Phát triển du lịch bền vững từ giá trị bản sắc

Không ít địa phương sở hữu cảnh quan đẹp, di sản quý hay những lễ hội đặc sắc nhưng không phải nơi nào cũng có thể biến những giá trị ấy thành động lực phát triển kinh tế bền vững. Với Tuyên Quang, văn hóa không còn chỉ hiện diện trong các bảo tàng, lễ hội hay ký ức cộng đồng mà đang từng bước khẳng định vai trò là nguồn lực nội sinh, tạo nên sức hấp dẫn riêng cho du lịch.

Những ngôi nhà trình tường của người Mông trên Cao nguyên đá Đồng Văn, lễ cúng rừng của người Nùng, điệu múa của người Pà Thẻn, tiếng trống đồng của người Lô Lô, những đồi chè Shan tuyết cổ thụ hay các bản du lịch cộng đồng giữa núi rừng... đang được kết nối thành trải nghiệm giàu bản sắc, góp phần đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh.

Những giá trị được gìn giữ qua nhiều thế hệ

cot-co-lung-cu.jpg
Cột cờ Lũng Cú nổi bật trên nền sắc hồng hoa mai anh đào đầu xuân. Ảnh: Minh Tâm/TTXVN

Hầu hết các điểm đến hấp dẫn nhất của Tuyên Quang là đều mang đậm dấu ấn văn hóa bản địa. Du khách tìm đến Lũng Cú không chỉ để chạm tay vào cột cờ nơi địa đầu Tổ quốc mà còn để ngủ trong những ngôi nhà trình tường của người Lô Lô, nghe câu chuyện về chiếc váy thêu thủ công, thưởng thức bữa cơm truyền thống và cảm nhận nhịp sống bình yên giữa bản làng. Đến Khâu Vai, điều níu chân du khách không chỉ là cảnh sắc miền đá mà còn là sức sống của chợ phong lưu đã trở thành biểu tượng văn hóa độc đáo của vùng cao. Về Hoàng Su Phì hay Xín Mần, ngoài những thửa ruộng bậc thang kỳ vĩ là không gian văn hóa của đồng bào Dao, Nùng, La Chí được gìn giữ qua nhiều thế hệ.

lung-cu.jpg
Du khách chụp ảnh lưu niệm cùng các em nhỏ dân tộc Lô Lô ở bản Lô Lô Chải, xã Lũng Cú, tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: Minh Tâm/TTXVN

Điều làm nên sức hút ấy không phải những công trình được xây dựng mới mà chính là các giá trị nguyên bản vẫn được cộng đồng bảo tồn trong đời sống hằng ngày. Từ nếp nhà, trang phục, tiếng nói, lễ hội đến nghề thủ công truyền thống, tất cả đều là chất liệu tạo nên những sản phẩm du lịch khác biệt. Du khách ngày nay không chỉ muốn ngắm cảnh mà còn mong được sống trong không gian văn hóa của điểm đến, được trực tiếp trải nghiệm, lắng nghe những câu chuyện gắn với con người bản địa. Chính xu hướng ấy mở ra cơ hội để các địa phương chuyển hóa di sản văn hóa thành lợi thế cạnh tranh.

Những năm gần đây, Tuyên Quang xác định phát triển du lịch phải gắn với bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc. Thay vì khai thác đơn lẻ từng danh lam hay lễ hội, nhiều địa phương chú trọng xây dựng không gian trải nghiệm, nơi văn hóa hiện diện trong từng hoạt động của người dân. Từ những homestay mang kiến trúc truyền thống, các làng nghề, sản phẩm OCOP đến chương trình biểu diễn dân ca, dân vũ, tất cả đều góp phần kéo dài thời gian lưu trú và nâng cao giá trị chi tiêu của du khách.

