Tạo mọi điều kiện để bảo đảm quyền tự do tôn giáo

Với vị trí địa lý giáp biên giới Campuchia và lịch sử hình thành từ sự giao thoa văn hóa giữa các dân tộc Kinh, Khmer, Hoa, Chăm, An Giang đã trở thành mảnh đất cho nhiều đức tin khác nhau đồng hành, phát triển, tuân thủ nghiêm các quy định của pháp luật, sống “tốt đời, đẹp đạo”, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa đa dạng, hài hòa.

Dân tộc Chăm

Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...

Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.

Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).

Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh ThuậnBình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.

Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.

Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.

Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.

Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.

Vào dịp lễ Ramưwan, nam nữ người Chăm thường khoác lên mình trang phục truyền thống với nhiều sắc màu thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng người Chăm. Ảnh Nguyễn Thanh.jpg
Vào dịp lễ Ramưwan, nam nữ người Chăm thường khoác lên mình trang phục truyền thống với nhiều sắc màu thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng người Chăm. Ảnh Nguyễn Thanh

: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.

Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...

Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.

Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ. 

Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà. 

Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.

Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.

Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo. 

Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp. 

Thiếu nữ Chăm biểu diễn điệu múa truyền thống trong lễ hội Katê. Ảnh Nguyễn Thanh.jpg
Thiếu nữ Chăm biểu diễn điệu múa truyền thống trong lễ hội Katê. Ảnh Nguyễn Thanh

Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.  

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Chăm
Dân tộc Hoa

Tên gọi khác: Khách, Hán, Tàu.

Nhóm địa phương: Quảng Ðông, Quảng Tây, Hải Nam, Triều Châu, Phúc Kiến, Sang Phang, Xìa Phống, Thoòng Nhằn, Minh Hương, Hẹ...

Dân số: 823.071 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Hán (Ngữ hệ Hán - Tạng).

Lịch sử: Người Hoa di cư đến Việt Nam vào những thời điểm khác nhau từ thế kỷ XVI, và sau này vào cuối thời Minh, đầu thời Thanh, kéo dài cho đến nửa đầu thế kỷ XX.

Hoạt động sản xuất: Người Hoa ở vùng nông thôn chủ yếu sống bằng nghề nông, coi lúa nước là đối tượng canh tác chính. Ở các thành phố, thị xã, thị trấn họ làm nghề dịch vụ, buôn bán... Tiểu thủ công nghiệp khá phát triển như nghề gốm (Quảng Ninh, Sông Bé, Ðồng Nai), làm giấy súc, làm nhang (Thành phố Hồ Chí Minh)... Một bộ phận người Hoa cư trú ở ven biển sống chủ yếu bằng nghề làm muối và đánh cá. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, người Hoa luôn coi trọng chữ "tín".

Ăn: Lương thực chính là gạo, nhưng trong bữa ăn thường có các loại như mì sào, hủ tiếu... Ở các gia đình bình dân, buổi sáng điểm tâm bằng cháo trắng với trứng vịt muối, còn những nhà khá giả hơn là hủ tiếu, bánh bao, xíu mại... Người Hoa có kỹ thuật nấu ăn giỏi, thích các món ăn xào mỡ với gia vị.

Thức uống của người Hoa ngoài tác dụng giải khát còn là loại thuốc mát, bồi dưỡng "lục phủ, ngũ tạng". Các loại trà sâm, hoa cúc... là những thứ thông dụng trong mọi gia đình. Những dịp hội hè, lễ, tết nam giới cũng quen dùng rượu. Thuốc lá được nhiều người hút, kể cả phụ nữ, nhất kà những người phụ nữ có tuổi.

Mặc: Những trang phục gọi là truyền thống của người Hoa hiện chỉ còn thấy ở một số người có tuổi hay trong các nghi lễ cưới xin, tang ma. Phụ nữ thường mặc áo cổ viền cao, cài khuy một bên, xẻ tà cao hoặc một chiếc áo "sườn xám" may dài, ôm ngang hông, xẻ tà dưới phần đùi. Màu sắc trang phục của họ, nhất là các thiếu nữ thích màu hồng hoặc màu đỏ, cùng với các sắc màu đậm. Ðàn ông mặc áo màu đen hay xanh đậm, cài khuy vải một bên, vai liền cổ đứng, xẻ tà hoặc kiểu áo tứ thân, xẻ giữa, cổ đứng, vai liền, có túi. Phụ nữ thích dùng đồ trang sức, đặc biệt là vòng tay (bằng đồng, vàng, đá, ngọc...), bông tai, dây chuyền... Ðàn ông thích bịt răng vàng và xem như một lối trang sức.

: Những người làm nghề nông thường sống thành thôn xóm. Làng thường ở ven chân núi, trong cánh đồng, trải dài trên bờ biển, gần nguồn nước, giao thông thuận tiện. Trong làng, nhà ở bố trí sát nhau theo dòng họ. Ở thành thị họ thường sống tập trung trong các khu phố riêng.

