Sử thi “Đẻ đất đẻ nước” của người Mường với sự tích trống đồng

Sử thi “Đẻ đất đẻ nước” của người Mường với sự tích trống đồng
Vua Dịt Dàng giàu có quyền thế nhưng lại chưa có trống đồng bèn sai người xuống vua nước mượn trống về. Vua sai thợ lấy trống đó làm mẫu đúc nhưng không được. Vua phải cho đi đón thợ từ nơi khác về vẫn không xong. Cuối cùng thợ phải niệm chú vào củ gừng, nhai vào mồm rồi phun vào nước đồng mới đúc được trống tốt. Vua Dịt Dàng vui mừng, cho chọn trống tốt cho vào kho, còn lại đem đi chợ bán cho kẻ sang người cả”.

Khúc ca nói về trống đồng trên đây trong sử thi “Đẻ đất đẻ nước” của người Mường Bi – Mường Vang – Mường Thàng – Mường Động lan tỏa, rồi ở một số địa phương của Mường Hòa Bình xuất hiện truyền thuyết, dựa trên sử thi này, có đôi chút dị bản, được nhà dân tộc học nổi tiếng người Pháp Jean Cusinier ghi lại vào những năm 50 của thế kỷ trước: “Ngày xửa ngày xưa, Vua Dịt Dàng vì ở Kinh đô, nơi ngài có một cung điện lớn và nhiều cung nhỏ. Ngài có nhiều quân, bởi ngài có nhiều quyền thế. Ngài cho gọi thợ đến cưa cây đẽo gỗ dựng kho chứa thóc, gạo, trầu, cau, vàng, bạc, đồng, cất kiệu, lọng, làm chuồng trâu, bò, voi ngựa, dựng trại cho quân tướng hùng hậu của ngài.

Nàng Ngà và nàng Ngân, hai em gái của ngài, một hôm ra suối gội đầu, khi chải đầu nhìn về phía Đông, bỗng thấy một chiếc trống đồng trên mặt biển và dạt vào bờ cát.

Vua Dịt Dàng sai người vớt chiếc trống đồng lên mang tới chỗ mình rồi lệnh cho gọi thợ khéo bốn phương đến đúc 1960 chiếc trống, ban phát cho các nhà Lang, mỗi nhà một chiếc.”
 
Khu mộ đá Đống Thếch ở Kim Bôi, Hòa Bình, tương truyền là nơi chôn cất các quan lang người Mường. Ảnh: wikiwand.com
Khu mộ đá Đống Thếch ở Kim Bôi, Hòa Bình, tương truyền là nơi chôn cất các quan lang người Mường. Ảnh: wikiwand.com

Như vậy, dựa trên sử thi và truyền thuyết, nhiều người nghĩ rằng, trống đồng nói chung và trống đồng Đông Sơn nói riêng, chủ nhân đúc ra chúng là người Mường. Tuy nhiên, câu chuyện không dừng lại như thế mà còn đi xa hơn nữa, do truyền thuyết và sử thi nêu trên ảnh xạ một cốt lõi lịch sử cổ xưa hơn. Đó là lịch sử của Vua An Dương Vương, trị vì đất nước Âu Lạc vào những năm 207-179 Trước Công nguyên. Ông chính là người đã cho đúc trống và ban phát trống đồng. Người lo đúc trống và sau trở thành thần trống của người Lạc Việt là Cao Lỗ, vị tướng phụ trách Bộ Công của nước Âu Lạc.

Sự logic để gắn kết sử thi, truyền thuyết với kết luận trên còn là một quãng cách khá dài, với những suy luận bắc cầu và viện dẫn nhiều tài liệu ngôn ngữ, lịch sử, khảo cổ học và dân tộc học, theo đó, khó có thể trình bày trong một bài viết ngắn. Ở đây, tôi vẫn chỉ dựa vào truyền thuyết và sử thi để triển khai quan điểm và suy nghĩ của mình, xem có hay không chủ nhân đúc trống đồng là người Mường?

