Người La Ha

Người La Ha
Tên tự gọi: La Ha, Klá, Phlạo.

Tên gọi khác: Xá Cha, Xá Bung, Xá Khao, Xá Táu Nhạ, Xá Poọng, Xá Uống, Bủ Hà, Pụa.

Nhóm địa phương: La Ha cạn (Khlá Phlao), La Ha nước (La Ha củng).

Dân số: 8.177 (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Ðai, (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người La Ha có mặt sớm ở miền Tây Bắc nước ta. Theo những tài liệu chữ Thái cổ thì vào thế kỷ XI, XII khi người Thái Ðen thiên di tới vùng đất này, họ đã gặp tổ tiên của người La Ha hiện nay. Chính vì vậy, khi làm lễ cúng Mường, người Thái vẫn còn tục đặt cỗ "trâu trắng" để tế thần ¡m Poi - một thủ lĩnh nổi tiếng của người La Ha vào đầu thế kỷ XI.

Với người La Ha và nhiều dân tộc khác ở Tây Bắc, vỏ quả bầu không những chỉ để đựng nước mà còn cắt thành bầu đựng xôi. (Hiện vật Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam).
Với người La Ha và nhiều dân tộc khác ở Tây Bắc, vỏ quả bầu không những chỉ để đựng nước mà còn cắt thành bầu đựng xôi.
(Hiện vật Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam).

Hoạt động sản xuất: Người La Ha bắt đầu làm ruộng nước nhưng loại hình kinh tế chính vẫn là nương rẫy du canh du cư và săn bắt, hái lượm. Phương thức canh tác đơn giản, dùng gậy chọc lỗ và dao phát nương. Cây trồng chủ yếu là lúa nếp, ngô, đậu tương, bông. Phụ nữ La Ha không biết dệt vải, do đó họ phải đem bông đổi vải của người Thái để may mặc.

Ăn: Lương thực chính là gạo nếp chế biến theo cách đồ thành xôi, nay chuyển sang ăn cơm tẻ. Thực phẩm thường được ướp chua, nướng, lùi hoặc sấy khô để dành. Phụ nữ ăn trầu.

Mặc: Trước kia đàn ông búi tóc sau gáy nhưng đến nay chỉ còn vài cụ già và thầy cúng giữ tục này. Ðàn bà nhuộm răng đen, mặc giống người Thái Ðen. Một số nơi còn đeo thêm tạp dề ở phần váy trước hoặc khoác trên lưng khi rét. Phụ nữ chưa chồng búi tóc sau gáy, có chồng búi tóc trên đỉnh đầu giống người Thái Ðen. Có nơi từ em bé gái đến bà cụ già chỉ có một cách búi duy nhất là trên đỉnh đầu hoặc do ảnh hưởng của người Thái Trắng chỉ vấn tóc trần hoặc búi tóc sau gáy không phân biệt có chồng hay chưa.

: Nhà sàn cấu trúc theo 2 kiểu:

Kiểu ở tạm từ 1 đến 3 năm của những nhóm sống du canh du cư. Loại nhà này hai đầu hồi mái nhà lượn tròn theo bầu dục, dài ra hai bên như hình hàm lợn...

Kiểu nhà ở lâu năm của những nhóm cư dân sống bán định cư, bán định canh hoặc định canh định cư. Loại nhà này hai đầu hồi mái tròn khum hình mai rùa giống kiểu nhà người Thái Ðen.

Bố cục trong nhà chia làm hai phần, phần để tiếp khách rộng từ 1/2 đến 2/3 diện tích nhà. Ngăn giữa phần chủ và khách là một cột buộc hũ rượu cần bên cạnh.

Phương tiện vận chuyển: Gùi, trâu kéo, ngựa thồ.

Chiếc hom giỏ thể hiện kỹ thuật cao của nghề đánh bắt cá truyền thống, phổ biến cả ở đồng bằng lẫn miền núi (Hiện vật Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam).
Chiếc hom giỏ thể hiện kỹ thuật cao của nghề đánh bắt cá truyền thống, phổ biến cả ở đồng bằng lẫn miền núi
(Hiện vật Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam).

Quan hệ xã hội: Người La Ha sống theo làng bản là Khun cai, hai người giúp việc Khun cai là Khun tang, Khun téng do dân cử ra.

Gia đình người La Ha là gia đình nhỏ, phụ hệ. Không chỉ con cái mang họ bố mà vợ cũng phải mang họ chồng. Con gái không được thừa kế tài sản.