Thiếu nữ dân tộc Lô Lô trong trang phục truyền thống, điểm tô nét duyên dáng cho làng du lịch cộng đồng nơi cực Bắc Tổ quốc. Ảnh: Minh Tâm/TTXVN

Thiếu nữ dân tộc Lô Lô trong trang phục truyền thống, điểm tô nét duyên dáng cho làng du lịch cộng đồng nơi cực Bắc Tổ quốc. Ảnh: Minh Tâm/TTXVN

Quan điểm phát triển văn hóa gắn với phát triển kinh tế, xã hội, khai thác giá trị di sản đi đôi với bảo tồn luôn được lãnh đạo tỉnh Tuyên Quang nhấn mạnh trong nhiều nghị quyết, chương trình và các kỳ họp HĐND tỉnh. Theo ông Nguyễn Văn Sơn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Tuyên Quang, phát triển du lịch phải dựa trên nền tảng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, để mỗi di sản không chỉ được gìn giữ mà còn trở thành nguồn lực cho phát triển bền vững.

Đáng chú ý, nhiều giá trị từng đứng trước nguy cơ mai một nay lại có cơ hội hồi sinh nhờ du lịch. Nghề dệt lanh của người Lô Lô, nghề chế biến chè Shan tuyết, nghề chạm bạc của người Dao, các nghi lễ truyền thống, những làn điệu dân ca… không chỉ được bảo tồn mà còn tạo thêm sinh kế cho người dân. Khi một sản phẩm văn hóa có thể tạo thu nhập, cộng đồng sẽ có thêm động lực để gìn giữ và truyền lại cho thế hệ sau. Đó là mối quan hệ hai chiều giữa bảo tồn văn hóa và phát triển kinh tế mà nhiều địa phương đang hướng tới.

Một góc làng du lịch cộng đồng Lô Lô Chải nhộn nhịp, thu hút du khách đến tham quan, trải nghiệm. Ảnh: Minh Tâm/TTXVN

Một góc làng du lịch cộng đồng Lô Lô Chải nhộn nhịp, thu hút du khách đến tham quan, trải nghiệm. Ảnh: Minh Tâm/TTXVN

Là người gắn bó nhiều năm với công tác bảo tồn văn hóa của đồng bào Nùng, bà Lù Thị Chỉnh, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Pờ Ly Ngài cho rằng, phát triển du lịch chỉ thực sự bền vững khi các giá trị truyền thống vẫn được cộng đồng gìn giữ bằng sự tự nguyện và lòng tự hào. Theo bà Chỉnh, lễ cúng rừng, những làn điệu dân ca hay các phong tục truyền thống không phải là “tiết mục biểu diễn” mà là một phần đời sống của người dân. Khi du khách đến để tìm hiểu, trân trọng và cùng gìn giữ những giá trị ấy, văn hóa sẽ có thêm sức sống, đồng thời tạo thêm sinh kế cho người dân địa phương.

Sáu tháng đầu năm 2026, Tuyên Quang đón hơn 2,09 triệu lượt khách, doanh thu du lịch đạt gần 5.857 tỷ đồng. Những con số ấy phản ánh sự tăng trưởng của ngành du lịch nhưng điều quan trọng hơn là cho thấy bản sắc văn hóa ngày càng trở thành yếu tố quyết định sức hấp dẫn của điểm đến. Trong bối cảnh nhiều địa phương cùng đầu tư hạ tầng và dịch vụ, chính sự khác biệt về văn hóa là lợi thế khó sao chép.

Kiến tạo hệ sinh thái du lịch từ bản sắc văn hóa

du-lich.jpg
Vẻ đẹp của những ngôi nhà trình tường cổ kính trên Cao nguyên đá Đồng Văn. Ảnh: Khánh Hoà/TTXVN

Nếu trước đây du lịch chủ yếu khai thác từng điểm đến riêng lẻ, hiện nay, Tuyên Quang đang từng bước hình thành hệ sinh thái du lịch dựa trên sự kết nối giữa thiên nhiên, văn hóa và cộng đồng. Một hành trình có thể bắt đầu từ hồ Na Hang, tiếp nối với những bản làng du lịch cộng đồng, khám phá vùng chè Shan tuyết cổ thụ, trải nghiệm các lễ hội truyền thống rồi kết thúc trên Cao nguyên đá Đồng Văn. Mỗi điểm đến đều mang dấu ấn riêng nhưng được liên kết bằng câu chuyện chung về văn hóa và con người.