Nhà cửa thường có 3 loại: nhà 3 gian hai chái, nhà chữ Môn và chữ Khẩu. Nhà thường xây bằng đá, gạch mộc hay trình đất, lợp ngói máng hay là quế, lá tre, phên lứa...

Nổi bật trong nhà ở là các bàn thờ tổ tiên, dòng họ, thờ Phật và các vị thần cùng các câu đối, liễn, các giấy hồng chữ Hán với nội dung cầu phúc, cầu lợi, cầu bình yên.

Quan hệ xã hội: Xã hội phân hoá giai cấp sâu sắc và mang tính phụ quyền cao.

Mối quan hệ với những người cùng họ được hết sức coi trọng. Mỗi một dòng họ có một từ đường để thờ cúng. Hàng năm vào một ngày nhất định, những người cùng họ tụ tập tại từ đường để làm lễ giỗ tộc họ. Những hoạt động kinh doanh, sản xuất thường có các hội nghề nghiệp tương ứng. Những hội này đều có một vị tổ và một ngày giỗ tổ trong năm.

Gia đình được xây dựng theo chế độ một vợ một chồng khá bền vững và mang tính phụ hệ. Người Hoa thường dựng vợ gả chồng cho con trong cùng một nhóm địa phương. Trưởng họ, ông mối, các chức dịch đóng vai trò khá quan trọng trong hôn nhân. Hiện nay, phụ nữ xây dựng gia đình khá muộn (tuổi cưới trung bình là 28, 30) và số con ít nhất (trung bình một phụ nữ sinh 2 hoặc 3 con).

Lễ tết: Trong một năm có nhiều ngày lễ tết: Nguyên đán, Nguyên tiêu, Thanh minh, Ðoan ngọ, Trung nguyên, Trung thu.

Tết Nguyên đán vào những năm cũ chuyển sang năm mới theo âm lịch và kéo dài tới ngày rằm tháng giêng (tết Nguyên tiêu). Lễ Nguyên tiêu là đặc trưng lễ tết của người Hoa, mọi hoạt động tập trung nhất của tín ngưỡng và văn hoá truyền thống đều được biểu hiện trong dịp này.

Thờ cúng: Nổi bật trong các tín ngưỡng dân gian là thờ cúng tổ tiên, gia tộc, dòng họ, thờ cúng các vị thần phù hộ (thần bếp, thổ địa, thần tài...) và một số vị thánh và bồ tát (Quan Công, bà Thiên Hậu, ông Bổn, Nam Hải Quan Âm...)

Hệ thống chùa miếu khá phát triển. Chùa miếu của người Hoa thường gắn liền với các hội quán, trường học. Ðó cũng là nơi sinh hoạt văn hoá cộng đồng, nơi diễn ra các hội lễ.

Học: Chữ Hán được dạy và học trong các trường phổ thông.

Văn nghệ: Sinh hoạt văn hoá truyền thống của người Hoa có nhiều thể loại như hát, múa, hài kịch... với nhiều loại nhạc cụ: tiêu, sáo, các loại đàn (tỳ bà, nhị, nguyệt...), chập choã... Hát "sơn ca" (sán cố) là hình thức được nhiều người ưa chuộng, nhất là tầng lớp thanh niên. Tổ chức văn nghệ dân gian truyền thống mang tính nghiệp dư đã có từ lâu là các "nhạc xã".

Múa lân, sư tử, rồng... là những loại hình nghệ thuật mang tính quần chúng sâu rộng được trình diễn hàng năm, vào những ngày lễ lớn, ngày lễ tết.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Hoa
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Công nghệ số thúc đẩy phát triển du lịch cộng đồng

Công nghệ số thúc đẩy phát triển du lịch cộng đồng

Trong những năm gần đây, du lịch cộng đồng tại Lai Châu đang dần khẳng định là hướng đi hiệu quả, góp phần tạo sinh kế bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân, nhất là ở các xã vùng cao, biên giới còn nhiều khó khăn. Trong hành trình đó, sự xuất hiện của công nghệ 4.0 đã và đang mang đến những thay đổi rõ nét.

Bộ đội sát cánh cùng người dân phát triển sinh kế

Bộ đội sát cánh cùng người dân phát triển sinh kế

Tỉnh Điện Biên đang triển khai chiến dịch trồng mới cà phê, mắc ca trên quy mô lớn. Điểm nhấn là sự vào cuộc của lực lượng bộ đội trực tiếp xuống cơ sở, hỗ trợ người dân đào hố, chuẩn bị đất cho mùa trồng mới, góp phần tạo khí thế thi đua và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.

