđrá, Hđrá), Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng (Xlang), Tà Trĩ (Tà Trê), Châu.

Tên gọi khác: Xê Đăng, Hđang, Kmrâng, Con lan, Brila.

Nhóm địa phương: Xơ Teng, Tơ Ðrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu.

Dân số: 169.501 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần với tiếng Hrê, Ba Na, Gié Triêng. Giữa các nhóm có một số từ vựng khác nhau. Chữ viết dùng hệ chữ cái La-tinh, mới hình thành cách đây mấy chục năm.

Lịch sử: Người Xơ Ðăng thuộc số cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên và vùng lân cận thuộc miền núi của Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Hoạt động kinh tế: Một bộ phận trồng lúa nước, điển hình là nhóm Mnâm làm ruộng theo lối sơ khai: làm đất bằng cách lùa đàn trâu dẫm quần và dùng cuốc đẽo từ gỗ (nay đã có cuốc lưỡi sắt)... Còn lại, kinh tế rẫy đóng vai trò chủ đạo, với công cụ và cách thức canh tác tương tự như những tộc người khác trong khu vực. Chặt cây bằng rìu và dao quắm hay xà gạc, đốt bằng lửa; chọc lỗ để tra hạt giống thì dùng gậy đẽo nhọn hay gậy có lưỡi sắt; làm cỏ bằng loại cuốc con có cán lấy từ chạc cây và cái nạo có lưỡi bẻ cong về một bên; thu hoạch thì dùng tay tuốt lúa. Ngoài lúa, người Xơ Ðăng còn trồng kê, ngô, sắn, bầu, bí, thuốc lá, dưa, dứa, chuối, mía... Vùng người Ca Dong có trồng quế. Vật nuôi truyền thống là trâu, dê, lợn, chó, gà. Việc hái lượm, săn bắn, kiếm cá có ý nghĩa kinh tế không nhỏ.


Nghề dệt vải có ở nhiều vùng. Nghề rèn phát triển ở nhóm Tơ Ðrá, họ biết chế sắt từ quặng để rèn. Một số nơi người Xơ Ðăng đã biết đãi vàng sa khoáng. Ðan lát phát triển, cung cấp nhiều vật dụng. Họ ưa thích trao đổi vật trực tiếp, nay đã dùng tiền.

Ăn: Người Xơ Ðăng ăn cơm tẻ, cơm nếp với muối ớt và các thức kiếm được từ rừng; khi cúng bái mới có thịt gia súc, gia cầm. Phổ biến là món canh nấu rau hoặc măng lẫn thịt hay cá, ốc và các món nướng. Họ uống nước lã (nay nhiều người đã đun chín), rượu cần. Ðặc biệt rượu được chế từ loại kê chân vịt ngon hơn rượu làm từ gạo, sắn.

Một số nơi người Xơ Ðăng có tập quán ăn trầu cau. Nam nữ đều hút thuốc lá; có nơi, đồng bào đưa thuốc lá nghiền thành bột vào miệng thay vì hút trong tẩu.

Mặc: Nam đóng khố, ở trần. Nữ mặc váy, áo. Trời lạnh dùng tấm vải choàng người. Trước kia, nhiều nơi người Xơ Ðăng phải dùng y phục bằng vỏ cây. Nay đàn ông thường mặc quần áo như người Việt, áo nữ cũng là áo cánh, sơ mi, váy bằng vải dệt công nghiệp. Vải cổ truyền Xơ Ðăng có nền màu trắng mộc của sợi hoặc màu đen, hoa văn ít và chủ yếu thường dùng các màu đen, trắng, đỏ.

: Người Xơ Ðăng cư trú ở tỉnh Kon Tum và hai huyện Trà My, Phước Sơn tỉnh Quảng Nam, huyện Tây Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; sống tập trung nhất ở vùng quần sơn Ngọc Linh. Họ ở nhà sàn, trước kia nhà dài, thường cả đại gia đình ở chung (nay phổ biến hình thức tách hộ riêng). Nhà ở trong làng được bố trí theo tập quán từng vùng: có nơi quây quần vây quanh nhà rông ở giữa, có nơi dựng lớp lớp ngang triền đất và không có nhà rông. Kỹ thuật làm nhà chủ yếu là sử dụng ngoàm và buộc dây, mỗi hàng cột chạy dọc nhà được liên kết thành một vì cột, mỗi ngôi nhà có một vì cột, mỗi ngôi nhà có hai vì cột.