Theo ông Lê Quang Huy, Quản lý vận hành Panhou Retreat - một trong những khu nghỉ dưỡng sinh thái tiêu biểu của tỉnh, điều khiến nhiều du khách trong và ngoài nước lựa chọn quay trở lại không chỉ là cảnh quan thiên nhiên mà còn bởi những trải nghiệm văn hóa bản địa. Từ kiến trúc mang đậm dấu ấn người Dao, ẩm thực truyền thống, tắm lá thuốc đến những câu chuyện về phong tục, tập quán của đồng bào đều trở thành một phần trong hành trình khám phá. Theo ông Huy, khi văn hóa được gìn giữ nguyên bản và được kể bằng chính người địa phương, đó sẽ là sản phẩm du lịch có giá trị lâu bền nhất.

ocop-tuyen-quang.png
Các sản phẩm trà Shan tuyết và đặc sản OCOP của tỉnh Tuyên Quang được giới thiệu, quảng bá, từng bước mở rộng thị trường và nâng cao giá trị nông sản địa phương. Ảnh: Minh Tâm/TTXVN

Cùng với đầu tư hạ tầng, tỉnh chú trọng phát triển sản phẩm du lịch gắn với nông nghiệp, văn hóa và sinh thái. Những sản phẩm OCOP không chỉ xuất hiện trên kệ hàng mà mang theo câu chuyện của vùng đất. Những cây chè cổ thụ hàng trăm năm tuổi không chỉ tạo ra sản phẩm đạt chuẩn quốc gia mà còn mở ra các tour trải nghiệm từ nương chè đến bàn trà. Những lễ hội truyền thống không còn diễn ra khép kín trong cộng đồng mà trở thành sự kiện thu hút du khách, đồng thời vẫn giữ được giá trị nguyên gốc.

Chuyển đổi số đang góp phần đưa văn hóa đến gần hơn với du khách. Hoạt động quảng bá trên nền tảng số, các sản phẩm truyền thông đa phương tiện, bản đồ du lịch thông minh, cùng sự tham gia ngày càng tích cực của người dân và doanh nghiệp giúp hình ảnh Tuyên Quang lan tỏa rộng hơn. Khi mỗi người dân trở thành một "đại sứ" giới thiệu văn hóa quê hương, sức hấp dẫn của điểm đến không chỉ đến từ phong cảnh mà còn từ sự thân thiện, hiếu khách và những câu chuyện giàu bản sắc.

tuyen-quang.jpg
Bơi mảng - Hát Then trên hồ Nà Nưa thuộc Khu Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Tân Trào, Ban Quản lý các Khu Du lịch tỉnh Tuyên Quang. Ảnh: Vũ Quang/TTXVN

Điều đáng mừng là tư duy phát triển du lịch của nhiều địa phương đã có sự thay đổi. Thay vì chạy theo những công trình nhân tạo hay sản phẩm na ná nhau, các địa phương chú trọng khai thác lợi thế riêng, lấy văn hóa làm nền tảng để tạo dấu ấn. Chính cách làm ấy giúp mỗi vùng đất giữ được bản sắc, đồng thời tránh nguy cơ đồng nhất hóa sản phẩm du lịch.

Chỉ khi những giá trị truyền thống tiếp tục được gìn giữ trong đời sống cộng đồng, được trao truyền qua nhiều thế hệ và mang lại sinh kế cho chính người dân, văn hóa mới thực sự trở thành nguồn lực phát triển bền vững. Bảo tồn và phát triển không còn là hai mục tiêu tách biệt mà bổ trợ cho nhau, cùng tạo nên sức sống lâu dài cho điểm đến.

Có thể thấy, khi những giá trị văn hóa được gìn giữ trong đời sống cộng đồng, được kể bằng chính con người đang sống cùng di sản và chuyển hóa thành trải nghiệm chân thực cho du khách, văn hóa sẽ không chỉ là ký ức mà trở thành nguồn lực cho hiện tại và tương lai. Đó cũng là con đường để du lịch Tuyên Quang phát triển bền vững bằng chính bản sắc riêng của mình./.

