Nỗ lực giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi hướng tới mục tiêu thịnh vượng

Gia đình chị H Lum dân tộc Mnông ở thôn Bon R Bút, xã Quang Sơn, Lâm Đồng, vay vốn ưu đãi trồng cà phê, dệt vải thổ cẩm cho hiệu quả tốt.
Gia đình chị H Lum dân tộc Mnông ở thôn Bon R Bút, xã Quang Sơn, Lâm Đồng, vay vốn ưu đãi trồng cà phê, dệt vải thổ cẩm cho hiệu quả tốt.

Dù đã đạt được những con số ấn tượng về giảm nghèo và tăng trưởng thu nhập, song thực tế triển khai tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) vẫn đang đối mặt với những "điểm nghẽn" về cơ chế, nguồn lực và tính bền vững. Để chuẩn bị cho giai đoạn mới, việc nhìn thẳng vào những hạn chế là yêu cầu cấp thiết để khơi thông nguồn lực cho vùng lõi nghèo của cả nước.

leothilich.jpg
Đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh Leo Thị Lịch phát biểu tại phiên thả luận tại tổ. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

Những dấu ấn đậm nét trong nhiệm kỳ 5 năm

Theo bà Leo Thị Lịch - Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Ninh, trong 5 năm qua (2021 - 2025), Chính phủ đã thể hiện quyết tâm chính trị rất cao khi quyết liệt chỉ đạo thực hiện song hành 3 Chương trình MTQG: Xây dựng nông thôn mới; Giảm nghèo bền vững và Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi (theo Quyết định 1719).

Nhìn vào bức tranh tổng thể, những thành tựu đạt được là rất đáng khích lệ. Theo báo cáo đánh giá, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều trong đồng bào DTTS giảm bình quân khoảng 3,4%/năm. Đây là một con số biết nói, minh chứng cho sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương. Đặc biệt, thu nhập bình quân đầu người của vùng đồng bào DTTS đã tăng gấp 3 lần so với năm 2020, một bước nhảy vọt về chất lượng sống trong bối cảnh nền kinh tế chịu nhiều tác động sau đại dịch và biến động toàn cầu.

Sự thay đổi diện mạo ở các bản làng xa xôi không chỉ nằm ở những con số thống kê, mà còn hiện hữu qua hệ thống điện, đường, trường, trạm được nâng cấp. Điều này khẳng định năng lực điều hành và định hướng đúng đắn của Chính phủ trong việc ưu tiên nguồn lực cho những khu vực "lõi nghèo", vốn là rào cản lớn nhất trong tiến trình phát triển đất nước.

man.jpg
Thu hái mận ở xã Lóng Phiêng, tỉnh Sơn La. Ảnh: Quang Quyết/TTXVN

Tuy nhiên, phía sau những con số ấn tượng, kết quả phát triển vùng DTTS và các vùng đặc biệt khó khăn hiện nay vẫn bộc lộ những mâu thuẫn nội tại. Khoảng cách phát triển giữa vùng dân tộc miền núi với các vùng động lực vẫn còn quá lớn. Dù tổng vốn đầu tư đã được phân bổ về địa phương, nhưng hiệu quả thực tế đôi khi chưa tương xứng với kỳ vọng.

Nhiều ý kiến của đại biểu Quốc hội cũng đã thẳng thắn chỉ ra rằng: Cách thức triển khai hiện nay vẫn còn tình trạng "manh mún, chia cắt và thiếu trọng tâm". Việc lồng ghép các chương trình, một chủ trương đúng đắn để tập trung nguồn lực lại đang là khâu yếu nhất, dẫn đến sự chồng chéo, lãng phí và khó thực hiện trên thực tế.

Vẫn còn những rào cản, bất cập

Đại biểu Quốc hội Leo Thị Lịch cho rằng, một trong những hạn chế lớn nhất là các dự án hạ tầng tại vùng đặc biệt khó khăn vẫn nhỏ lẻ và dàn trải. Nhiều dự án chưa tạo được động lực lan tỏa mạnh để kích thích kinh tế - xã hội vùng phát triển rõ nét. Đặc biệt, sau khi thực hiện sáp nhập các đơn vị hành chính, việc đầu tư hạ tầng cho các thôn, bản ra khỏi diện đặc biệt khó khăn vẫn còn dang dở, chưa được hoàn thiện đồng bộ.

giamngheo.jpg
Gia đình chị H Lum dân tộc Mnông ở thôn Bon R Bút, xã Quang Sơn, Lâm Đồng, vay vốn ưu đãi trồng cà phê, dệt vải thổ cẩm cho hiệu quả tốt. Ảnh: Trần Việt/TTXVN

Đáng quan ngại hơn, vấn đề đất ở, đất sản xuất và định canh định cư, vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra. Đây là vấn đề "nóng", đã được Chính phủ chỉ đạo nhiều lần, được phản ánh qua nhiều kỳ sơ kết, nhưng đến nay vẫn là "nút thắt" chưa được khắc phục triệt để, trực tiếp ảnh hưởng đến sinh kế lâu dài của người dân.