Trong rất nhiều các bài viết trước đây về trống đồng và gốm sứ, tôi chưa bao giờ nghĩ đến người Mường có kỹ thuật luyện kim và đúc đồng. Cộng đồng này cũng không biết làm gốm và kinh tế chủ yếu của người Mường là nông nghiệp làm rẫy và trồng lúa nước ở những thung lũng hẹp với dệt vải và làm thổ cẩm, để trợ giúp cho kinh tế nông nghiệp vốn hay thất bát bởi khí hậu khắt nghiệt. Khai quật những ngôi mộ của các Lang Cun, Lang Đạo Mường ở Bi – Vang – Thàng – Động, đồ tùy táng gốm sứ chủ yếu của họ đều được mua từ người Kinh dưới xuôi và nhập khẩu từ các lò gốm Nam Trung Hoa, Nhật Bản, Chăm Pa, Thái Lan... Các Lang Cun giàu có, mộ của họ cũng có chôn theo trống đồng và truyền thuyết rằng, đám ma của quý tộc Mường có đánh trống, theo đó, việc cất giữ trống đồng trong các nhà Lang để truyền đời đã từng xảy ra trong xã hội Mường cổ xưa và kéo dài cho tới tận trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là trống loại II, theo phân loại của F.Heger – một học giả Áo đầu thế kỷ 19. Những trống đồng ấy có niên đại thiên niên kỷ I Sau Công nguyên và kéo dài tới tận thời Lý, Trần, Lê, với rất nhiều họa tiết hoa văn có trên đồ đồng, đồ gốm, đồ đá của người Việt (Kinh) cùng thời.
Một số vật gia dụng và đồ tế lễ trưng bày trong Lễ hội Văn hóa Mường tại Hòa Bình. Ảnh: vi.wikipedia.org
Một số vật gia dụng và đồ tế lễ trưng bày trong Lễ hội Văn hóa Mường tại Hòa Bình. Ảnh: vi.wikipedia.org

Như vậy, người Mường không đúc trống nhưng cộng đồng này có sử dụng trống đồng là hoàn toàn sự thật. Tuy nhiên, việc sở hữu và sử dụng trống đồng chỉ có trong tầng lớp quý tộc nhà Lang – Những người có quyền thế, giàu có và được chiều chuộng từ chính quyền phong kiến Trung ương, đặc biệt là Triều Lê sơ và Lê - Trung hưng. Trống đồng đến với họ từ hai nguồn, đó là phong tặng của Triều đình và của hồi môn của Công chúa gả bán cho các Lang Cun, nhằm ràng buộc họ với Triều đình để giữ yên biên viễn. Nguồn thứ hai là mua từ các thương nhân, mà Mo “Klong đông” (Mo trống đồng) đã phản ánh, với thương nhân thằng Lồi – chú khóa đem bán trống đồng ở các bản Mường.

Vậy thì, sử thi “Đẻ đất đẻ nước” với đoạn kể về sự tích trống đồng cùng những truyền thuyết về nó, rõ ràng không liên quan gì tới chủ nhân đúc trống là dân tộc Mường, kể từ khi dân tộc này tách ra khỏi Việt - Mường chung. Tôi cho rằng, sử thi, huyền tích, huyền thoại, truyện kể dân gian... đều được bao phủ bằng nhiều lớp mây mù và trong đó, có đôi phần cốt lõi lịch sử. Với sử thi Mường, với truyền thuyết Mường về trống đồng nói riêng và văn hóa, lịch sử nói chung, chắc chắn được bàn tay và khối óc của những thầy Mo – trí thức của cộng đồng sắp xếp, nên tính logic và cốt lõi lịch sử ảnh xạ qua đó tương đối đậm đặc. Đấy là chưa kể, dân tộc này sống liền kề với dân tộc Kinh, anh em gần gũi với nhau, nên những nhà Nho người Kinh hẳn cũng tham gia vào quá trình hoàn thiện sử thi, nên tính chặt chẽ, tính lịch sử không có mấy độ chênh. Đó là lưu ý của tác giả bài này đối với những người viết lịch sử, văn hóa và di sản.
 