Dân tộc Mông

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...

Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.

Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt.jpg
Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt

: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).

Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung.jpg
Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mông
Dân tộc Nùng

Tên tự gọi: Nồng.

Nhóm địa phương: Nùng Giang, Nùng Xuồng, Nùng An, Nùng Inh, Nùng Lòi, Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín...

Dân số: 968.800 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), cùng nhóm với tiếng Tày, tiếng Thái, và nhất là tiếng Choang ở Trung Quốc...

Lịch sử: Người Nùng phần lớn từ Quảng Tây (Trung Quốc) di cư sang cách đây khoảng 200-300 năm.

Hoạt động sản xuất: Người Nùng làm việc rất thành thạo nhưng do cư trú ở những vùng không có điều kiện khai phá ruộng nước cho nên nhiều nơi họ phải sống bằng nương rẫy là chính. Ngoài ngô, lúa họ còn trồng các loại củ, bầu bí, rau xanh...

Họ biết làm nhiều nghề thủ công: dệt, rèn, đúc, đan lát, làm đồ gỗ, làm giấy dó, làm ngói âm dương... Nhiều nghề có truyền thống lâu đời nhưng vẫn là nghề phụ gia đình, thường chỉ làm vào lúc nông nhàn và sản phẩm làm ra phục vụ nhu cầu của gia đình là chính. Hiện nay, một số nghề có xu hướng mai một dần (dệt), một số nghề khác được duy trì và phát triển (rèn). Ở xã Phúc Sen (huyện Quảng Hoà, Cao Bằng) rất nhiều gia đình có lò rèn và hầu như gia đình nào cũng có người biết làm nghề rèn.

Chợ ở vùng người Nùng phát triển. Người ta thường đi chợ phiên để trao đổi mua bán các sản phẩm. Thanh niên, nhất là nhóm Nùng Phàn Slình, thích đi chợ hát giao duyên.

Ăn: Ở nhiều vùng người Nùng ăn ngô là chính. Ngô được xay thành bột để nấu cháo đặc như bánh đúc. Thức ăn thường được chế biến bằng cách rán, xào, nấu, ít khi luộc. Nhiều người kiêng ăn thịt trâu, bò, chó.

Mặc: Y phục truyền thống của người Nùng khá đơn giản, thường làm bằng vải thô tự dệt, nhuộm chàm và hầu như không có thêu thùa trang trí. Nam giới mặc áo cổ đứng, xẻ ngực, có hàng cúc vải. Phụ nữ mặc áo năm thân, cài cúc bên nách phải, thường chỉ dài quá hông.

: Người Nùng cư trú ở các tỉnh Ðông Bắc nước ta, họ thường sống xen kẽ với người Tày. Phần lớn ở nhà sàn. Một số ở nhà đất làm theo kiểu trình tường hoặc xây bằng gạch mộc. Ở ven biên giới trước kia còn có loại nhà làm theo kiểu pháo đài, có lô cốt và lỗ châu mai để chống giặc cướp.

Phương tiện vận chuyển: Các phương thức vận chuyển truyền thống là khiêng, vác, gánh, mang, xách. Hiện nay ở một số địa phương người Nùng sử dụng xe có bánh lốp do các vật kéo để làm phương tiện vận chuyển.

Quan hệ xã hội: Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội người Nùng đã đạt đến trình độ phát triển như ở người Tày. Ruộng và nương thâm canh đã biến thành tài sản tư hữu, có thể đem bán hay chuyển nhượng. Hình thành các giai cấp: địa chủ và nông dân.

Cưới xin: Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu và khi yêu nhau họ thường trao tặng nhau một số kỷ vật. Các chàng trai tặng các cô gái đòn gánh, giỏ đựng con bông (hắc lì) và giỏ đựng con sợi (cởm lót).Còn các cô gái tặng các chàng trai áo và túi thêu.

