Phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Bài cuối)

Người dân xã Quang Huy, huyện Phù Yên (Sơn La) sử dụng máy móc để thu hoạch lúa hữu cơ. Ảnh: Hữu Quyết – TTXVN
Người dân xã Quang Huy, huyện Phù Yên (Sơn La) sử dụng máy móc để thu hoạch lúa hữu cơ. Ảnh: Hữu Quyết – TTXVN

Ðể khoa học và công nghệ luôn được coi là giải pháp then chốt, thúc đẩy năng suất, chất lượng hàng nông sản và hiệu quả trong phát triển kinh tế đia phương, đặc biệt là vùng dân tộc thiểu số và miền núi, cần thêm các chính sách mang tính đột phá, các chính sách ưu đãi đặc thù cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi để chuyển khó khăn thành cơ hội, tạo ra sự đột phá trong phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường. Chương trình Nông thôn miền núi và ngân sách bố trí hằng năm mới đáp ứng được một phần thực tế, nên các địa phương còn gặp rất nhiều khó khăn. Phóng viên TTXVN giới thiệu bài cuối trong loạt 3 bài viết: Phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Bài cuối - Chuyển khó khăn thành cơ hội để bứt phá

Chuyển khó khăn thành cơ hội phát triển

Nhiều ý kiến cho rằng, hoạt động ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, ở khu vực miền núi chưa thật sự tương xứng với tiềm năng. Theo báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ, số lượng dự án phê duyệt phụ thuộc vào mục tiêu, nội dung của Chương trình Nông thôn miền núi và tình hình ngân sách, nên chỉ đáp ứng được một số lượng nhất định đề xuất dự án từ địa phương.

Ðể Chương trình khoa học và công nghệ phục vụ nông thôn miền núi giai đoạn 2021-2025 được thực hiện hiệu quả, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Hoàng Giang cho rằng, các Sở Khoa học và Công nghệ cần tăng cường hơn nữa vai trò tham mưu cho UBND các tỉnh, thành phố trong việc đề xuất dự án để bảo đảm lựa chọn trúng các vấn đề cấp thiết tại địa phương, lựa chọn đúng đơn vị có năng lực thực hiện dự án. Xây dựng dự án phải chủ động từ khâu sản xuất giống, vùng nguyên liệu, chế biến ra sản phẩm cuối cùng và phải gắn với thị trường tiêu thụ nhằm ổn định sản xuất. Các mô hình phải phát huy tối đa các lĩnh vực là thế mạnh của các địa phương.

Phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Bài cuối) ảnh 1Người dân xã Quang Huy, huyện Phù Yên (Sơn La) sử dụng máy móc để thu hoạch lúa hữu cơ. Ảnh: Hữu Quyết – TTXVN

Bên cạnh đó, để hoạt động khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển các sản phẩm hàng hóa theo chuỗi liên kết gắn với thị trường, góp phần tạo bước đột phá trong thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội và môi trường vùng dân tộc thiểu số và miền núi, thời gian tới, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các bộ, ngành xây dựng, điều chỉnh các chính sách để triển khai thực hiện tốt Nghị quyết số 88/2019/QH14 "Tăng cường nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ; xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi để phục vụ công tác dự báo, hoạch định, quản lý thực hiện chính sách dân tộc" và Nghị quyết số 12/NQ-CP của Chính phủ về các giải pháp ứng dụng khoa học và công nghệ trong thực hiện các dự án của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030.

Ðối với các địa phương, lựa chọn các giải pháp đột phá dựa trên những tiềm năng, lợi thế của mình, đầu tư phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ để chuyển khó khăn thành cơ hội, chú trọng đổi mới phương thức xây dựng mô hình trình diễn; nâng cao năng lực cho người dân, tổ hợp tác sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp.

Hiện các địa phương đều sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, trong đó khuyến khích liên kết giữa người dân và doanh nghiệp, vừa bao tiêu được sản phẩm đầu ra, tạo ra được vùng nguyên liệu hàng hóa và quan trọng hơn là mối liên kết đó bền vững hơn.