Hiện nay, việc phân bổ đầu tư công chưa thực sự sát với đặc thù từng vùng miền. Vốn Trung ương vẫn phân bổ theo các tiêu chí chung, chưa tạo ra sự ưu tiên mang tính "đột phá" cho các xã vùng sâu, vùng biên giới. Đặc biệt tại vùng Tây Bắc và Tây Nguyên – nơi thường xuyên chịu tác động của thiên tai, lũ quét, sạt lở – nguồn lực hỗ trợ thường đến chậm hoặc mới chỉ dừng lại ở các hoạt động xã hội hóa tạm thời. Nghịch lý lớn nhất là tại nhiều nơi, "tiền đã về nhưng không tiêu được" do vướng mắc về cơ chế và sự thiếu đồng bộ trong việc lồng ghép nguồn vốn đầu tư công trung hạn. Sự chồng chéo về nội dung giữa các chương trình khiến cấp cơ sở lúng túng trong việc thực thi.

chinhsach.jpg
Cán bộ Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Kon Plông thăm hỏi, hỗ trợ người dân trong phát triển diện tích cà phê. Ảnh: Cao Nguyên/TTXVN

Cũng theo đại biểu Leo Thị Lịch, dù tỷ lệ giảm nghèo ấn tượng, nhưng tính bền vững là một dấu hỏi lớn. Thực tế cho thấy sự giảm nghèo hiện nay rất bấp bênh, nguy cơ tái nghèo sau thiên tai, dịch bệnh luôn hiện hữu. Khi giai đoạn giảm nghèo đa chiều hiện tại kết thúc vào năm 2027, với những tiêu chí mới dự báo sẽ cao hơn, số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo chắc chắn sẽ có sự biến động lớn. Nếu không nhìn nhận thực chất và có tiêu chí đánh giá sát sao, mục tiêu của kế hoạch 5 năm sẽ khó đạt chuẩn một cách bền vững.

Đào tạo nghề cho thanh niên và người lao động DTTS tại các tỉnh thành hiện vẫn ở mức rất thấp. Khoảng cách thu nhập giữa người DTTS và mặt bằng chung cả nước không những chưa thu hẹp mà còn có xu hướng nới rộng ở một số phân khúc. Việc tiếp cận các dịch vụ cơ bản như y tế và giáo dục chất lượng cao tại vùng sâu, vùng xa vẫn là một thách thức cực lớn, chưa có sự chuyển biến mang tính bứt phá trong giai đoạn vừa qua.

Những kiến nghị chiến lược cho giai đoạn tới

Từ những thực tiễn và khó khăn nêu trên, đại biểu Leo Thị Lịch cho rằng, để thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 88 của Quốc hội khóa XIV và Nghị quyết 257 của Quốc hội khóa XV về chủ trương đầu tư các Chương trình MTQG, Chính phủ cần tập trung vào các nhóm giải pháp đột phá:

Thứ nhất, định vị lại tầm nhìn chiến lược. Cần tiếp tục khẳng định phát triển vùng DTTS và miền núi không chỉ là an sinh xã hội, mà là nhiệm vụ chiến lược để thực hiện mục tiêu tăng trưởng bền vững của quốc gia. Phải coi việc thu hẹp khoảng cách vùng miền là thước đo thành công của sự phát triển.

Thứ hai, nâng cao chất lượng sống và tích hợp nguồn lực. Cần tập trung nguồn lực mạnh mẽ hơn vào "vùng lõi nghèo". Phải có cơ chế quản lý điều hành tích hợp thực chất để tránh trùng lặp nội dung, đối tượng. Việc tích hợp 3 chương trình phải đi đôi với các giải pháp thực tế, phù hợp với năng lực thực thi của địa phương.

Thứ ba, đổi mới mạnh mẽ cơ chế phân bổ vốn. Đề nghị Chính phủ nghiên cứu tăng tỷ trọng vốn đầu tư công cho vùng đồng bào DTTS thêm khoảng 10-15% so với giai đoạn trước. Cần áp dụng triệt để nguyên tắc: "Địa phương quyết, địa phương bàn, địa phương làm và địa phương chịu trách nhiệm". Việc giao quyền chủ động cho cấp tỉnh trong việc điều chỉnh vốn phù hợp với thực tế phát triển của địa phương là yếu tố sống còn để xóa bỏ tình trạng "vướng cơ chế". Đi kèm với đó là tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.