Phương tiện vận chuyển: Gùi được dùng hàng ngày chuyên chở hầu như mọi thứ trên lưng, mỗi quai khoác vào một vai. Có các loại gùi khác nhau: đan thưa, đan dày, có nắp, không nắp, có hoa văn, không có hoa văn... Nam giới còn có riêng gùi 3 ngăn (gùi "cánh dơi") hoặc gùi gần giống hình con ốc sên. Gùi ở các nhóm Xơ Ðăng có sự khác biệt nhau nhất định về kiểu dáng, kỹ thuật đan.

Quan hệ xã hội: Từng làng có đời sống tự quản, đứng đầu là ông "già làng". Lãnh thổ của làng là sở hữu chung, trên đó mỗi người có quyền sở hữu ruộng đất để làm ăn. Tuy đã hình thành giàu - nghèo nhưng chưa có bóc lột một cách rõ rệt, xưa kia nô lệ mua về và người ở đợ không bị đối xử hà khắc. Quan hệ cộng đồng trong làng được đề cao.

Cưới xin: Phong tục ở các vùng không hoàn toàn giống nhau. Song, phổ biến là cư trú luân chuyển mỗi bên mấy năm, thường khi cha mẹ qua đời mới ở hẳn một chỗ. Ðám cưới có lễ thức cô dâu chú rể đưa đùi gà cho nhau ăn, đưa rượu cho nhau uống, cùng ăn một mâm cơm... để tượng trưng sự kết gắn hai người. Không có tính chất mua bán trong hôn nhân.

Ma chay: Cả làng chia buồn với tang chủ và giúp việc đám ma. Quan tài gỗ đẽo độc mộc. Những người chết bình thường được chôn trong bãi mộ chung của làng. Lệ tục cụ thể không hoàn toàn thống nhất giữa các nhóm. Không có lễ bỏ mả như người Ba Na, Gia Rai... Tục "chia của" cho người chết (đồ mặc, tư trang, công cụ, đồ gia dụng...) phổ biến.

Thờ cúng: Người Xơ Ðăng tin vào sức mạnh siêu nhiên, các "thần" hay "ma" được gọi là Kiak (Kia) hoặc "Ông", "Bà", chỉ một số nơi gọi là "Yàng". Các thần quan trọng như thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa, thần nước... Thần nước hiện thân là thuồng luồng, hoặc con "lươn" khổng lồ, hoặc con lợn mũi trắng. Thần lúa có dạng bà già xấu xí, tốt bụng, thường biến thành cóc. Trong đời sống và canh tác rẫy có rất nhiều lễ thức cúng bái đối với các lực lượng siêu nhiên, tập trung vào mục đích cầu mùa, cầu an, tránh sự rủi ro cho cộng đồng và cá nhân.

Lễ tết: Quan trọng nhất là lễ cúng thần nước vào dịp sửa máng nước hàng năm, các lễ cúng vào dịp mở đầu năm làm ăn mới, mở đầu vụ trỉa lúa, khi lúa đến kỳ con gái, khi thu hoạch, các lễ cúng khi ốm đau, dựng nhà rông, làm nhà mới, khi con cái trưởng thành... Nhiều dịp sinh hoạt tôn giáo đồng thời có tính chất hội hè của cộng đồng làng, tiêu biểu là lễ trước ngày trỉa, lễ cúng thần nước, lễ có đâm trâu của làng cũng như gia đình. Tết dân tộc tổ chức trước sau tuỳ làng, nhưng thường trong tháng Giêng (dương lịch), kéo dài 3-4 ngày.

Lịch: Cách tính lịch một năm có 10 tháng, gắn với một chu kỳ làm rẫy, sau đó là thời gian nghỉ sản xuất kéo dài cho đến khi bước vào vụ rẫy mới. Mỗi tháng 30 ngày. Trong ngày được chia ra các thời điểm với tên gọi cụ thể. Phân biệt ngày tốt, ngày xấu, ví dụ: ngày cuối tháng nếu trồng ngô sẽ nhiều hạt, chặt tre nứa dùng sẽ không bị mọt...

