Phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Bài 1)

Vải thiều Bắc Giang được phân phối trên các sàn thương mại điện tử lớn tại Việt Nam như Sendo, Voso, Tiki, Shopee, Postmart… với giá ưu đãi và chuyển phát nhanh toàn quốc thông qua “Gian hàng Việt trực tuyến quốc gia”. Ảnh: Danh Lam – TTXVN
Vải thiều Bắc Giang được phân phối trên các sàn thương mại điện tử lớn tại Việt Nam như Sendo, Voso, Tiki, Shopee, Postmart… với giá ưu đãi và chuyển phát nhanh toàn quốc thông qua “Gian hàng Việt trực tuyến quốc gia”. Ảnh: Danh Lam – TTXVN

Thời gian qua, Ðảng, Nhà nước đề ra nhiều chủ trương, chính sách ưu tiên để bảo đảm phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của khoa học và công nghệ. Việc thực hiện chính sách dân tộc là vấn đề chiến lược, sống còn, chìa khóa đi đến thành công. Chính sách dân tộc nhằm nâng cao dân trí, giữ gìn văn hóa, phát triển kinh tế hướng đến xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc để đất nước ngày càng giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Phóng viên TTXVN thực hiện chùm 3 bài viết với chủ đề: Phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Bài 1: Khoa học công nghệ là nền tảng

Giai đoạn vừa qua, nhiều chương trình quốc gia hỗ trợ phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã mang lại hiệu quả, tạo được điểm sáng, mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực, góp phần quan trọng vào việc xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn cũng như thực hiện chương trình phát triển kinh tế - xã hội bền vững của địa phương.

Nhiều chương trình hỗ trợ

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Hoàng Giang nhấn mạnh: Chương trình nông thôn miền núi giai đoạn 2016-2025 đã tạo được điểm sáng về ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế-xã hội thiết thực cho vùng nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Kết quả của chương trình được duy trì và nhân rộng, góp phần quan trọng vào việc xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, cũng như thực hiện chương trình phát triển kinh tế-xã hội bền vững của địa phương.

Triển khai thực hiện Chương trình nông thôn miền núi giai đoạn 2016-2025, tại hội nghị sơ kết 5 năm cho thấy, giai đoạn 2016-2020 đã có 400 dự án, trong đó 337 dự án Trung ương quản lý, 63 dự án ủy quyền địa phương quản lý được phê duyệt thực hiện. Các dự án đã xây dựng được hàng nghìn mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, chuyển giao thành công hàng nghìn lượt công nghệ và tiến bộ kỹ thuật phù hợp với từng vùng miền, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Đặc biệt, Chương trình nông thôn miền núi giai đoạn 2016-2025 đã thúc đẩy, tăng cường dự án có liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trực tiếp sản xuất, doanh nghiệp trở thành hạt nhân giúp nông dân cùng phát triển trong mối liên kết chuỗi giá trị sản xuất hàng hóa. Đồng thời, Chương trình giai đoạn 2016-2025 cũng đẩy mạnh tăng cường, hỗ trợ, ưu tiên các dự án cho vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số; thúc đẩy dự án có liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trực tiếp sản xuất, chú trọng phát triển nông nghiệp công nghệ cao.

Phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Bài 1) ảnh 1Vải thiều Bắc Giang được phân phối trên các sàn thương mại điện tử lớn tại Việt Nam như Sendo, Voso, Tiki, Shopee, Postmart… với giá ưu đãi và chuyển phát nhanh toàn quốc thông qua “Gian hàng Việt trực tuyến quốc gia”. Ảnh: Danh Lam – TTXVN

Triển khai Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia giai đoạn 2016-2020 (CTDT/16-20), Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Huỳnh Thành Đạt nhấn mạnh: Để phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, khoa học và công nghệ phải là giải pháp, tạo nên làn gió mới trong sản xuất nông, lâm nghiệp. Chương trình đã thành công với kết quả vượt trội so với chỉ tiêu đề ra, nhiều kết quả của các đề tài nghiên cứu trong Chương trình đã kịp thời được chuyển giao.

Tính đến hết tháng 6/2021, đã có 51 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia thuộc Chương trình được triển khai thực hiện, với tổng kinh phí là 176 tỷ đồng. Giai đoạn 2016-2020, Chương trình đã xây dựng được nhiều mô hình ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ có hiệu quả, quy mô phù hợp với điều kiện sinh thái cho 34 tỉnh, thành phố vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Trong số đó, thực hiện được 30 mô hình sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị; 14 mô hình ứng dụng công nghệ thông tin; 27 mô hình ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, hỗ trợ tạo việc làm cho trên 2.000 lao động thường xuyên và 5.000 lao động thời vụ; đã chuyển giao được 1.106 lượt công nghệ mới, tiên tiến, phù hợp với từng vùng miền, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi...

Bên cạnh đó, nhiều chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cũng được ban hành như: Thông tư số 07/2016/TT-BKHCN quy định quản lý Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025; Thông tư số 348/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định quản lý tài chính thực hiện Chương trình...

