Từ việc tham gia những điệu múa truyền thống, học tiếng nói, chữ viết đến làm video và chia sẻ hình ảnh di sản trên mạng xã hội, thế hệ trẻ đang trở thành cầu nối gìn giữ và lan tỏa sâu rộng những giá trị truyền thống độc đáo của dân tộc.
Sức trẻ lan tỏa và số hóa di sản
Những ngày diễn ra Lễ hội Katê, tại các đền, tháp và làng Chăm ở Khánh Hòa, nhiều thanh, thiếu niên tham gia biểu diễn văn nghệ, trò chơi dân gian, viết chữ Chăm và các hoạt động cộng đồng. Hòa mình vào không khí lễ hội, các bạn trẻ sử dụng điện thoại ghi lại những điệu múa, tiếng trống, trang phục truyền thống rồi chia sẻ lên các nền tảng số.
Một trong những người trẻ ấy là Nguyễn Ngọc Khánh Châu, học sinh lớp 12, Trường Trung học phổ thông Lê Duẩn, phường Đô Vinh, tỉnh Khánh Hòa. Không phải người trực tiếp làm nghề gốm nhưng những lần trải nghiệm tại làng gốm Bàu Trúc và làng dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp giúp em cảm nhận rõ hơn giá trị của các nghề truyền thống. Vì thế, em muốn ghi lại hình ảnh, câu chuyện về văn hóa quê hương để giới thiệu với bạn bè.
“Em muốn làm các video rồi đăng tải trên TikTok, YouTube, Facebook để các bạn ở những tỉnh, thành khác và cả bạn bè quốc tế có thể biết đến văn hóa, con người Khánh Hòa. Khi xem những hình ảnh đó, em mong mọi người muốn đến đây trực tiếp trải nghiệm”, Nguyễn Ngọc Khánh Châu chia sẻ.
Với nữ sinh lớp 12, mạng xã hội không chỉ là nơi giải trí mà có thể trở thành phương tiện giới thiệu, quảng bá văn hóa. Hai năm trước, Châu từng thực hiện video tìm hiểu Tháp Pô Klong Garai và làng gốm Bàu Trúc. Tác phẩm đoạt giải ba cấp trường trong một hoạt động tìm hiểu lịch sử và sau đó được giới thiệu rộng hơn. Trải nghiệm ấy càng thôi thúc Châu tìm hiểu sâu hơn về quê hương để có thể kể những câu chuyện chính xác, hấp dẫn cho bạn bè.
Tinh thần ấy cũng được thể hiện qua dự án của Lưu Thùy Dương, nữ sinh người Chăm đang xây dựng bảo tàng số về văn hóa Chăm và Raglai. Dự án tập hợp hình ảnh, video, hiện vật được số hóa cùng tư liệu về trang phục, nghề thủ công, chữ viết, âm nhạc, lễ hội, kiến trúc, điêu khắc... Thùy Dương dự định tiếp tục số hóa ca dao, dân ca Chăm, ứng dụng công nghệ và các nền tảng số để đưa văn hóa truyền thống đến gần hơn với giới trẻ và công chúng.
Cùng với sự hào hứng sáng tạo, người trẻ ngày càng chú trọng trách nhiệm khi chia sẻ thông tin trên không gian mạng. Việc chủ động tìm hiểu kỹ lưỡng nguồn gốc, kiểm chứng tính chính xác của tài liệu và chọn lọc góc nhìn tích cực trước khi đăng tải hình ảnh, video di sản không chỉ giúp lan tỏa những giá trị chân thực, nét đẹp chuẩn xác của văn hóa Chăm mà còn tránh gây ra những hiểu lầm hay sai lệch thông tin trong cộng đồng.
Trong đời sống cộng đồng, việc gìn giữ di sản còn được thể hiện qua những hoạt động gần gũi. Tại xã Phước Hữu, chị Lưu Trường Ái cùng người dân dành hơn một tháng tập luyện các điệu múa để chuẩn bị cho lễ hội Katê. Theo chị Ái, múa truyền thống không chỉ phục vụ biểu diễn mà còn góp phần gắn kết cộng đồng, thể hiện lòng thành kính với tổ tiên và gửi gắm những ước vọng tốt đẹp của người Chăm.
Hội thi viết chữ Chăm “Sáng nét chữ - Giữ hồn Chăm” trong dịp Katê cũng góp phần trao truyền di sản. Hoạt động hướng tới khơi dậy niềm tự hào và ý thức gìn giữ chữ viết truyền thống, nhất là trong thế hệ trẻ.
