Người phụ nữ Khmer giúp đồng bào chuyển hưởng sản xuất mới, thoát nghèo bền vững

Chứng kiến giá dừa xuống thấp và người trồng dừa gặp khó vì hạn mặn, chị Thạch Thị Chal Thi tìm hướng làm ăn mới để giúp cha mẹ và bà con quê nhà. Sau bảy năm, người phụ nữ Khmer cùng cộng sự đã đưa sản phẩm mật hoa dừa đến 11 quốc gia trên thế giới.

chal-thi-sokfarm-11.jpg
Chị Thạch Thị Chal Thi, nhà sáng lập kiêm Tổng Giám đốc Công ty TNHH Trà Vinh Farm, phát triển sản phẩm từ mật hoa dừa gắn với sinh kế người dân quê nhà.

Tìm lối ra khi giá dừa xuống thấp

“Lúc sản phẩm mới ra, không có ai biết tới mật hoa dừa. Tôi phải cầm từng chai sản phẩm, ở đâu có hội chợ thì đem đi giới thiệu”. Chị Thạch Thị Chal Thi, nữ doanh nhân người Khmer, nhà sáng lập kiêm Tổng Giám đốc Công ty TNHH Trà Vinh Farm, kể về những ngày đầu tìm khách hàng cho sản phẩm của mình.

Trong câu chuyện của chị, những chai mật hoa dừa gắn với nỗi lo của cha mẹ khi giá dừa xuống thấp và mong muốn tìm thêm cách làm ăn cho bà con trong làng. Từ suy nghĩ ấy, chị phát triển thương hiệu Sokfarm và từng bước tìm đầu ra cho nguồn mật thu từ cây dừa quê nhà.

Theo chị Chal Thi, “Sok” trong tiếng Khmer có nghĩa là hạnh phúc. Chị đặt tên Sokfarm với ý nghĩa “Nông nghiệp hạnh phúc”, gửi gắm mong muốn phát triển sản xuất gắn với việc tạo sinh kế và thu nhập ổn định cho người dân quê nhà.

Sau bảy năm, điều chị quan tâm vẫn là người dân có thể sống được bằng nghề và có thu nhập để lo cho con cái học hành. Đó cũng là lý do chị theo đuổi hướng sản xuất này dù thời gian đầu phải tự mang từng chai mật đi giới thiệu với người tiêu dùng.

Năm 2019, Chal Thi quyết định khởi nghiệp. Theo chị, thời điểm ấy giá dừa tại Đồng bằng sông Cửu Long xuống rất thấp. Hạn hán và xâm nhập mặn khiến chị thêm trăn trở về việc làm ăn của gia đình cùng những hộ trồng dừa xung quanh.

“Ngoài việc trồng dừa thu trái, mình còn có cách nào để tăng giá trị cho cây dừa, giúp ba mẹ và bà con nông dân trong làng? Xuất phát từ mong muốn đó, tôi bắt tay vào làm”, chị Thạch Thị Chal Thi chia sẻ.

Chị tốt nghiệp thạc sĩ công nghệ thực phẩm trường Đại học Bách Khoa TP Hồ Chí Minh và từng làm việc trong bộ phận nghiên cứu và phát triển của các tập đoàn. Từ nền tảng chuyên môn ấy, chị tìm hiểu việc thu mật từ hoa dừa để chế biến sản phẩm. Cây dừa quen thuộc với gia đình vì thế mở ra một hướng khai thác khác bên cạnh việc lấy trái.

Tuy nhiên, có nguyên liệu chưa đồng nghĩa với việc có thể duy trì sản xuất. Muốn người dân cùng tham gia, chị phải tìm được thị trường cho sản phẩm làm ra. Trước khi triển khai dự án, chị và cộng sự đã tìm hiểu nhu cầu tiêu thụ mật hoa dừa cùng đường hoa dừa.

chal-thi-sokfarm-10.jpg
chal-thi-sokfarm-1.jpg
Vườn dừa cung cấp nguyên liệu cho hoạt động sản xuất mật hoa dừa.

Theo chị Chal Thi, nhu cầu sử dụng các sản phẩm tạo vị ngọt tự nhiên trên thị trường thế giới là cơ sở để nhóm lựa chọn hướng đi. Chị nhìn thấy cơ hội đưa nguyên liệu địa phương vào chế biến, đồng thời tạo thêm thu nhập cho người trồng dừa.

Khó khăn trước mắt là nhiều người tiêu dùng chưa biết đến mật hoa dừa. Chị mang sản phẩm đến các hội chợ trong nước rồi mạnh dạn tìm cơ hội tại hội chợ quốc tế. Việc giới thiệu phải bắt đầu từ chính nguyên liệu và câu chuyện sản xuất để khách hàng hiểu sản phẩm.