Theo thegioidisan.vn

Có thể bạn quan tâm

Hương vị mùa vàng trong Lễ cơm mới của người Thái

Hương vị mùa vàng trong Lễ cơm mới của người Thái

Lễ cơm mới (Kin khảu máư) là nghi lễ truyền thống có ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào Thái. Hằng năm, vào khoảng tháng 5 - 6 theo lịch Thái, tương ứng với tháng 9 - 10 dương lịch, khi lúa ngoài đồng đã chín, thóc mới được đưa về đầy bồ, các gia đình tổ chức nghi lễ để mừng thành quả sau một mùa lao động.

Mường Lát: Gìn giữ bản sắc văn hóa gắn với phát triển sinh kế

Mường Lát: Gìn giữ bản sắc văn hóa gắn với phát triển sinh kế

Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc đang được xã Mường Lát xác định gắn với phát triển kinh tế xã hội, trong đó chú trọng phục dựng các giá trị truyền thống, phát huy vai trò của nghệ nhân, người có uy tín và xây dựng các mô hình du lịch cộng đồng.

Gìn giữ điệu múa kỳ lân truyền thống của người Nùng

Gìn giữ điệu múa kỳ lân truyền thống của người Nùng

Múa kỳ lân không chỉ tạo không khí rộn ràng trong những ngày lễ, Tết, mà còn thể hiện tinh thần thượng võ, khát vọng về cuộc sống bình an, no đủ của đồng bào Nùng. Loại hình nghệ thuật dân gian này đang được gìn giữ, quảng bá như một nét văn hóa đặc sắc của vùng cao Cao Bằng.

Lễ cầu mùa – nét văn hóa đặc sắc của người Nùng

Lễ cầu mùa – nét văn hóa đặc sắc của người Nùng

Lễ cầu mùa của người Nùng tại Cao Bằng được tổ chức vào “đắp nọi”, ngày cuối cùng của tháng Giêng âm lịch hằng năm. Nghi lễ truyền thống thể hiện lòng biết ơn thần linh, gửi gắm ước vọng về một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, bản làng bình an, no ấm.

Cô gái vùng cao Giàng Thị Sinh vượt khó, nuôi ước mơ trở thành cô giáo

Cô gái vùng cao Giàng Thị Sinh vượt khó, nuôi ước mơ trở thành cô giáo

Giàng Thị Sinh, cô gái dân tộc Mông vùng cao ở xã Sà Phìn (Tuyên Quang), đạt 27,31 điểm khối C00 trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 và trúng tuyển ngành Sư phạm Lịch sử - Địa lí, Trường Đại học Sư phạm 2 Hà Nội. Với Sinh, kết quả ấy là niềm vui sau những năm tháng cố gắng và cũng là bước đầu để em theo đuổi ước mơ trở thành cô giáo.

Độc đáo Lễ hội Thắk Côn Khmer giữa lòng Thủ đô

Độc đáo Lễ hội Thắk Côn Khmer giữa lòng Thủ đô

Lễ hội Thắk Côn là một lễ hội truyền thống có ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng Khmer tại thành phố Cần Thơ, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chính thức ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, ngày 3/6/2025.

Đẩy mạnh dạy tiếng dân tộc, nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh

Đẩy mạnh dạy tiếng dân tộc, nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh

Thực hiện đề án “Tăng cường dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 2025 - 2035, định hướng đến năm 2045”, năm 2027, An Giang tập trung nâng cao chất lượng dạy và học ngôn ngữ, chữ viết của đồng bào Khmer; tăng tốc nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh, tiếng Pháp; phát triển đội ngũ giáo viên, học liệu, cơ sở vật chất và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong dạy học ngoại ngữ. Tỉnh đồng thời chuẩn bị các điều kiện để triển khai một số ngoại ngữ khác như tiếng Nhật, tiếng Trung Quốc, tiếng Hàn theo nhu cầu thực tế.