Thứ tư, tập trung vào các dự án mang tính liên kết. Phân bổ vốn phải sát với đặc thù vùng miền, ưu tiên cao nhất cho Tây Bắc, Tây Nguyên và những vùng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Thay vì các dự án nhỏ lẻ, cần tập trung vào các dự án lớn, đầu tư theo chuỗi liên kết hạ tầng liên vùng và chuỗi giá trị sản xuất - tiêu thụ sản phẩm cho bà con.

Thứ năm, đơn giản hóa thủ tục và khơi thông tín dụng. Cần đẩy mạnh lồng ghép nguồn vốn đầu tư công với nguồn vốn xã hội hóa. Đặc biệt, phải đơn giản hóa tối đa các thủ tục hành chính để người dân vùng khó khăn có thể dễ dàng tiếp cận các chính sách tín dụng ưu đãi, tạo sinh kế bền vững và phát triển hạ tầng an sinh xã hội ngay tại cơ sở.

thanhhoa.jpg
Đổi thay ở các xã biên giới của tỉnh Thanh Hóa góp phần giúp đồng bào vùng cao xóa đói, giảm nghèo. Ảnh: Nguyễn Nam/TTXVN

Hành trình phát triển vùng đồng bào DTTS và miền núi đã đạt được những thành tựu rất đáng tự hào, nhưng cũng để lại những bài học sâu sắc về quản lý và điều hành. Để bước vào giai đoạn tiếp theo với tâm thế chủ động, việc khắc phục những tồn tại về cơ chế và tập trung nguồn lực vào những dự án mang tính động lực là con đường duy nhất để không một ai, không một vùng đất nào bị bỏ lại phía sau trong tiến trình hiện đại hóa đất nước.

Có thể bạn quan tâm

Hương vị mùa vàng trong Lễ cơm mới của người Thái

Hương vị mùa vàng trong Lễ cơm mới của người Thái

Lễ cơm mới (Kin khảu máư) là nghi lễ truyền thống có ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào Thái. Hằng năm, vào khoảng tháng 5 - 6 theo lịch Thái, tương ứng với tháng 9 - 10 dương lịch, khi lúa ngoài đồng đã chín, thóc mới được đưa về đầy bồ, các gia đình tổ chức nghi lễ để mừng thành quả sau một mùa lao động.

Mường Lát: Gìn giữ bản sắc văn hóa gắn với phát triển sinh kế

Mường Lát: Gìn giữ bản sắc văn hóa gắn với phát triển sinh kế

Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc đang được xã Mường Lát xác định gắn với phát triển kinh tế xã hội, trong đó chú trọng phục dựng các giá trị truyền thống, phát huy vai trò của nghệ nhân, người có uy tín và xây dựng các mô hình du lịch cộng đồng.

Gìn giữ điệu múa kỳ lân truyền thống của người Nùng

Gìn giữ điệu múa kỳ lân truyền thống của người Nùng

Múa kỳ lân không chỉ tạo không khí rộn ràng trong những ngày lễ, Tết, mà còn thể hiện tinh thần thượng võ, khát vọng về cuộc sống bình an, no đủ của đồng bào Nùng. Loại hình nghệ thuật dân gian này đang được gìn giữ, quảng bá như một nét văn hóa đặc sắc của vùng cao Cao Bằng.

Lễ cầu mùa – nét văn hóa đặc sắc của người Nùng

Lễ cầu mùa – nét văn hóa đặc sắc của người Nùng

Lễ cầu mùa của người Nùng tại Cao Bằng được tổ chức vào “đắp nọi”, ngày cuối cùng của tháng Giêng âm lịch hằng năm. Nghi lễ truyền thống thể hiện lòng biết ơn thần linh, gửi gắm ước vọng về một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, bản làng bình an, no ấm.

Cô gái vùng cao Giàng Thị Sinh vượt khó, nuôi ước mơ trở thành cô giáo

Cô gái vùng cao Giàng Thị Sinh vượt khó, nuôi ước mơ trở thành cô giáo

Giàng Thị Sinh, cô gái dân tộc Mông vùng cao ở xã Sà Phìn (Tuyên Quang), đạt 27,31 điểm khối C00 trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 và trúng tuyển ngành Sư phạm Lịch sử - Địa lí, Trường Đại học Sư phạm 2 Hà Nội. Với Sinh, kết quả ấy là niềm vui sau những năm tháng cố gắng và cũng là bước đầu để em theo đuổi ước mơ trở thành cô giáo.

Độc đáo Lễ hội Thắk Côn Khmer giữa lòng Thủ đô

Độc đáo Lễ hội Thắk Côn Khmer giữa lòng Thủ đô

Lễ hội Thắk Côn là một lễ hội truyền thống có ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng Khmer tại thành phố Cần Thơ, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chính thức ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, ngày 3/6/2025.