Tuy nhiên hôn nhân lại hoàn toàn do bố mẹ quyết định, trên cơ sở hai gia đình có môn đăng hộ đối không và lá số đôi trai gái có hợp nhau hay không. Nhà gái thường thách cưới bằng thịt, gạo, rượu và tiền. Số lượng đồ dẫn cưới càng nhiều thì giá trị của người con gái càng cao. Việc cưới xin gồm nhiều nghi lễ, quan trọng nhất là lễ đưa dâu về nhà chồng. Sau ngày cưới cô dâu vẫn ở nhà bố mẹ đẻ cho đến sắp có con mới về ở hẳn nhà chồng.

Sinh đẻ: Ngoài lễ đặt bàn thờ bà mụ và lễ mừng trẻ đầy tháng ở một số nhóm Nùng còn tổ chức lễ đặt tên cho trẻ khi chúng đến tuổi trưởng thành.

Ma chay: Có nhiều nghi lễ với mục đích chính là đưa hồn người chết về bên kia thế giới.

Nhà mới: Làm nhà mới là một trong nhiều công việc hệ trọng. Vì thế khi làm nhà người ta rất chú ý tới việc chọn đất, xem hướng, chọn ngày dựng nhà và lên nhà mới với ước mong có cuộc sống yên vui, làm ăn phát đạt.

Thờ cúng: Thờ tổ tiên là chính. Bàn thờ đặt ở nơi trang trọng, được trang hoàng đẹp, ở vị trí trung tâm là bức phùng slằn viết bằng chữ Hán cho biết tổ tiên thuộc dòng họ nào. Ngoài ra còn thờ thổ công, Phật bà Quan âm, bà mụ, ma cửa, ma sàn, ma ngoài sàn (phi hang chàn)... và tổ chức cầu cúng khi thiên tai, dịch bệnh... Khác với người Tày, người Nùng tổ chức mừng sinh nhật và không cúng giỗ.

Lễ tết: Người Nùng ăn tết giống như ở người Việt và người Tày.

Lịch: Người Nùng theo âm lịch.

Học: Có chữ nôm Nùng dựa theo chữ Hán, đọc theo tiếng Nùng và chữ Tày - Nùng trên cơ sở chữ cái La-tinh.

Văn nghệ: Sli là hát giao duyên của thanh niên nam nữ dưới hình thức diễn xướng tập thể, thường là đôi nam, đôi nữ hát đối đáp với nhau và được hát theo hai bè.

Người ta thường Sli với nhau trong những ngày hội, ngày lễ, ngày chợ phiên, thậm chí ngay trên tàu, trên xe.

Chơi: Trong các ngày tết, ngày lễ, ngày hội thường có một số trò chơi như tung còn, đánh cầu lông, đánh quay, kéo co...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Nùng

Có thể bạn quan tâm

Gieo mùa hoa, hẹn mùa hội trên Cao nguyên đá Đồng Văn

Gieo mùa hoa, hẹn mùa hội trên Cao nguyên đá Đồng Văn

Trên những triền núi vừa đi qua mùa ngô, người dân các xã vùng cao tỉnh Tuyên Quang lại bắt đầu làm đất, lên luống, gieo xuống những hạt tam giác mạch nhỏ bé, chuẩn bị cho Lễ hội Hoa tam giác mạch lần thứ XII với chủ đề “Âm vang miền đá”.

Những trải nghiệm độc đáo từ dấu tích núi lửa hàng triệu năm tuổi

Những trải nghiệm độc đáo từ dấu tích núi lửa hàng triệu năm tuổi

Phía Tây tỉnh Lâm Đồng đang sở hữu một không gian tự nhiên đặc biệt, nơi những dấu tích núi lửa hàng triệu năm tuổi cùng hệ thống hang động, rừng nguyên sinh, hồ, thác và những giá trị văn hóa lâu đời của các dân tộc bản địa. Từ những giá trị tưởng như chỉ dành cho nghiên cứu khoa học, địa chất đang dần trở thành nền tảng để địa phương hình thành những sản phẩm du lịch trải nghiệm khác biệt.