Cưới xin: Hôn nhân một vợ một chồng đã mang tính chất mua bán thể hiện ở khoản tiền cưới gọi là nang khả pom (giá đầu người) để trả ơn bố mẹ vợ và tục ở rể. Tuy nhiên trai gái được tự do tìm hiểu, không có sự ép buộc của cha mẹ. Sau thời gian tìm hiểu từ 3 đến 10 ngày người con trai nói với bố mẹ cử người đi dạm. Nhà gái nhận trâu và đưa áo của cô gái cho bên nhà trai xem bói. Nhà gái chia trầu cho họ hàng để hỏi ý kiến. Ai không đồng ý thì trả lại trầu. Trong 5 ngày nếu nhà gái không trả lại trầu cho nhà trai có nghĩa là nhà gái đồng ý và 10 ngày sau người con trai đến nhà gái bắt đầu ở rể làm công cho bố mẹ vợ. Thời gian ở rể là từ 4 đến 8 năm. Hết hạn ở rể mới bắt đầu tổ chức lễ cưới chính thức thu mà phu (làm cơm rượu). Sau lễ cưới này, cô dâu được đón về nhà chồng, đổi họ theo họ chồng và không được quay về ở với bố mẹ đẻ nữa, dù chồng chết.

Trường hợp người đàn bà goá đi bước nữa, người chồng thứ hai mang lễ cưới nhỏ thu cơi poọng (làm gà báo cưới) đến gia đình người chồng thứ nhất chứ không cần có quan hệ gì với bố mẹ của người đàn bà goá. Người đàn bà goá đi bước nữa vẫn quan niệm rằng khi chết đi, hồn lại tìm về với người chồng chính thức đã làm lễ thu mà phu. Vì vậy, ở một số nơi, bố mẹ đã chết cả mà chưa làm được lễ cưới thu mà phu thì con phải làm lễ cưới đó cho bố mẹ để bố mẹ được sống với nhau ở thế giới bên kia.

Thờ cúng: Người La Ha thờ tổ tiên trong gian nhà "hóng" như của người Thái.

- Thầy cúng một lao cúng gọi hồn và đuổi tà ma. Hàng năm hoặc 2-3 năm một lần một lao làm lễ cúng tổ tiên của mình của mình và các vị thần linh khác. Trong số các vị thần linh khác. Trong số các vị thần ấy "thần dương vật" (linga) và "thần cung kiếm" là đáng sợ hơn cả. Bởi vậy, bàn thờ của một lao bao giờ cũng có hình nộm dương vật, kiếm và cái mộc.

Kiêng đem rau xanh, lá xanh, vật màu xanh và thịt sống vào cửa bên ở gia đình, mà phải mang những thứ đó vào cửa của bên khách. Khi đặt nồi, chảo lên bếp phải đặt hai quai theo hướng nằm ngủ của người trong gia đình, kiêng không để quai nồi, chảo theo hướng của 2 cửa ra vào vì đó là hướng đặt người chết trước khi đem chôn. Khi có người chết, tất cả những điều kiêng kỵ trên đều huỷ bỏ và làm ngược lại.

Ðây là chiếc giỏ có đậy nắp người La Ha đan bằng tre, nứa, mây để cho nữ giới dùng làm vật đựng đồ. Phụ nữ La Ha thường đeo vật dụng này để đi chợ, hội hè hay đựng đồ kim chỉ, vải thêu, đồ trang sức. (Hiện vật Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam).
Ðây là chiếc giỏ có đậy nắp người La Ha đan bằng tre, nứa, mây để cho nữ giới dùng làm vật đựng đồ. Phụ nữ La Ha thường đeo vật dụng này để đi chợ, hội hè hay đựng đồ kim chỉ, vải thêu, đồ trang sức.
(Hiện vật Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam).


Ma chay: Người La Ha không có tục đốt xác như người Thái Ðen mà đem chôn. Thi hài được liệm bằng vải hoặc bằng chiếu nan và khiêng ra đến mộ mới bỏ vào quan tài và hạ huyệt. Nếu người chết là bố, người con trai cầm dao phá nơi thờ cũ đuổi ma bậc ông đi để bắt đầu thờ ma bố. Nếu người chết là mẹ, con trai cầm dao đập vào phên chỗ mẹ ngủ, tượng trưng cho việc đuổi ma bậc bà đi để bắt đầu thờ ma mẹ. Người chết được đặt nằm dọc theo cây xà ngang, nếu người chết là bố thì đặt nằm dưới cây xà ngang thứ nhất, nếu là mẹ, đặt dưới cây xà ngang thứ hai, nếu người chết là con trai cả đặt nằm dưới cây xà ngang thứ ba...