Đẩy mạnh dạy tiếng dân tộc, nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh

Đẩy mạnh dạy tiếng dân tộc, nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh

Thực hiện đề án “Tăng cường dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2025 - 2035, định hướng đến năm 2045”, năm 2027, An Giang tập trung nâng cao chất lượng dạy và học ngôn ngữ, chữ viết của đồng bào Khmer; tăng tốc nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh, tiếng Pháp; phát triển đội ngũ giáo viên, học liệu, cơ sở vật chất và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong dạy học ngoại ngữ. Tỉnh đồng thời chuẩn bị các điều kiện để triển khai một số ngoại ngữ khác như tiếng Nhật, tiếng Trung Quốc, tiếng Hàn theo nhu cầu thực tế.

Độc đáo bánh rây của đồng bào Khmer ở An Giang

Độc đáo bánh rây của đồng bào Khmer ở An Giang

Chiều 2/8/2026, trong khuôn khổ Ngày hội Bánh dân gian Nam Bộ - An Giang 2026 (phường Long Xuyên), các nghệ nhân người Khmer đã trình diễn chế biến bánh rây và phục vụ miễn phí 200 chiếc bánh cho người dân, du khách.

Bảo tồn nghề dệt thổ cẩm gắn với sinh kế và du lịch cộng đồng người Thái ở Yên Châu

Bảo tồn nghề dệt thổ cẩm gắn với sinh kế và du lịch cộng đồng người Thái ở Yên Châu

Ở tuổi ngoài 60, bà Hoàng Thị Thoát xã Yên Châu (Sơn La) vẫn miệt mài truyền dạy chữ Thái, dân ca và nghề dệt thổ cẩm cho thế hệ trẻ. Từ tâm huyết của người "giữ lửa", việc thành lập Tổ Phụ nữ dệt thổ cẩm xã Yên Châu đang mở ra hướng đi mới, đưa nghề truyền thống gắn với sinh kế và phát triển du lịch cộng đồng.

Đồng bào Khmer dâng y tắm mưa cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ

Đồng bào Khmer dâng y tắm mưa cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ

Sáng 26/7, tại chùa Khmer thuộc Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, đồng bào dân tộc Khmer đã tổ chức lễ dâng y tắm mưa kết hợp cầu siêu tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Đây là hoạt động ý nghĩa hướng tới Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" và tôn vinh nét đẹp văn hóa tâm linh đặc sắc của đồng bào dân tộc Khmer.

Giữ lửa bản sắc văn hóa Thái nơi biên viễn xứ Thanh

Giữ lửa bản sắc văn hóa Thái nơi biên viễn xứ Thanh

Giữa nhịp sống hiện đại, những điệu xòe, tiếng cồng chiêng và lời dân ca Thái vẫn hiện diện trong đời sống của đồng bào ở xã Mường Lát (Thanh Hóa). Từ sự tâm huyết của các nghệ nhân đến những chính sách hỗ trợ của địa phương, các giá trị văn hóa truyền thống đang được gìn giữ, trao truyền và từng bước trở thành nguồn lực cho phát triển cộng đồng.

Bảo tồn nghề dệt truyền thống gắn với tạo sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số

Bảo tồn nghề dệt truyền thống gắn với tạo sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số

Không chỉ lưu giữ nghề dệt thổ cẩm truyền thống của đồng bào dân tộc Thái, xưởng dệt Hoa Ban ở Bản Lác (xã Mai Hạ, tỉnh Phú Thọ) còn tạo việc làm cho phụ nữ yếu thế và người khuyết tật. Mô hình là điểm sáng trong bảo tồn văn hóa gắn với phát triển sinh kế theo Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Lễ Sơmă Kơcham gìn giữ bản sắc văn hóa người Bahnar

Lễ Sơmă Kơcham gìn giữ bản sắc văn hóa người Bahnar

Khi nương rẫy bắt đầu xanh tốt, đồng bào Bahnar tại xã Kông Chro, tỉnh Gia Lai lại rộn ràng tổ chức lễ Sơmă Kơcham, nghi lễ truyền thống nhằm cầu bình an, sức khỏe, mùa màng bội thu, củng cố tình đoàn kết trong cộng đồng.

Nét đẹp hiếu kính trong nghi lễ 'tôi chòng' của người Tày

Nét đẹp hiếu kính trong nghi lễ 'tôi chòng' của người Tày

Nghi lễ thay bàn thờ gia tiên, còn gọi là “tôi chòng”, của đồng bào dân tộc Tày vừa được tái hiện tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, giới thiệu tới công chúng nét đẹp tín ngưỡng gắn với đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.