“Chúng tôi tham gia hội chợ trong nước và quốc tế để giới thiệu mật hoa dừa, cũng như việc sản xuất giúp bà con nông dân khi xâm nhập mặn vào ra sao. Trước khi thực hiện dự án, chúng tôi đã đánh giá nhu cầu thị trường đối với mật hoa dừa và đường hoa dừa”, chị nói.

Theo chị, đến nay Sokfarm đã xuất khẩu sản phẩm đến 11 quốc gia. Từ nguồn mật thu tại vườn, doanh nghiệp phát triển các sản phẩm như mật hoa dừa tươi, đường hoa dừa và nước tương mật hoa dừa. Hoạt động chế biến và tìm thị trường giúp hình thành đầu ra cho nguyên liệu của nông hộ.

chal-thi-sokfarm-7.jpg
Chị Thạch Thị Chal Thi giới thiệu các sản phẩm từ mật hoa dừa với khách nước ngoài.

Bên cạnh thị trường, chị Chal Thi còn quan tâm đến khả năng duy trì nghề trồng dừa trong điều kiện xâm nhập mặn. Chị dẫn thực tế tại Cù Lao Dung, vùng cù lao ở hạ lưu sông Hậu, nơi cây dừa chịu ảnh hưởng của mặn có thể cho trái nhỏ và cơm mỏng nên khó tiêu thụ.

Theo kinh nghiệm triển khai mô hình được chị chia sẻ, những cây dừa ở vùng chịu mặn vẫn có thể khai thác mật. Đây là một lựa chọn để người dân tiếp tục tạo thu nhập từ vườn dừa khi việc thu trái gặp khó khăn. “Nông dân thu mật hoa dừa rồi cung cấp nguyên liệu cho công ty. Chúng tôi chế biến và giới thiệu ra thị trường, đem một sản vật bản địa ra thế giới”, chị Chal Thi cho biết.

chal-thi-sokfarm-3.jpg
Lao động nữ người Khmer chiếm đa số trong đội ngũ nhân sự của công ty.

Tạo sinh kế cho người dân quê nhà

Chị Thạch Thị Chal Thi kể, ông Sa Rây là một trong những nông dân gắn bó với doanh nghiệp từ những ngày đầu thành lập. Đã ngoài 60 tuổi, ông từng làm nhiều công việc nặng nhọc để mưu sinh, chủ yếu là khiêng vác vật liệu xây dựng. Khi công ty mới thành lập, ông xin vào làm và được hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc cây dừa, thu mật hoa dừa.

“Lúc đầu có biết gì đâu. Rồi được công ty hướng dẫn, làm riết rồi quen. Nghề này nhẹ hơn nhiều. Có nghề ổn định, gia đình cũng có đồng ra đồng vô, giờ trả hết nợ rồi nghen”, chị Chal Thi kể về ông Sa Rây.

chal-thi-sokfarm-8.jpg
chal-thi-sokfarm-13.jpg
Ông Sa Rây, một trong những nông dân gắn bó với Sokfarm từ những ngày đầu, thu mật hoa dừa.

Với chị Chal Thi, kết quả của hành trình còn thể hiện ở việc tạo sinh kế cho người dân địa phương. Theo chị, Sokfarm hiện liên kết với 150 nông hộ, tương ứng khoảng 300 lao động và tạo việc làm cho 95 công nhân viên. Gần 400 người có nguồn thu nhập chính từ công việc tại doanh nghiệp và hoạt động liên kết thu mật. Trong đội ngũ nhân sự của công ty, lao động nữ chiếm 70% và người Khmer chiếm đến 75%.

Trong đội ngũ nhân sự có những người trẻ từng đi học, đi làm tại các thành phố lớn rồi trở về địa phương. Còn ở vùng nguyên liệu, nghề thu mật mở thêm cơ hội cho cả những gia đình không có đất trồng dừa.

Chị cho biết, người dân có thể thuê vườn của những hộ không có người chăm sóc để thu mật. Theo chị, với khoảng 20 - 30 cây dừa thuê, người làm nghề có thể có thu nhập 7 - 8 triệu đồng mỗi tháng. Chị xem đây là cơ hội tạo sinh kế cho các hộ nghèo, cận nghèo thiếu đất canh tác. “Những hộ không có đất có thể đi thuê vườn dừa để thu mật. Khi có sinh kế ổn định, họ có kinh tế để nuôi con đi học. Đó là điều quan trọng nhất của nghề thu mật hoa dừa”, chị Chal Thi nói.

chal-thi-sokfarm-9.jpg
Chị Thạch Thị Chal Thi cùng những người đồng hành trong hành trình phát triển Sokfarm.