Khi khiêng người chết đi chôn, người chết là bố thì khiêng ra cửa gian khách (quản), là mẹ phá vách trước khiêng ra, nếu là con khiêng ra cửa sàn. Trên huyệt người ta đã dựng sẵn một cái nhà nhỏ có 2 mái cao chừng 2m. Mái nhà mồ lợp bằng gianh dỡ một phần của mái nhà ở mang ra. Người chết là bố thì dỡ gianh ở phía đầu chỗ ngủ để lợp. Nếu người chết là mẹ thì dỡ gianh ở mái nhà phía chân chỗ ngủ, là con trai thì dỡ gianh mái hồi phía sàn phơi thóc, con gái thì dỡ gianh ở mái hồi phía sàn để nước. Trong nhà mồ đặt những thứ cần thiết cho một cuộc sống như: giỏ cơm, quần áo, chăn, đệm. Sau khi đưa đám trở về nhà, người ta thường khua cối giã gạo để xua ma không quấy phá gia đình.

Lịch: Theo lịch của người Thái.

Học: Người La Ha trước kia học chữ Thái.

Văn nghệ: Người La Ha hát, làm thơ bằng tiếng Thái khá thạo. Hai điệu múa đặc trưng là múa dương vật (linga) và múa cung kiếm
Theo cema.gov.vn

Có thể bạn quan tâm

Hương vị mùa vàng trong Lễ cơm mới của người Thái

Hương vị mùa vàng trong Lễ cơm mới của người Thái

Lễ cơm mới (Kin khảu máư) là nghi lễ truyền thống có ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào Thái. Hằng năm, vào khoảng tháng 5 - 6 theo lịch Thái, tương ứng với tháng 9 - 10 dương lịch, khi lúa ngoài đồng đã chín, thóc mới được đưa về đầy bồ, các gia đình tổ chức nghi lễ để mừng thành quả sau một mùa lao động.

Mường Lát: Gìn giữ bản sắc văn hóa gắn với phát triển sinh kế

Mường Lát: Gìn giữ bản sắc văn hóa gắn với phát triển sinh kế

Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc đang được xã Mường Lát xác định gắn với phát triển kinh tế xã hội, trong đó chú trọng phục dựng các giá trị truyền thống, phát huy vai trò của nghệ nhân, người có uy tín và xây dựng các mô hình du lịch cộng đồng.

Gìn giữ điệu múa kỳ lân truyền thống của người Nùng

Gìn giữ điệu múa kỳ lân truyền thống của người Nùng

Múa kỳ lân không chỉ tạo không khí rộn ràng trong những ngày lễ, Tết, mà còn thể hiện tinh thần thượng võ, khát vọng về cuộc sống bình an, no đủ của đồng bào Nùng. Loại hình nghệ thuật dân gian này đang được gìn giữ, quảng bá như một nét văn hóa đặc sắc của vùng cao Cao Bằng.

Lễ cầu mùa – nét văn hóa đặc sắc của người Nùng

Lễ cầu mùa – nét văn hóa đặc sắc của người Nùng

Lễ cầu mùa của người Nùng tại Cao Bằng được tổ chức vào “đắp nọi”, ngày cuối cùng của tháng Giêng âm lịch hằng năm. Nghi lễ truyền thống thể hiện lòng biết ơn thần linh, gửi gắm ước vọng về một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, bản làng bình an, no ấm.

Cô gái vùng cao Giàng Thị Sinh vượt khó, nuôi ước mơ trở thành cô giáo

Cô gái vùng cao Giàng Thị Sinh vượt khó, nuôi ước mơ trở thành cô giáo

Giàng Thị Sinh, cô gái dân tộc Mông vùng cao ở xã Sà Phìn (Tuyên Quang), đạt 27,31 điểm khối C00 trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 và trúng tuyển ngành Sư phạm Lịch sử - Địa lí, Trường Đại học Sư phạm 2 Hà Nội. Với Sinh, kết quả ấy là niềm vui sau những năm tháng cố gắng và cũng là bước đầu để em theo đuổi ước mơ trở thành cô giáo.

Độc đáo Lễ hội Thắk Côn Khmer giữa lòng Thủ đô

Độc đáo Lễ hội Thắk Côn Khmer giữa lòng Thủ đô

Lễ hội Thắk Côn là một lễ hội truyền thống có ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng Khmer tại thành phố Cần Thơ, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chính thức ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, ngày 3/6/2025.