Độc đáo bánh rây của đồng bào Khmer ở An Giang

Độc đáo bánh rây của đồng bào Khmer ở An Giang

Chiều 2/8/2026, trong khuôn khổ Ngày hội Bánh dân gian Nam Bộ - An Giang 2026 (phường Long Xuyên), các nghệ nhân người Khmer đã trình diễn chế biến bánh rây và phục vụ miễn phí 200 chiếc bánh cho người dân, du khách.

Bảo tồn nghề dệt thổ cẩm gắn với sinh kế và du lịch cộng đồng người Thái ở Yên Châu

Bảo tồn nghề dệt thổ cẩm gắn với sinh kế và du lịch cộng đồng người Thái ở Yên Châu

Ở tuổi ngoài 60, bà Hoàng Thị Thoát xã Yên Châu (Sơn La) vẫn miệt mài truyền dạy chữ Thái, dân ca và nghề dệt thổ cẩm cho thế hệ trẻ. Từ tâm huyết của người "giữ lửa", việc thành lập Tổ Phụ nữ dệt thổ cẩm xã Yên Châu đang mở ra hướng đi mới, đưa nghề truyền thống gắn với sinh kế và phát triển du lịch cộng đồng.

Đồng bào Khmer dâng y tắm mưa cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ

Đồng bào Khmer dâng y tắm mưa cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ

Sáng 26/7, tại chùa Khmer thuộc Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, đồng bào dân tộc Khmer đã tổ chức lễ dâng y tắm mưa kết hợp cầu siêu tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Đây là hoạt động ý nghĩa hướng tới Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" và tôn vinh nét đẹp văn hóa tâm linh đặc sắc của đồng bào dân tộc Khmer.

Giữ lửa bản sắc văn hóa Thái nơi biên viễn xứ Thanh

Giữ lửa bản sắc văn hóa Thái nơi biên viễn xứ Thanh

Giữa nhịp sống hiện đại, những điệu xòe, tiếng cồng chiêng và lời dân ca Thái vẫn hiện diện trong đời sống của đồng bào ở xã Mường Lát (Thanh Hóa). Từ sự tâm huyết của các nghệ nhân đến những chính sách hỗ trợ của địa phương, các giá trị văn hóa truyền thống đang được gìn giữ, trao truyền và từng bước trở thành nguồn lực cho phát triển cộng đồng.

Bảo tồn nghề dệt truyền thống gắn với tạo sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số

Bảo tồn nghề dệt truyền thống gắn với tạo sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số

Không chỉ lưu giữ nghề dệt thổ cẩm truyền thống của đồng bào dân tộc Thái, xưởng dệt Hoa Ban ở Bản Lác (xã Mai Hạ, tỉnh Phú Thọ) còn tạo việc làm cho phụ nữ yếu thế và người khuyết tật. Mô hình là điểm sáng trong bảo tồn văn hóa gắn với phát triển sinh kế theo Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Lễ Sơmă Kơcham gìn giữ bản sắc văn hóa người Bahnar

Lễ Sơmă Kơcham gìn giữ bản sắc văn hóa người Bahnar

Khi nương rẫy bắt đầu xanh tốt, đồng bào Bahnar tại xã Kông Chro, tỉnh Gia Lai lại rộn ràng tổ chức lễ Sơmă Kơcham, nghi lễ truyền thống nhằm cầu bình an, sức khỏe, mùa màng bội thu, củng cố tình đoàn kết trong cộng đồng.

Nét đẹp hiếu kính trong nghi lễ 'tôi chòng' của người Tày

Nét đẹp hiếu kính trong nghi lễ 'tôi chòng' của người Tày

Nghi lễ thay bàn thờ gia tiên, còn gọi là “tôi chòng”, của đồng bào dân tộc Tày vừa được tái hiện tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, giới thiệu tới công chúng nét đẹp tín ngưỡng gắn với đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.