Nâng cao hiệu quả hỗ trợ vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Nhằm tiếp tục góp phần thúc đẩy phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, tháng 7 vừa qua, Bộ Khoa học và công nghệ và Ủy ban Dân tộc đã ký kết Chương trình phối hợp hoạt động giai đoạn 2021-2030. Theo đó, hai bên tập trung tham mưu có hiệu quả cho Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ các giải pháp, biện pháp về khoa học và công nghệ để góp phần triển khai tổ chức thực hiện thành công chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nâng cao nhận thức, trình độ năng lực về khoa học và công nghệ cho cán bộ làm công tác dân tộc, khoa học và công nghệ trong việc xây dựng, thực hiện chính sách dân tộc; tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho đồng bào các dân tộc thiểu số, người dân vùng dân tộc thiểu số và miền núi về vai trò của khoa học và công nghệ, đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và giảm nghèo bền vững; đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, nhất là các tiến bộ khoa học và công nghệ mới, phù hợp với đặc điểm đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi phục vụ xây dựng chiến lược, chương trình, đề án, dự án, chính sách phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước.

Phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Bài 1) ảnh 2Hệ thống tưới nước tiết kiệm cho cây thanh long của đồng bào Chăm ở xã Phong Phú, huyện Tuy Phong (Bình Thuận). Ảnh: An Hiếu

Tháng 5 vừa qua, Ủy ban Dân tộc cũng đang xây dựng, đề xuất tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách Trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030. Theo đó, ưu tiên bố trí vốn cho vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, có đông đồng bào dân tộc thiểu số, các xã an toàn khu, xã biên giới thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi, góp phần thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển, thu nhập và mức sống của dân cư giữa các vùng, miền trong cả nước.

Bên cạnh đó, Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình nông thôn miền núi giai đoạn 2016-2025, nhằm tăng cường các dự án có liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trực tiếp sản xuất, doanh nghiệp trở thành hạt nhân giúp nông dân cùng phát triển trong mối liên kết chuỗi giá trị sản xuất hàng hóa. Đặc biệt, Chương trình thúc đẩy ứng dụng các thành tựu công nghệ thông tin truyền thông, góp phần thiết thực phát triển nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là nông nghiệp công nghệ cao. (Xem tiếp Bài 2: Hình thành nhiều dự án, cây trồng đặc sản địa phương)

HL

HL ((TTXVN))

Có thể bạn quan tâm

Thay đổi tập quán, giảm nguy cơ bệnh dại

Thay đổi tập quán, giảm nguy cơ bệnh dại

Hiện nay, tập quán nuôi chó thả rông, không xích nhốt và không đeo rọ mõm, đặc biệt tại khu vực nương rẫy trên địa bàn thành phố Đồng Nai vẫn còn rất phổ biến. Thực trạng này đã tạo điều kiện thuận lợi cho virus dại lây truyền chéo giữa động vật hoang dã, chó thả rông và đàn chó nuôi tại các hộ gia đình.

Di dời dân ở Trà Leng khỏi vùng sạt lở

Di dời dân ở Trà Leng khỏi vùng sạt lở

Trà Leng là vùng đất nổi tiếng với danh xưng “cao sơn ngọc quế” nhưng nơi đây cũng thường được nhắc đến như vùng “tâm chấn sạt lở” ở khu vực miền núi phía Tây thành phố Đà Nẵng.

Tiếp tục sụt lún trên Quốc lộ 28, Lâm Đồng

Tiếp tục sụt lún trên Quốc lộ 28, Lâm Đồng

Trước diễn biến phức tạp của tình trạng sụt lún và nứt gãy tại đoạn Km136+800 - Km136+900 trên tuyến Quốc lộ 28, khu vực giáp ranh giữa xã Phúc Thọ Lâm Hà và xã Tà Đùng, lực lượng chức năng tỉnh Lâm Đồng đang khẩn trương triển khai các biện pháp đảm bảo an toàn giao thông.

Đồng lòng giữ mái Nhà rông

Đồng lòng giữ mái Nhà rông

Từ xa xưa, nhà rông đã là không gian sinh hoạt chung, là biểu tượng văn hóa của buôn làng các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Ngày 28/10, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hóa tổ chức khánh thành Khu văn hóa - thể thao “Thắm tình quân - dân”, mô hình “Dân vận khéo” tại bản Muống, xã vùng cao biên giới Sơn Thủy. 

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Gần 20 năm trước, từ cuối năm 2007, để phục vụ dự án Nhà máy thủy điện Sơn La - công trình trọng điểm quốc gia, hàng trăm hộ dân xã Mường Chiên, huyện Quỳnh Nhai (cũ), tỉnh Sơn La đã nhường đất, rời nơi chôn rau cắt rốn, chuyển đến các điểm tái định cư mới trên địa bàn xã Bình Thuận.

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Giữa những dãy núi đá tai mèo trùng điệp nơi cao nguyên đá Đồng Văn (Tuyên Quang), tình đồng đội vẫn bền chặt theo năm tháng, tiếp tục được nối dài qua những việc làm thiết thực khi người lính trở về với cuộc sống đời thường. Bằng những việc làm thiết thực, cán bộ, nhân viên Ban Chỉ huy Quân sự xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang đang tiếp thêm động lực cho quân nhân xuất ngũ phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống, góp phần tô thắm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân.

Tuyên Quang tiếp thu, khắc phục ô nhiễm tại bãi rác ở Cốc Pảng

Tuyên Quang tiếp thu, khắc phục ô nhiễm tại bãi rác ở Cốc Pảng

Chiều 26/10, ông Nguyễn Đình Phúc, Chủ tịch UBND xã Du Già (Tuyên Quang) đã ký văn bản số 1844/UBND-KT gửi Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) và Cơ quan thường trú TTXVN tại Tuyên Quang về việc tiếp thu, khắc phục thông tin phản ánh về tình trạng ô nhiễm môi trường tại bãi rác thôn Cốc Pảng.