Mùa vàng hút khách ở Mù Cang Chải

Mùa vàng hút khách ở Mù Cang Chải

Từ tháng 9 đến đầu tháng 10 hằng năm, vùng cao Mù Cang Chải, tỉnh Lào Cai lại bước vào “mùa vàng” đẹp nao lòng với những thửa ruộng bậc thang chín rộ, tạo nên bức tranh thiên nhiên kỳ vĩ, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến chiêm ngưỡng và check in, chụp ảnh.

Sơn La: Vẻ đẹp của Di tích Lịch sử - Văn hóa Hang Dơi

Sơn La: Vẻ đẹp của Di tích Lịch sử - Văn hóa Hang Dơi

Di tích Lịch sử - Văn hóa Hang Dơi (Động Sơn Mộc Hương) ở phường Mộc Sơn, là một Danh lam thắng cảnh tự nhiên, Di chỉ khảo cổ và cũng là Di tích lịch sử kháng chiến của tỉnh Sơn La. Tên gọi Hang Dơi xuất phát từ việc nơi đây có rất nhiều dơi sinh sống. Hiện nay, mặc dù dơi không còn nhiều như trước nhưng vẫn có những đàn dơi trú ngụ tại đây.

Khi trái ngọt kể câu chuyện đại ngàn

Khi trái ngọt kể câu chuyện đại ngàn

Lần đầu tiên được tổ chức ở quy mô cấp tỉnh, Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk năm 2026 là sự kết hợp hài hòa giữa văn hóa, du lịch, nông nghiệp, xúc tiến thương mại và quảng bá hình ảnh địa phương. Thành công từ Lễ hội tạo tiền đề quan trọng để tỉnh từng bước xây dựng, đưa Lễ hội Sầu riêng trở thành sản phẩm văn hóa - du lịch đặc trưng trong những năm tới.

Kết nối mở hướng phát triển du lịch bền vững

Kết nối mở hướng phát triển du lịch bền vững

Với lợi thế biển đẹp, cảnh quan hoang sơ cùng hệ thống di sản văn hóa, du lịch phía Đông Đắk Lắk đang có nhiều chuyển biến tích cực. Việc tăng cường kết nối giữa điểm đến, doanh nghiệp, làng nghề và cộng đồng đang mở ra hướng phát triển du lịch bền vững.

Slam Chiêm - Sắc màu trên thảo nguyên

Slam Chiêm - Sắc màu trên thảo nguyên

Trong không khí thi đua sôi nổi chào mừng kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), xã Hiệp Lực (tỉnh Thái Nguyên) đã tưng bừng tổ chức chuỗi hoạt động văn hóa, thể thao với chủ đề “Slam Chiêm - Sắc màu trên thảo nguyên”. Sự kiện mang đến không gian trải nghiệm văn hóa độc đáo, tràn ngập sức sống giữa thiên nhiên khoáng đạt.

Đưa điểm đến nơi cực Tây Tổ quốc vào khai thác du lịch

Đưa điểm đến nơi cực Tây Tổ quốc vào khai thác du lịch

Trong không khí cả nước hướng tới kỷ niệm 81 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh 2/9, sáng nay (1/9), UBND xã Sín Thầu, tỉnh Điện Biên tổ chức khai trương hoạt động du lịch tại Mốc giao điểm đường biên giới ba nước Việt Nam - Lào - Trung Quốc và Cột cờ A Pa Chải.

Đặc sắc Tuần Văn hóa - Du lịch trên cao nguyên Mộc Châu

Đặc sắc Tuần Văn hóa - Du lịch trên cao nguyên Mộc Châu

Chào mừng kỷ niệm 81 năm Quốc khánh 2/9, tối 31/8, tại Quảng trường 8/5 (phường Mộc Châu), tỉnh Sơn La tổ chức Khai mạc Tuần Văn hóa - Du lịch Mộc Châu và Đêm hội Thổ cẩm quốc tế Sơn La năm 2026 với chủ đề "Dệt di sản hòa giao sắc màu".