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, trong mối liên kết chặt chẽ giữa 4 nhà (nhà quản lý-nhà khoa học-nhà doanh nghiệp-nhà nông) thì doanh nghiệp là chủ thể quan trọng thúc đẩy thành công ứng dụng khoa học và công nghệ, tiếp cận các công nghệ mới, lập kế hoạch sản xuất, mô hình tổ chức kinh doanh, đến đầu tư cơ sở hạ tầng và huy động vốn, đầu mối thu mua, chế biến, xây dựng thương hiệu và tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời, các địa phương khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của địa phương, trước hết là hướng dẫn người dân từng bước thay đổi nhận thức, tiếp tục thâm canh tăng vụ, nâng cao hệ số sử dụng đất và giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp. Ðây cũng là cách nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa… Ðiều này đòi hỏi sự vào cuộc và gắn kết chặt chẽ giữa chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội như hội nông dân, hội phụ nữ, đoàn thanh niên… trên địa bàn để biến khó khăn thành cơ hội.

Hiệu quả thiết thực về kinh tế-xã hội và môi trường

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Hoàng Giang nhấn mạnh: Hiệu quả ứng dụng khoa học và công nghệ của các dự án đã góp phần cải thiện chất lượng sản phẩm, tăng năng suất, tăng thu nhập cho nông dân, hướng đến sản xuất nông nghiệp sạch, thân thiện với môi trường. Các dự án cũng góp phần tham gia thị trường công nghệ, tăng cường sự hợp tác giữa địa phương với các đơn vị nghiên cứu chuyển giao công nghệ; cải thiện một số tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới.

Hầu hết các dự án đều đưa lại hiệu quả kinh tế trực tiếp một cách rõ rệt cho tổ chức chủ trì, thể hiện sự gia tăng doanh thu và lợi nhuận so với trước khi thực hiện dự án hoặc so với đơn vị không thực hiện dự án. Cơ chế đầu tư của Chương trình đã tạo ra phương thức thu hút nguồn vốn xã hội đầu tư cho sản xuất bằng việc yêu cầu bắt buộc phải có kinh phí đối ứng khi tổ chức chủ trì thực hiện dự án. Với cơ chế này, trong giai đoạn 2016-2020, Chương trình đã thu hút được hơn 1.800 tỷ đồng kinh phí từ nguồn vốn tự có của tổ chức chủ trì và các nguồn kinh phí khác để phục vụ sản xuất.

Phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Bài cuối) ảnh 2Anh Nguyễn Đăng Vương (Quảng Trị) xay chế phẩm để ủ men vi sinh làm thức ăn cho gia súc, gia cầm. Ảnh: Thanh Thủy-TTXVN

Các dự án được thực hiện thành công đã tạo ra sản phẩm xuất khẩu hay sản phẩm thay thế sản phẩm nhập khẩu; việc ứng dụng công nghệ tiên tiến tạo ra sản phẩm mới có thể làm thay đổi cơ cấu sản xuất của một đơn vị sản xuất hay của một vùng sản xuất. Đặc biệt, các dự án đã mang lại hiệu quả kinh tế gián tiếp rất quan trọng, đó là hiệu ứng lan tỏa các dự án được Chương trình nông thôn miền núi hỗ trợ thực hiện đã xây dựng các mô hình sản xuất là những hình mẫu về ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ có tính đại diện cho địa bàn triển khai.

Về hiệu quả xã hội, các dự án triển khai thu hút được nhiều lao động tham gia sản xuất, nhất là khi các mô hình áp dụng khoa học và công nghệ được lan tỏa nhân rộng, tăng thu nhập cho doanh nghiệp và người dân tham gia dự án. Các dự án góp phần sản xuất bền vững, bình ổn giá nông sản. Vì thế, các mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ nhanh chóng được nhân rộng, góp phần quan trọng vào việc xóa đói giảm nghèo ở các vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Bài cuối) ảnh 3Anh Nguyễn Đức Thành (sinh năm 1998, thôn Hiệp Hòa, xã Quảng Hiệp, huyện Cư M’Gar, tỉnh Đắk Lắk) đã khởi nghiệp thành công với nông nghiệp hữu cơ và mô hình “Nuôi tôm càng xanh trên đất Tây Nguyên”. Ảnh: Hoài Thu – TTXVN

