Phát triển du lịch sinh thái - Chìa khóa giữ màu xanh đại ngàn

Nằm giữa núi rừng và ruộng bậc thang ở xã Thông Nguyên (tỉnh Tuyên Quang), Panhou Retreat phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo tồn thiên nhiên và văn hóa Dao đỏ.

Các công trình được bố trí hài hòa dưới tán rừng, sử dụng vật liệu gần gũi với môi trường. Du khách không chỉ nghỉ dưỡng mà còn được trải nghiệm tắm lá thuốc, làm giấy dó, vẽ tranh, thưởng thức ẩm thực và các tiết mục văn nghệ truyền thống. Mô hình góp phần tạo sinh kế cho người dân, đồng thời khuyến khích cộng đồng giữ rừng, bảo vệ nguồn nước và gìn giữ bản sắc địa phương.

du-lich-tuyen-quan-120826.jpg
Những thửa ruộng bậc thang tạo nên cảnh quan đặc trưng, hấp dẫn du khách đến với Thông Nguyên.
du-lich-tuyen-quang2-120826.jpg
Những thửa ruộng bậc thang tạo nên cảnh quan đặc trưng, hấp dẫn du khách đến với Thông Nguyên.
du-lich-tuyen-quang3-120826.jpg
Không gian nghỉ dưỡng giữa núi rừng tại Panhou Retreat, xã Thông Nguyên (tỉnh Tuyên Quang).
du-lich-tuyen-quang4-120826.jpg
Nhân viên Panhou Retreat giới thiệu hoạt động vẽ tranh truyền thống tới du khách.
du-lich-tuyen-quang5-120826.jpg
Người Dao đỏ biểu diễn múa sạp, góp phần đưa văn hóa bản địa vào các chương trình trải nghiệm du lịch.
Dân tộc Dao

Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).

Tên gọi khác: Mán.

Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).

Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.

Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.

Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.

Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.

Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...

Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.

Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.

Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.

Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.

Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.

Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.

: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.

Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.

Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.

Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.

Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.

Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.

Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.


Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.

Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.

Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.

Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.

Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.

Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Dao

Có thể bạn quan tâm

Công nghiệp văn hóa tạo dư địa mới cho tăng trưởng

Công nghiệp văn hóa tạo dư địa mới cho tăng trưởng

Từ tiếng khèn Mông giữa miền đá, điệu Then bên những nếp nhà sàn, nghi lễ Nhảy lửa của người Pà Thẻn đến nghề thủ công, ẩm thực và các không gian văn hóa cộng đồng, Tuyên Quang sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa phong phú được bồi đắp qua nhiều thế hệ.

Chứng tích độc đáo của nền văn minh Óc Eo

Chứng tích độc đáo của nền văn minh Óc Eo

Giữa vùng đất Tây Ninh ngày nay, tháp Chót Mạt vẫn lặng lẽ hiện diện, lưu giữ những dấu tích của nền văn minh Óc Eo. Từ những viên gạch cổ và dáng tháp độc đáo, di tích không chỉ kể câu chuyện về một lớp trầm tích văn hóa xa xưa, mà còn mở ra tiềm năng phát huy giá trị lịch sử gắn với du lịch.

Tạo động lực mới cho phát triển du lịch Mẫu Sơn

Tạo động lực mới cho phát triển du lịch Mẫu Sơn

Mẫu Sơn là dãy núi cao nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Lạng Sơn với đỉnh Phjia Mè cao 1.520 m so với mực nước biển. Nhờ khí hậu mát mẻ quanh năm và cảnh quan thiên nhiên đặc sắc, từ thời Pháp thuộc, nơi đây đã được biết đến là điểm nghỉ dưỡng nổi tiếng ở miền Bắc.

Cù Lao Xanh, bình yên nơi đầu sóng

Cù Lao Xanh, bình yên nơi đầu sóng

Nằm cách đất liền khoảng 24km, xã Nhơn Châu, tỉnh Gia Lai, thường được biết đến với tên gọi Cù Lao Xanh, đang từng bước chuyển mình từ một làng đảo chủ yếu sống bằng nghề biển thành điểm đến du lịch giàu tiềm năng. Giữa nhịp phát triển mới, Cù Lao Xanh vẫn giữ nguyên vẻ yên bình với phiên chợ sớm, âu thuyền tấp nập, những tuyến bờ kè hướng biển và cuộc sống mộc mạc của người dân nơi đầu sóng. 