Văn nghệ: Người Xơ Ðăng có nhiều loại nhạc cụ (đàn, nhị, sáo dọc, ống vỗ kloongbút, trống, chiêng, cồng, tù và, ống gõ, giàn ống hoạt động nhờ sức nước...). Có loại dùng giải trí thông thường, có loại dùng trong lễ hội. Các loại nhạc cụ cụ thể và điệu tấu nhạc có sự khác nhau ít nhiều giữa các nhóm. Những điệu hát phổ biến là: hát đối đáp của trai gái, hát của người lớn tuổi, hát ru. Trong một số dịp lễ hội, đồng bào trình diễn múa: có điệu múa riêng cho nam, riêng cho nữ, cũng có điệu múa cả nam, nữ cùng tham gia. Truyện cổ Xơ Ðăng phong phú và đặc sắc.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Xơ Đăng

Có thể bạn quan tâm

Bộ đội Biên phòng chủ động ứng phó mưa lớn, bảo đảm an toàn khu vực biên giới

Bộ đội Biên phòng chủ động ứng phó mưa lớn, bảo đảm an toàn khu vực biên giới

Từ tối 11 đến chiều 12/9, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã xảy ra mưa vừa đến mưa to và có nơi có dông. Đặc biệt, ở khu vực biên giới của tỉnh, mưa lớn kéo dài nhiều giờ khiến mực nước trên các sông, suối dâng cao, một số tuyến đường bị ngập, gây ách tắc và chia cắt tạm thời một số nơi.

Lâm Đồng hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả mưa lũ

Lâm Đồng hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả mưa lũ

Sau nhiều ngày mưa lớn gây ngập lụt, sạt lở tại nhiều khu vực, ngày 11/9, khi nước tại một số nơi bắt đầu rút, chính quyền các địa phương tỉnh Lâm Đồng khẩn trương huy động lực lượng hỗ trợ người dân dọn dẹp nhà cửa, đường sá, khắc phục hậu quả; đồng thời rà soát, đánh giá thiệt hại và chủ động phương án ứng phó trước nguy cơ mưa lớn tiếp diễn.

Đắk Lắk yêu cầu làm rõ trách nhiệm việc chậm giải quyết hồ sơ đất đai

Đắk Lắk yêu cầu làm rõ trách nhiệm việc chậm giải quyết hồ sơ đất đai

Liên quan đến vấn đề tồn đọng hồ sơ đất đai tại Đắk Lắk mà phóng viên TTXVN đã phản ánh, UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành văn bản số 14151/UBND-PVHCC, ngày 10/9 về việc tăng cường phối hợp giải quyết thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai, hạn chế phát sinh hồ sơ quá hạn. Trong đó, yêu cầu các địa phương kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm đối với những chậm trễ trước đó.

Xả lũ hồ Hạ Gia Nghĩa (Lâm Đồng), khuyến cáo người dân cẩn trọng, chủ động ứng phó

Xả lũ hồ Hạ Gia Nghĩa (Lâm Đồng), khuyến cáo người dân cẩn trọng, chủ động ứng phó

Chiều 10/9, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng số 3, tỉnh Lâm Đồng đã có công văn thông báo thực hiện việc xả lũ hồ Hạ (thuộc dự án hồ Gia Nghĩa). Theo đó, từ 17 giờ 00 phút cùng ngày, đơn vị sẽ bắt đầu thực hiện việc xả lũ theo quy trình đã được phê duyệt.

Chính sách thiết thực, tiếp sức đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên

Chính sách thiết thực, tiếp sức đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên

Tây Ninh là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh, với cộng đồng dân cư đa dạng về dân tộc, tôn giáo. Bằng những chính sách thiết thực, đồng bộ, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào từng bước được nâng lên, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng quê hương ngày càng phát triển.

Giữ hương chè cổ Lộc Thanh

Giữ hương chè cổ Lộc Thanh

Trải qua thăng trầm của thời gian và những khắc nghiệt của thời tiết, hơn một thế kỷ qua, những đồi chè cổ thụ ở thôn Lộc Thanh, xã Bình Minh, tỉnh Quảng Ngãi vẫn bám rễ sâu vào lòng đất.