Đặc biệt, các dự án đã mang lại hiệu quả môi trường khi tận dụng được các phế phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp (rơm rạ, bã mía, mùn cưa…) để sản xuất thành sản phẩm có giá trị sử dụng và trở thành hàng hóa bán ra thị trường. Qua đó, không chỉ doanh nghiệp sản xuất mà cả người dân sẽ có ý thức tận dụng, thu gom để cấp cho dự án, vừa có tác dụng tăng thu nhập, vừa góp phần giảm thiểu sự ô nhiễm môi trường nông thôn. Bên cạnh đó, các dự án sản xuất gạch không nung đã góp phần phát triển sản xuất và sử dụng vật liệu không nung để thay thế gạch đất sét nung, tiết kiệm đất nông nghiệp, giảm thiểu khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính và ô nhiễm môi trường, giảm chi phí xử lý phế thải của các ngành công nghiệp, tiết kiệm nhiên liệu than, đem lại hiệu quả kinh tế chung cho toàn xã hội. Các dự án sản xuất rau, quả, chăn nuôi lợn, gia cầm an toàn theo VietGap, an toàn hữu cơ không chỉ giúp tạo ra sản phẩm an toàn, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng, mà còn giúp giảm thiểu một lượng lớn thuốc bảo vệ thực vật, các chất hóa học ra môi trường, giảm phát thải từ sản xuất ra môi trường. Ngoài ra, các dự án xử lý nước, cấp nước sạch, tưới tiết kiệm nước đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe, cải thiện điều kiện sinh hoạt cho người dân, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước cho những khu vực khí hậu khô hạn…

HL

HL ((TTXVN))

Có thể bạn quan tâm

Thay đổi tập quán, giảm nguy cơ bệnh dại

Thay đổi tập quán, giảm nguy cơ bệnh dại

Hiện nay, tập quán nuôi chó thả rông, không xích nhốt và không đeo rọ mõm, đặc biệt tại khu vực nương rẫy trên địa bàn thành phố Đồng Nai vẫn còn rất phổ biến. Thực trạng này đã tạo điều kiện thuận lợi cho virus dại lây truyền chéo giữa động vật hoang dã, chó thả rông và đàn chó nuôi tại các hộ gia đình.

Di dời dân ở Trà Leng khỏi vùng sạt lở

Di dời dân ở Trà Leng khỏi vùng sạt lở

Trà Leng là vùng đất nổi tiếng với danh xưng “cao sơn ngọc quế” nhưng nơi đây cũng thường được nhắc đến như vùng “tâm chấn sạt lở” ở khu vực miền núi phía Tây thành phố Đà Nẵng.

Tiếp tục sụt lún trên Quốc lộ 28, Lâm Đồng

Tiếp tục sụt lún trên Quốc lộ 28, Lâm Đồng

Trước diễn biến phức tạp của tình trạng sụt lún và nứt gãy tại đoạn Km136+800 - Km136+900 trên tuyến Quốc lộ 28, khu vực giáp ranh giữa xã Phúc Thọ Lâm Hà và xã Tà Đùng, lực lượng chức năng tỉnh Lâm Đồng đang khẩn trương triển khai các biện pháp đảm bảo an toàn giao thông.

Đồng lòng giữ mái Nhà rông

Đồng lòng giữ mái Nhà rông

Từ xa xưa, nhà rông đã là không gian sinh hoạt chung, là biểu tượng văn hóa của buôn làng các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Ngày 28/10, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hóa tổ chức khánh thành Khu văn hóa - thể thao “Thắm tình quân - dân”, mô hình “Dân vận khéo” tại bản Muống, xã vùng cao biên giới Sơn Thủy. 

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Gần 20 năm trước, từ cuối năm 2007, để phục vụ dự án Nhà máy thủy điện Sơn La - công trình trọng điểm quốc gia, hàng trăm hộ dân xã Mường Chiên, huyện Quỳnh Nhai (cũ), tỉnh Sơn La đã nhường đất, rời nơi chôn rau cắt rốn, chuyển đến các điểm tái định cư mới trên địa bàn xã Bình Thuận.

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Giữa những dãy núi đá tai mèo trùng điệp nơi cao nguyên đá Đồng Văn (Tuyên Quang), tình đồng đội vẫn bền chặt theo năm tháng, tiếp tục được nối dài qua những việc làm thiết thực khi người lính trở về với cuộc sống đời thường. Bằng những việc làm thiết thực, cán bộ, nhân viên Ban Chỉ huy Quân sự xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang đang tiếp thêm động lực cho quân nhân xuất ngũ phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống, góp phần tô thắm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân.

Tuyên Quang tiếp thu, khắc phục ô nhiễm tại bãi rác ở Cốc Pảng

Tuyên Quang tiếp thu, khắc phục ô nhiễm tại bãi rác ở Cốc Pảng

Chiều 26/10, ông Nguyễn Đình Phúc, Chủ tịch UBND xã Du Già (Tuyên Quang) đã ký văn bản số 1844/UBND-KT gửi Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) và Cơ quan thường trú TTXVN tại Tuyên Quang về việc tiếp thu, khắc phục thông tin phản ánh về tình trạng ô nhiễm môi trường tại bãi rác thôn Cốc Pảng.