Rừng ngập nước Bầu Đá mở hướng phát triển du lịch cộng đồng

Rừng ngập nước Bầu Đá mở hướng phát triển du lịch cộng đồng

Nằm ở phía Đông tỉnh Đắk Lắk, rừng Bầu Đá (xã Hòa Thịnh) được xem là cánh rừng ngập nước duy nhất nơi đây. Không chỉ gây ấn tượng bởi những tán rừng trải dài soi bóng dưới làn nước tĩnh lặng, rừng ngập nước Bầu Đá còn là mái nhà của nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Địa phương đang nỗ lực gìn giữ giá trị và phát huy tiềm năng du lịch, tạo thêm sinh kế cho người dân.

Trải nghiệm sắc màu văn hóa chợ phiên vùng cao xứ Nghệ

Trải nghiệm sắc màu văn hóa chợ phiên vùng cao xứ Nghệ

Ở miền Tây Nghệ An, những chợ phiên vùng cao, biên giới nổi tiếng như Mường Quạ (xã Môn Sơn), Mường Chon (xã Bình Chuẩn), Tri Lễ (xã Tri Lễ), Nga My (xã Nga My), Nhôn Mai (xã Nhôn Mai)… không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa mà còn là không gian văn hóa sống động, đặc sắc, nơi lưu giữ phong tục, tập quán và bản sắc đặc trưng của cộng đồng các dân tộc Thái, Đan Lai, Khơ Mú, Mông, Ơ Đu...

Thanh Hóa du lịch trải nghiệm nâng tầm sức hút du lịch

Thanh Hóa du lịch trải nghiệm nâng tầm sức hút du lịch

Trong chiến lược phát triển du lịch, ngoài khai thác các giá trị văn hóa, lịch sử, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ, nhiều xã, phường của tỉnh Thanh Hóa đang kiến tạo những không gian trải nghiệm mới, hấp dẫn, từ du lịch sinh thái đến khám phá đời sống văn hóa cộng đồng, ẩm thực địa phương, tạo sức hút để nâng tầm du lịch Thanh Hóa trong giai đoạn mới.

Từ sinh kế bền vững đến 'phên dậu' nơi biển khơi

Từ sinh kế bền vững đến 'phên dậu' nơi biển khơi

Mỗi hòn đảo tiền tiêu có một cách mưu sinh riêng, nhưng đều đứng trước cùng một bài toán: làm sao để người dân có thể sống được trên chính quê hương mình. Từ Cù Lao Xanh, Cù Lao Chàm đến Lý Sơn, hành trình tìm lời giải cho sinh kế bền vững không chỉ mở ra hướng phát triển kinh tế biển mà còn góp phần giữ những cộng đồng cư dân bám biển, bám đảo như những "phên dậu" vững chắc giữa trùng khơi.

Đột phá chính sách cho du lịch vùng cao

Đột phá chính sách cho du lịch vùng cao

Du lịch Điện Biên đang đứng trước thời cơ phát triển mới khi lượng khách và doanh thu liên tục tăng trưởng sau nhiều năm tập trung đầu tư hạ tầng, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa.

Bản sắc văn hóa tạo nên sức hút du lịch

Bản sắc văn hóa tạo nên sức hút du lịch

Việt Nam là một đất nước giàu bản sắc văn hóa với hàng nghìn năm lịch sử. Mỗi địa phương đều mang trong mình một câu chuyện riêng. Từ những phong tục tập quán, lễ hội truyền thống, làng nghề lâu đời đến những giá trị được trao truyền qua nhiều thế hệ, tất cả đã tạo nên một bức tranh văn hóa đặc sắc, tạo nên sức hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.

Năm Du lịch quốc gia 2026: Gia Lai ra mắt loạt điểm đến mới

Năm Du lịch quốc gia 2026: Gia Lai ra mắt loạt điểm đến mới

Ngày 9/7, tại phường Quy Nhơn Nam, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai đã chính thức công bố, giới thiệu và trao Quyết định công nhận các Điểm du lịch của tỉnh. Đây là hoạt động thiết thực chào mừng kỷ niệm 65 năm Ngày thành lập ngành Du lịch Việt Nam.

Khuân Bang đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng từ bản sắc dân tộc Tày

Khuân Bang đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng từ bản sắc dân tộc Tày

Giữa không gian thanh bình của núi đồi và những nếp nhà sàn truyền thống dân tộc Tày, thôn Khuân Bang, xã Chợ Mới, tỉnh Thái Nguyên đang từng bước khai thác tiềm năng du lịch cộng đồng. Không chỉ mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho người dân, mô hình này còn góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc Tày.