Trong số người tham gia có phụ nữ trước đây chủ yếu làm nội trợ. Công việc mới giúp họ có thêm nguồn thu để cùng gia đình trang trải cuộc sống. Chị Chal Thi đặc biệt quan tâm đến cơ hội của phụ nữ Khmer khi nói về những thay đổi mà mô hình mang lại. “Sokfarm đã tạo điều kiện để các chị em phụ nữ trước đây làm nội trợ tham gia vào nghề thu mật hoa dừa. Phụ nữ ở quê, đặc biệt là phụ nữ Khmer đã có thể tự tạo thu nhập cho bản thân”, chị chia sẻ.

Từ mong muốn giúp cha mẹ, người phụ nữ Khmer dần gắn công việc của mình với sinh kế của nhiều gia đình khác. Việc tìm khách hàng cho sản phẩm cũng gắn với đầu ra của nguyên liệu và khả năng tiếp tục làm nghề của người dân.

Theo chị Thi, doanh nghiệp triển khai các chương trình hỗ trợ nông dân, trong đó có hỗ trợ phân bón. Chị mong các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp có thêm cơ hội vay vốn với lãi suất ưu đãi để tiếp tục đầu tư và tạo thêm việc làm tại địa phương.

Năm 2026, chị Thạch Thị Chal Thi là một trong 10 phụ nữ được Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) vinh danh vì những đóng góp trong hệ thống nông nghiệp - thực phẩm và phát triển nông thôn Việt Nam. Hoạt động hưởng ứng Năm Quốc tế về Phụ nữ làm nông ghi nhận hành trình chị phát triển sản phẩm từ mật hoa dừa và tạo sinh kế tại địa phương.

chal-thi-sokfarm-171026.jpg
Chị Thạch Thị Chal Thi là một trong 10 phụ nữ được FAO vinh danh năm 2026 vì những đóng góp trong hệ thống nông nghiệp - thực phẩm và phát triển nông thôn Việt Nam.

Nói về sự ghi nhận này, chị nhắc đến công sức của những người cùng làm việc và các nông hộ đồng hành suốt quá trình phát triển sản xuất. “Thành tựu hôm nay là sự hiệp lực của tập thể công nhân viên Sokfarm và sự đồng lòng của các anh chị em nông dân cùng tham gia. Chúng tôi hạnh phúc và tự hào khi cùng lan tỏa hành trình nông nghiệp hạnh phúc”, chị bày tỏ.

Câu chuyện của chị Thạch Thị Chal Thi bắt đầu từ nỗi lo rất gần gũi trong gia đình. Đến nay, khi mật hoa dừa đã có mặt tại thị trường nước ngoài, chị vẫn nhắc đến mong muốn người dân có thu nhập để nuôi con đi học. Đó là điều chị đặt nhiều tâm sức trong hành trình làm ăn từ cây dừa quê nhà.

Lưu Niệm/Báo Tin tức và Dân tộc
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Những 'đại sứ' công nghệ trong cộng đồng dân tộc ở TP Hồ Chí Minh

Những 'đại sứ' công nghệ trong cộng đồng dân tộc ở TP Hồ Chí Minh

Nhiều thanh niên tình nguyện, người có uy tín trong cộng đồng ở TP Hồ Chí Minh đang trở thành những “đại sứ công nghệ” thực thụ, hướng dẫn bà con dân tộc cách sử dụng các ứng dụng dịch vụ công trực tuyến, từng bước đưa công nghệ số đến gần hơn với cộng đồng các dân tộc.

Người lính trẻ gieo những 'mầm số' pháp luật nơi biên cương

Người lính trẻ gieo những 'mầm số' pháp luật nơi biên cương

Giữa những bản làng vùng cao Lai Châu, bước chân của người lính biên phòng không chỉ in trên những cung đường tuần tra, bên những cột mốc biên cương, mà còn trên hành trình mang kiến thức số, pháp luật và cả những cách làm mới để đến từng bản, từng lán nương. Thiếu tá Nguyễn Duy Khánh, Chính trị viên phó, Bí thư Chi đoàn Đồn Biên phòng Vàng Ma Chải là một người trẻ như thế.

Nữ cán bộ Công an trẻ tận tâm phổ biến pháp luật, góp phần giữ bình yên cho đồng bào

Nữ cán bộ Công an trẻ tận tâm phổ biến pháp luật, góp phần giữ bình yên cho đồng bào

Một ca tuần tra trong đêm, một buổi tuyên truyền pháp luật, một lần đến với người dân hay một sáng kiến nhỏ giúp công việc hiệu quả hơn. Với chị Nguyễn Hồng Ân, nữ cán bộ Công an xã Thanh Tùng ( xã thuộc Khu vực III, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.của tỉnh Cà Mau), hành trình tuổi trẻ được viết bằng những việc làm như thế - nơi mỗi ngày bình yên của người dân cũng là một phần ý nghĩa trong những năm tháng đẹp nhất của đời mình.