Trao truyền và định hướng bảo tồn
Để người trẻ có chất liệu kể câu chuyện văn hóa trên không gian số, phía sau họ là những nghệ nhân bền bỉ thực hành và trao truyền di sản. Tại làng gốm Bàu Trúc, xã Ninh Phước, nghệ nhân Châu Thị Tính (58 tuổi) cho biết bà sinh ra, lớn lên tại làng và gắn bó với nghề từ những năm học cấp 2. Bà được mẹ truyền dạy những kỹ năng đầu tiên, bắt đầu từ các công việc đơn giản rồi từng bước học cách làm ra sản phẩm hoàn chỉnh.
Hiện bà cùng các nghệ nhân tham gia hoạt động trình diễn, giới thiệu cách làm gốm để khách tham quan hiểu hơn về làng nghề. Với bà, mỗi dịp lễ hội là cơ hội để đón khách đến Bàu Trúc, trực tiếp quan sát nghệ nhân làm nghề, tìm hiểu văn hóa Chăm và lựa chọn sản phẩm gốm truyền thống.
Nghệ nhân Châu Thị Tính mong muốn các hoạt động quảng bá tiếp tục được tổ chức, giúp làng gốm được biết đến rộng rãi hơn, mở rộng đầu ra cho sản phẩm, qua đó tăng thu nhập và tạo động lực để người dân giữ nghề. Điều khiến bà vui hơn là thế hệ con cháu trong gia đình vẫn đang tiếp tục học và theo nghề của cha ông.
Năm 2022, Nghệ thuật làm gốm của người Chăm được UNESCO ghi danh vào danh sách Di sản Văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Sự “gặp nhau” giữa những nghệ nhân như bà Tính với những bạn trẻ như Khánh Châu tạo nên một vòng tiếp nối. Đó là người đi trước lưu giữ kỹ năng và câu chuyện của di sản; người trẻ trải nghiệm, học hỏi rồi sử dụng phương thức truyền thông mới để đưa câu chuyện ấy đi xa hơn.
Không chỉ có nghề gốm, tiếng nói, chữ viết, trang phục, âm nhạc và các điệu múa Chăm cũng được thế hệ trẻ tiếp nhận bằng nhiều cách. Việc dạy tiếng Chăm tại các trường tiểu học ở vùng đồng bào Chăm tạo điều kiện để học sinh hiểu, yêu và tự hào về tiếng nói, chữ viết của dân tộc. Tại Nha Trang, một nhóm nghệ nhân trẻ cũng thử nghiệm đưa âm nhạc Chăm vào các chương trình biểu diễn đương đại, với mong muốn tìm tòi cách gìn giữ và phát huy giá trị âm nhạc truyền thống.
Theo ông Quảng Thúc Đoan, Chủ tịch UBND xã Ninh Phước, văn hóa Chăm được gìn giữ qua tiếng nói, chữ viết, phong tục, tín ngưỡng, lễ hội và các nghề thủ công truyền thống. Riêng nghề gốm Bàu Trúc đã được các thế hệ nghệ nhân bền bỉ thực hành, trao truyền, tạo nên một phần bản sắc của cộng đồng. UBND xã tiếp tục hỗ trợ nghệ nhân truyền dạy nghề cho thế hệ trẻ; khuyến khích hợp tác xã, cơ sở sản xuất đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng; tăng cường quảng bá, kết nối thị trường và gắn gốm Bàu Trúc với du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng. Mục tiêu lâu dài là khi lớp nghệ nhân cao tuổi không còn trực tiếp bên đất và bếp lửa, vẫn có những bàn tay trẻ tiếp tục làm nghề và kể câu chuyện Bàu Trúc.
Từ bàn tay của nghệ nhân đến chiếc điện thoại của một học sinh, cách thức gìn giữ và quảng bá di sản đang có thêm những phương thức mới. Khi người trẻ không chỉ đứng xem mà trực tiếp học, trải nghiệm, ghi hình và kể lại bằng ngôn ngữ của thế hệ mình, những giá trị văn hóa Chăm có thêm cơ hội vượt ra khỏi “không gian làng”, không gian lễ hội để đến với bạn bè trong nước và quốc tế. Đó cũng là một cách để di sản tiếp tục sống trong đời sống đương đại, được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...
Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.
Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).
Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.
Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.
Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.
Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.
Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.
Ở: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.
Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...
Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.
Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ.
Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà.
Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.
Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.
Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo.
Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp.
Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.
Theo cema.gov.vn