Đẩy mạnh dạy tiếng dân tộc, nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh

Đẩy mạnh dạy tiếng dân tộc, nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh

Thực hiện đề án “Tăng cường dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2025 - 2035, định hướng đến năm 2045”, năm 2027, An Giang tập trung nâng cao chất lượng dạy và học ngôn ngữ, chữ viết của đồng bào Khmer; tăng tốc nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh, tiếng Pháp; phát triển đội ngũ giáo viên, học liệu, cơ sở vật chất và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong dạy học ngoại ngữ. Tỉnh đồng thời chuẩn bị các điều kiện để triển khai một số ngoại ngữ khác như tiếng Nhật, tiếng Trung Quốc, tiếng Hàn theo nhu cầu thực tế.

Độc đáo bánh rây của đồng bào Khmer ở An Giang

Độc đáo bánh rây của đồng bào Khmer ở An Giang

Chiều 2/8/2026, trong khuôn khổ Ngày hội Bánh dân gian Nam Bộ - An Giang 2026 (phường Long Xuyên), các nghệ nhân người Khmer đã trình diễn chế biến bánh rây và phục vụ miễn phí 200 chiếc bánh cho người dân, du khách.

Bảo tồn nghề dệt thổ cẩm gắn với sinh kế và du lịch cộng đồng người Thái ở Yên Châu

Bảo tồn nghề dệt thổ cẩm gắn với sinh kế và du lịch cộng đồng người Thái ở Yên Châu

Ở tuổi ngoài 60, bà Hoàng Thị Thoát xã Yên Châu (Sơn La) vẫn miệt mài truyền dạy chữ Thái, dân ca và nghề dệt thổ cẩm cho thế hệ trẻ. Từ tâm huyết của người "giữ lửa", việc thành lập Tổ Phụ nữ dệt thổ cẩm xã Yên Châu đang mở ra hướng đi mới, đưa nghề truyền thống gắn với sinh kế và phát triển du lịch cộng đồng.

Đồng bào Khmer dâng y tắm mưa cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ

Đồng bào Khmer dâng y tắm mưa cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ

Sáng 26/7, tại chùa Khmer thuộc Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, đồng bào dân tộc Khmer đã tổ chức lễ dâng y tắm mưa kết hợp cầu siêu tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Đây là hoạt động ý nghĩa hướng tới Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" và tôn vinh nét đẹp văn hóa tâm linh đặc sắc của đồng bào dân tộc Khmer.

Giữ lửa bản sắc văn hóa Thái nơi biên viễn xứ Thanh

Giữ lửa bản sắc văn hóa Thái nơi biên viễn xứ Thanh

Giữa nhịp sống hiện đại, những điệu xòe, tiếng cồng chiêng và lời dân ca Thái vẫn hiện diện trong đời sống của đồng bào ở xã Mường Lát (Thanh Hóa). Từ sự tâm huyết của các nghệ nhân đến những chính sách hỗ trợ của địa phương, các giá trị văn hóa truyền thống đang được gìn giữ, trao truyền và từng bước trở thành nguồn lực cho phát triển cộng đồng.

Bảo tồn nghề dệt truyền thống gắn với tạo sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số

Bảo tồn nghề dệt truyền thống gắn với tạo sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số

Không chỉ lưu giữ nghề dệt thổ cẩm truyền thống của đồng bào dân tộc Thái, xưởng dệt Hoa Ban ở Bản Lác (xã Mai Hạ, tỉnh Phú Thọ) còn tạo việc làm cho phụ nữ yếu thế và người khuyết tật. Mô hình là điểm sáng trong bảo tồn văn hóa gắn với phát triển sinh kế theo Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Lễ Sơmă Kơcham gìn giữ bản sắc văn hóa người Bahnar

Lễ Sơmă Kơcham gìn giữ bản sắc văn hóa người Bahnar

Khi nương rẫy bắt đầu xanh tốt, đồng bào Bahnar tại xã Kông Chro, tỉnh Gia Lai lại rộn ràng tổ chức lễ Sơmă Kơcham, nghi lễ truyền thống nhằm cầu bình an, sức khỏe, mùa màng bội thu, củng cố tình đoàn kết trong cộng đồng.

Nét đẹp hiếu kính trong nghi lễ 'tôi chòng' của người Tày

Nét đẹp hiếu kính trong nghi lễ 'tôi chòng' của người Tày

Nghi lễ thay bàn thờ gia tiên, còn gọi là “tôi chòng”, của đồng bào dân tộc Tày vừa được tái hiện tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, giới thiệu tới công chúng nét đẹp tín ngưỡng gắn với đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.