Đánh thức 'viên ngọc xanh' từ du lịch cộng đồng

Đánh thức 'viên ngọc xanh' từ du lịch cộng đồng

Cao nguyên La Vuông (phường Hoài Nhơn Bắc, tỉnh Gia Lai) nằm ở độ cao trên 700 m so với mực nước biển, sở hữu lợi thế về cảnh quan và giao thông kết nối. Đây là điều kiện thuận lợi để phường Hoài Nhơn Bắc từng bước khai thác du lịch trải nghiệm, gắn với cộng đồng và bảo vệ cảnh quan tự nhiên.

Rộn ràng ghé thăm 'Mường quên lãng'

Rộn ràng ghé thăm 'Mường quên lãng'

Từng được gọi là “Mường quên lãng”, Mường Lựm thuộc xã Chiềng Hặc, tỉnh Sơn La nay đang dần được đánh thức. Từ những phiên chợ vùng cao rộn ràng sắc màu, những sản vật mang hương vị núi rừng, đến di tích lịch sử, hồ nước giữa rừng nguyên sinh…, tất cả đang mở ra những câu chuyện mới về một điểm đến giàu tiềm năng trên hành trình khám phá vùng đất Sơn La.

Hành trình trải nghiệm đa dạng trên miền di sản

Hành trình trải nghiệm đa dạng trên miền di sản

Sau hợp nhất, không gian du lịch Tuyên Quang được mở rộng từ miền quê cách mạng Tân Trào, hồ sinh thái Na Hang - Lâm Bình đến Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn, những thửa ruộng bậc thang Hoàng Su Phì và miền biên cương Lũng Cú.

Thái Nguyên: Thúc đẩy quảng bá, giới thiệu điểm đến tại TP Hồ Chí Minh

Thái Nguyên: Thúc đẩy quảng bá, giới thiệu điểm đến tại TP Hồ Chí Minh

Chiều 28/8, tại TP Hồ Chí Minh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên đã tổ chức Hội nghị “Thái Nguyên - Điểm đến xanh cho du khách quốc tế” nhằm quảng bá, giới thiệu văn hóa, điểm đến, sản phẩm du lịch, tạo cầu nối cho doanh nghiệp du lịch - lữ hành mở rộng thị trường và thu hút du khách quốc tế đến địa phương.

Ứng dụng mạnh công nghệ số vào phát triển du lịch

Ứng dụng mạnh công nghệ số vào phát triển du lịch

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lào Cai phối hợp với Công ty Cổ phần IGB đã nghiên cứu, phát triển Ứng dụng Du lịch thông minh Lào Cai Tour trên các nền tảng số.

Đánh thức 'mỏ vàng xanh' từ nông nghiệp - Bài cuối

Đánh thức 'mỏ vàng xanh' từ nông nghiệp - Bài cuối

Từ hạt cà phê trên những triền đồi Khe Sanh, gói gạo quê giữa cánh đồng Hải Lăng đến chai nước mắm của làng biển hay sản vật trong những bản làng Bru - Vân Kiều, Pa Kô, Quảng Trị đang tìm cách gia tăng giá trị nông sản bằng du lịch. Khi du khách bước vào vùng nguyên liệu, gặp người làm ra sản phẩm và trải nghiệm đời sống bản địa, nông sản không chỉ là hàng hóa mà còn trở thành câu chuyện của một vùng đất.

Đánh thức 'mỏ vàng xanh' từ nông nghiệp - Bài 1

Đánh thức 'mỏ vàng xanh' từ nông nghiệp - Bài 1

Quảng Trị có lợi thế đa dạng về cảnh quan, hệ sinh thái, nông sản và văn hóa bản địa, từ những cánh đồng vùng đồng bằng, làng biển đến những đồi cà phê, bản làng dưới chân Trường Sơn. Những giá trị ấy đang được nhiều địa phương từng bước chuyển hóa thành sản phẩm du lịch, tạo thêm sinh kế cho người dân và nâng cao giá trị nông sản.