Đất đá ở Mê cung được lắng đọng tương đối trẻ, cách nay khoảng 250 triệu năm. Loại đá này phân lớp dầy mỏng khác nhau, nên nứt vỡ chỗ dầy chỗ thưa. Chỗ dầy thì được nước quanh năm chạm trổ thành hoa đá. Chỗ thưa thì được nước đẽo gọt, mài mòn thành muôn hình vạn trạng. Nơi thì giống hình các con thuyền, thành quách, vòm đá, mũ đá... Nơi lại mang hình các loài vật linh thiêng. Đây là nơi cách bản Khâu Vai gần 2km, có đủ nước, đủ đất để sinh sống, có các vòm hang đủ rộng để ở, lại có phong cảnh gợi tình. Vì vậy, khu mê cung đá gắn bó mật thiết với chuyện tình Khâu Vai.
Tương truyền, ngày ấy, ở bản Khâu Vai có chàng Ba và nàng Út yêu nhau. Chàng Ba người dân tộc Nùng, khôi ngô tuấn tú, hát hay, thổi sáo giỏi nhưng nhà nghèo. Cô Út xinh đẹp là con một tộc trưởng người Giáy. Hai người yêu nhau nhưng gia đình cô Út không thuận vì chàng nghèo lại khác dân tộc, không cùng con ma, không cùng phong tục, con trai người Nùng không thể lấy con gái người Giáy làm vợ. Chàng và nàng bèn trốn nhà đưa nhau lên núi.
Họ đã đi, đi mãi, qua nhiều quả núi mà chẳng tìm được chỗ dừng chân. Thương tình đôi trai gái, Trời mới sai ông Luồng bà Luồng làm ra mê cung tình yêu.
Ông Luồng là người khổng lồ mới lấy tay nén đất từ Bắc xuống Nam, rồi từ Đông sang Tây. Lần đầu sinh ra các ngõ dọc. Lần sau đẻ ra các lối ngang với vô vàn đá dựng đá nghiêng. Còn bà Luồng thì tuôn mưa xuống, đẽo gọt đá thành muôn khối nghìn hình lạ mắt. Trong mê cung có hoa lá, có cảnh lạ, có cả hình nam nữ yêu nhau. Ai vào đấy khi ra cũng thấy mê say, rạo rực, yêu đời.
Gặp được mê cung chàng Ba và nàng Út như lạc vào một vườn tình rộng lớn, mỗi bước đi là một bước mê say. Nàng ríu rít với các bông hoa đá lạ mắt. Chàng trầm trồ cùng các dải đá kỳ thú, chỗ như thành lũy cổ có nghê đá, lân đá chầu phục, chỗ thì tựa như những con rồng đang nằm phơi nắng bên bờ khe nước. Rồi bước vào vườn tình giống như một động tiên, có nhiều hoa cỏ lạ, có góc riêng tư, có vòm che nắng mưa để mà tình tự. Rồi lại có cả cây trái để ăn, có mạch nước, giếng nước để mà đỡ khát. Chàng và nàng quấn quýt bên nhau chẳng rời. Chàng gẩy đàn thổi sáo, nàng thêu thùa canh cửi vui với đá hoa. Lạ thay còn có cả chó đá đến bầu bạn, lúc thì quanh quẩn dẫn đường, lúc thì lên núi cao quan sát cảnh giới. Cứ thế ngày tháng thoi đưa.
Rồi một hôm, tựa gốc đa nhìn về bản thấy gia đình họ tộc của chàng và của nàng đang xô xát dữ dội. Gia đình nàng vác súng kíp, cung nỏ sang nhà chàng, mắng nhiếc chàng phá lệ đưa cô Út lên rừng. Gia đình chàng cũng mang gậy gộc, súng, dao ra đáp lại. Biết rằng xung đột xô xát này là vì mình, cũng như hiểu được cảnh tình của bản, nỗi buồn tiếc trong lòng nàng và chàng vơi đi. Mê cung như tiếp thêm sức mạnh, niềm cảm thông và tình yêu thương con người, yêu quý quê hương trào dâng. Tình yêu lứa đôi xin đành gác lại. Chàng và nàng đành chia tay nhau về bản, hẹn nhau hằng năm cứ đến ngày này thì gặp lại, dù đã có con có cháu, dù có nên ông nên bà. Nơi họ ở giờ gọi là đồi chàng Ba. Nơi họ đứng nhìn về bản gọi là gò Cây Đa. Cây đa vẫn còn, hiện được gọi là Cây Đa nàng Út. Mỏm núi cao nơi có chó đá bầu bạn, canh giữ giờ được gọi là mỏm núiThần Cẩu. Giếng nước bên đường chia tay nhau giờ được gọi là giếng Lệ. Khi khuất đi, dân bản tôn kính, nhớ thương lập nên Miếu Ông, miếu Bà thờ cúng quanh năm.
Và cũng từ ngày ấy tình yêu từ mê cung đá, từ trời đất đã lan tỏa khắp con người Khâu Vai. Hằng năm cứ vào ngày 27 tháng 3 âm lịch, bà con cả vùng Khâu Vai, sau lễ thắp hương tưởng nhớ Ông Bà, lại cùng nhau gặp gỡ tâm tình, rồi mừng vui ca múa. Tình người Khâu Vai như sáng lên, ấm lên, lan tỏa khắp cao nguyên đá, lan tỏa ra mọi miền.
Hiện tại, khách du lịch có đường đi ngựa từ vào mê cung và về bản, rong ruổi ngắm cảnh rừng và thung lũng Khâu Vai trải dài tới sông Nho Quế. Rồi du khách xuống ngựa thắp nén hương thơm tại miếu Ông miếu Bà, tưởng nhớ tới những người mà câu chuyện tình của họ còn đẹp mãi với quê hương và thấm mãi với mê cung đá.