Đắk Lắk điều tiết nước các hồ chứa, ứng phó với đợt mưa lớn

Đắk Lắk điều tiết nước các hồ chứa, ứng phó với đợt mưa lớn

Theo dự báo của Đài Khí tượng thủy văn tỉnh Đắk Lắk, trong những ngày tới địa bàn tỉnh có mưa vừa, mưa to, có nơi mưa rất to và dông, tổng lượng mưa phổ biến từ 100-150mm, có nơi trên 200mm. Tỉnh Đắk Lắk đang triển khai giải pháp phòng chống thiên tai, đồng thời yêu cầu các hồ chứa chủ động điều tiết nước, đón lũ ứng phó với mưa lớn trong thời gian tới.

Gỡ vướng quỹ đất, thủ tục để hoàn thành 10.000 căn nhà ở xã hội

Gỡ vướng quỹ đất, thủ tục để hoàn thành 10.000 căn nhà ở xã hội

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ Vũ Việt Văn thông tin, để tiếp tục hoàn thành mục tiêu 10.000 căn nhà ở xã hội, tỉnh đang yêu cầu Sở Xây dựng tiếp tục hướng dẫn chủ đầu tư hoàn tất thủ tục chuẩn bị đầu tư, đồng thời rút ngắn tối đa thời gian thẩm định quy hoạch, thiết kế, cấp phép xây dựng thuộc thẩm quyền. Các địa phương phối hợp rà soát, điều chỉnh quy hoạch nếu cần thiết, bảo đảm các dự án nhà ở xã hội được triển khai đúng quy hoạch và đồng bộ hạ tầng.

Học sinh có thể sử dụng sách điện tử để học tập trong khi chờ sách bản giấy

Học sinh có thể sử dụng sách điện tử để học tập trong khi chờ sách bản giấy

Năm học mới đã bắt đầu gần một tuần nhưng việc cung ứng sách giáo khoa tại Đắk Lắk vẫn chưa đáp ứng kịp nhu cầu. Phụ huynh học sinh vẫn đang tìm mua để đủ sách cho con, tại một số trường học, học sinh mượn sách của các anh chị khóa trước, dùng chung sách với bạn để duy trì việc học.

Mở hướng thoát nghèo từ mô hình nuôi cấy mô thực vật

Mở hướng thoát nghèo từ mô hình nuôi cấy mô thực vật

Tốt nghiệp đại học chuyên ngành kế toán nhưng lựa chọn gắn bó với lĩnh vực nuôi cấy mô thực vật, anh La Minh Phúc, dân tộc Dao, thôn Gò Chè, xã Nhữ Khê (Tuyên Quang) đã từng bước xây dựng cơ sở nuôi cấy mô của riêng mình. Hành trình chuyển hướng nghề nghiệp của anh là câu chuyện về sự kiên trì, dám thử sức với lĩnh vực mới, góp phần quan trọng cung ứng giống cây trồng chất lượng cho địa phương.

Định vị hướng phát triển đô thị mới gắn với phát triển kinh tế biên mậu

Định vị hướng phát triển đô thị mới gắn với phát triển kinh tế biên mậu

Ngày 9/9, Đoàn công tác của Bộ Nội vụ và các bộ, ngành liên quan đã đến khảo sát thực tế tại khu vực các xã dự kiến thành lập phường trên địa bàn biên giới, tỉnh Tây Ninh, nhằm đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội, quá trình đô thị hóa, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn thành lập phường theo quy định của pháp luật.

Tăng cường phối hợp quản lý, bảo vệ biên giới

Tăng cường phối hợp quản lý, bảo vệ biên giới

Ngày 9/9, tại phường Nam Gia Nghĩa, tỉnh Lâm Đồng (Việt Nam), Đoàn đại biểu Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lâm Đồng và Đoàn đại biểu Tiểu khu Quân sự tỉnh Mondulkiri, Vương quốc Campuchia tổ chức Hội đàm.

Công nghệ thu hẹp khoảng cách ở vùng cao

Công nghệ thu hẹp khoảng cách ở vùng cao

Từ ứng dụng trí tuệ nhân tạo hỗ trợ cán bộ xử lý công việc đến hướng dẫn người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến, các xã miền núi thành phố Đà Nẵng đang từng bước đưa chuyển đổi số vào những công việc thiết thực của chính quyền và đời sống.