Đưa quy định pháp luật đến gần hơn với bà con Chăm Islam

Đưa quy định pháp luật đến gần hơn với bà con Chăm Islam

Để đồng bào Chăm Islam dễ hiểu và thực hiện đúng pháp luật, Ban Quản trị thánh đường tại phường Bình Tiên, TP Hồ Chí Minh lồng ghép những tình huống đời thường vào các buổi sinh hoạt tôn giáo. Qua cách trao đổi gần gũi, bà con biết nhận diện lừa đảo và phòng tránh vi phạm.

Những 'cây đại thụ' giữa đại ngàn Tây Nguyên

Những 'cây đại thụ' giữa đại ngàn Tây Nguyên

Đắk Lắk có 45 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 25%. Trong đời sống cộng đồng, đội ngũ già làng, trưởng thôn, người có uy tín được ví như những “cây đại thụ” giữa đại ngàn, là cầu nối đưa chủ trương, chính sách đến với người dân, góp phần củng cố khối đại đoàn kết, giữ gìn bình yên buôn làng và thúc đẩy phát triển địa phương.

Người mang quả ngọt phủ xanh đất dốc

Người mang quả ngọt phủ xanh đất dốc

Từ những diện tích trồng ngô, sắn và một số cây trồng kém hiệu quả, người dân vùng cao Sơn La đã mạnh dạn chuyển sang trồng cây ăn quả trên đất dốc, từng bước thay đổi phương thức sản xuất. Nhiều mô hình mang lại doanh thu hàng tỷ đồng mỗi năm. Gia đình ông Vàng A Sở, dân tộc Mông, ở tổ dân phố Pakhen, phường Thảo Nguyên là một trong những trường hợp như vậy.

Khởi nghiệp từ khai thác giá trị bản sắc văn hóa đồng bào Hrê

Khởi nghiệp từ khai thác giá trị bản sắc văn hóa đồng bào Hrê

Từ tình yêu với văn hóa truyền thống dân tộc, chị Trinh Sơn Uyên, người con Hrê ở xã Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi đã xây dựng mô hình Plây Hrê - Làng Hrê, kết hợp ẩm thực với trải nghiệm văn hóa, du lịch sinh thái và giới thiệu sản phẩm đặc trưng địa phương.

Cô giáo đứng lớp 'xóa mù' cho đồng bào Dao ở Thái Nguyên

Cô giáo đứng lớp 'xóa mù' cho đồng bào Dao ở Thái Nguyên

Hơn hai tháng đứng lớp xóa mù chữ cho 18 học viên người Dao ở xóm Tân Kim, xã Thần Sa (Thái Nguyên), cô giáo Hà Thị Phương vui mừng chứng kiến từng đổi thay của học trò, từ những người còn e dè, chưa biết chữ đến khi có thể tự đọc, viết và nhắn tin bằng điện thoại...

Chiến sĩ quân hàm xanh mang ‘Ánh sáng số’ đến bản Vàng Ma Chải

Chiến sĩ quân hàm xanh mang ‘Ánh sáng số’ đến bản Vàng Ma Chải

Đến Vàng Ma Chải, nơi cuối trời Tây Bắc của tỉnh Lai Châu, hỏi về Thiếu tá Nguyễn Duy Khánh, Chính trị viên phó Đồn Biên phòng Vàng Ma Chải, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng Lai Châu, ai cũng biết, bởi anh là người mang “Ánh sáng số” đến với đồng bào các dân tộc khu vực biên giới.

Giáo dục mở đường cho thế hệ trẻ Chăm Islam vươn lên

Giáo dục mở đường cho thế hệ trẻ Chăm Islam vươn lên

Để cộng đồng Chăm Islam phát triển bền vững, điều quan trọng là chăm lo việc học hành, tạo cơ hội để người trẻ có kiến thức, nghề nghiệp và việc làm. Cùng với đó, người có uy tín phải gần dân, hiểu bà con cần gì để đồng hành, vận động và gắn kết cộng đồng.

Hiến máu cứu người - lan tỏa tinh thần nhân ái

Hiến máu cứu người - lan tỏa tinh thần nhân ái

Tỉnh Lạng Sơn đã có nhiều cách làm linh hoạt, phù hợp với đặc thù địa phương nhằm lan tỏa phong trào hiến máu cứu người; góp phần hoàn thành mục tiêu tiếp nhận 12.500 đơn vị máu năm 2026.