Phát triển du lịch bền vững từ giá trị bản sắc

Phát triển du lịch bền vững từ giá trị bản sắc

Không ít địa phương sở hữu cảnh quan đẹp, di sản quý hay những lễ hội đặc sắc nhưng không phải nơi nào cũng có thể biến những giá trị ấy thành động lực phát triển kinh tế bền vững. Với Tuyên Quang, văn hóa không còn chỉ hiện diện trong các bảo tàng, lễ hội hay ký ức cộng đồng mà đang từng bước khẳng định vai trò là nguồn lực nội sinh, tạo nên sức hấp dẫn riêng cho du lịch. 

Tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng giữa đại ngàn Trường Sơn

Tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng giữa đại ngàn Trường Sơn

Điểm du lịch sinh thái Hồ Rà Hách - Suối Ruông, thuộc thôn Bà He, xã Sơn Tây Hạ (Quảng Ngãi) vẫn giữ được vẻ đẹp hoang sơ với làn nước trong xanh, mát lạnh quanh năm. Nơi đây có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch cộng đồng, sinh thái gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng người Ca Dong giữa đại ngàn Trường Sơn.

Vô Tranh phát triển kinh tế từ lợi thế cây chè, văn hóa và du lịch cộng đồng

Vô Tranh phát triển kinh tế từ lợi thế cây chè, văn hóa và du lịch cộng đồng

Tại chương trình “Trải nghiệm Vô Tranh - Dấu ấn xứ Trà, hành trình một năm kiến tạo vươn tầm và phát triển”, xã Vô Tranh, tỉnh Thái Nguyên đã giới thiệu tiềm năng, lợi thế trong phát triển kinh tế nông nghiệp, văn hóa trà và du lịch cộng đồng. Sự kiện là dịp quảng bá hình ảnh vùng chè Vô Tranh, đồng thời mở ra hướng đi mới trong khai thác giá trị cây chè gắn với xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế xanh.

Thác Lủng Páng điểm đến hoang sơ giữa núi rừng Thái Nguyên

Thác Lủng Páng điểm đến hoang sơ giữa núi rừng Thái Nguyên

Nằm tại xã Phong Quang, trên cung đường mới kết nối thành phố Bắc Kạn cũ với hồ Ba Bể, thác Lủng Páng đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn của du lịch Thái Nguyên, phù hợp với du khách yêu thiên nhiên, thích trekking và khám phá vẻ đẹp nguyên bản của vùng Việt Bắc.

Lào Cai hút khách quốc tế chi tiêu cao

Lào Cai hút khách quốc tế chi tiêu cao

Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai, 6 tháng đầu năm 2026, tổng thu từ khách du lịch trên địa bàn tăng cao, đạt 25.370 tỷ đồng, xấp xỉ 50% kế hoạch năm. Con số này không chỉ phản ánh sức hút của du lịch Lào Cai đối với du khách trong và ngoài nước mà còn thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ trong hành vi tiêu dùng khi du khách, đặc biệt là khách nước ngoài sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho các trải nghiệm hấp dẫn tại địa phương.

Đánh giá hiện trạng, bảo vệ di sản Công viên Địa chất UNESCO Đắk Nông

Đánh giá hiện trạng, bảo vệ di sản Công viên Địa chất UNESCO Đắk Nông

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Đồng vừa phối hợp với Mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Việt Nam và đơn vị liên quan, chính quyền các địa phương khảo sát, đánh giá hiện trạng tuyến, điểm trong vùng Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông (thuộc khu vực phía Tây tỉnh Lâm Đồng). Đây là công viên địa chất đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Việt Nam lần 2 vào tháng 12/2024.

Khai thác tiềm năng du lịch khác biệt, giàu trải nghiệm

Khai thác tiềm năng du lịch khác biệt, giàu trải nghiệm

Sau sáp nhập, tỉnh Đắk Lắk có lợi thế vàng từ “biển - rừng - văn hóa” để khai thác, hình thành các sản phẩm du lịch đa dạng, khác biệt và giàu trải nghiệm. Hiện nay, tỉnh đang khẩn trương xây dựng “Đề án phát triển du lịch tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050”.