Đặc sắc lễ hội té nước tại bản Pa Xa Lào

Đặc sắc lễ hội té nước tại bản Pa Xa Lào

Lễ Khăm bản hay còn gọi là Hội té nước tại bản Pa Xa Lào, xã Thanh Yên (tỉnh Điện Biên) là một trong những lễ hội truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc Lào. Đây không chỉ là dịp để người dân cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, mà còn là thời khắc thiêng liêng để gắn kết cộng đồng, gìn giữ bản sắc văn hóa lâu đời.

Mô hình kinh tế hiệu quả cho vùng dân tộc thiểu số

Mô hình kinh tế hiệu quả cho vùng dân tộc thiểu số

Trong những năm gần đây, tận dụng lợi thế đồi vườn với nguồn thức ăn sẵn có nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã phát triển mạnh mô hình nuôi gà thả vườn hiệu quả rõ rệt, giúp phát triển kinh tế hộ gia đình và từng bước thay đổi diện mạo nông thôn miền núi.

Đồng bào dân tộc Khmer thu hoạch nông sản đón Tết Chôl Chnăm Thmây

Đồng bào dân tộc Khmer thu hoạch nông sản đón Tết Chôl Chnăm Thmây

Tết Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer năm nay đang diễn ra. Thời điểm này, nhiều loại nông sản vụ Đông Xuân bước vào thu hoạch rộ. Trên các cánh đồng ở xã Long Hiệp (tỉnh Vĩnh Long), bà con Khmer vẫn tất bật ra đồng, tranh thủ từng ngày công để kịp thu hoạch hoàn tất trước ngày lễ chính (16/4), vừa đảm bảo sản xuất, vừa đón Tết trọn vẹn.

Điện Biên tăng cường phòng cháy rừng cao điểm mùa khô

Điện Biên tăng cường phòng cháy rừng cao điểm mùa khô

Tỉnh Điện Biên đang vào cao điểm mùa khô, nhiều khu vực ở cấp dự báo cháy rừng cấp V - cấp cực kỳ nguy hiểm. Trong điều kiện nắng nóng kéo dài, độ ẩm thấp, nguy cơ cháy rừng luôn thường trực, đòi hỏi các giải pháp phòng cháy phải được triển khai quyết liệt ngay từ cơ sở.

Đảm bảo cây giống, sẵn sàng cho trồng rừng năm 2026

Đảm bảo cây giống, sẵn sàng cho trồng rừng năm 2026

Để đảm bảo cây giống cung cấp cho các địa phương trồng rừng năm 2026, Trung tâm Phát triển Nông, lâm, nghiệp và Thủy sản Khu vực Hòa Bình đã chủ động chuẩn bị 5 giống cây keo lai, bạch đàn nuôi cấy mô và một số loại cây như dổi ăn hạt, trám đen ghép là những loại cây bản địa phát triển, phân bố tự nhiên tại địa phương, phù hợp với đất đai, khí hậu và gần gũi với cuộc sống người dân.

Nét đẹp Lễ hội Rija Nagar của đồng bào Chăm ở Khánh Hòa

Nét đẹp Lễ hội Rija Nagar của đồng bào Chăm ở Khánh Hòa

Trong không khí rộn ràng của những ngày đầu năm mới theo lịch Chăm, chiều 15/4, tại sân vận động thôn Như Ngọc, xã Phước Hữu, tỉnh Khánh Hòa đã diễn ra hoạt động chào mừng Lễ hội Rija Nagar 2026. Sự kiện thu hút đông đảo người dân và du khách đến tham dự, góp phần tôn vinh và gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống độc đáo.

Mã số vùng trồng, nâng tầm nông sản xuất khẩu

Mã số vùng trồng, nâng tầm nông sản xuất khẩu

Tại Quảng Trị, việc cấp mã số vùng trồng không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý mà còn mở ra cánh cửa xuất khẩu bền vững cho nông sản địa phương. Đây được xem là “giấy thông hành” quan trọng, giúp nông sản Quảng Trị vươn ra thị trường quốc tế, khẳng định chất lượng và thương hiệu.

Vườn Quốc gia Hoàng Liên tăng cường phòng, chống cháy rừng mùa khô

Vườn Quốc gia Hoàng Liên tăng cường phòng, chống cháy rừng mùa khô

Trước diễn biến thời tiết cực đoan, nắng nóng kéo dài, độ ẩm giảm thấp, nguy cơ cháy rừng tại Lào Cai ở mức cao. Tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng đang được triển khai đồng bộ, chủ động và quyết liệt, góp phần bảo vệ diện tích rừng và hệ sinh thái.

Phát triển hợp tác xã theo hướng liên kết sản xuất, tiêu thụ

Phát triển hợp tác xã theo hướng liên kết sản xuất, tiêu thụ

Những năm qua, kinh tế tập thể, hợp tác xã ở tỉnh Cao Bằng đã có nhiều sự phát triển, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Hiện nay, các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh đang tiếp tục thay đổi tích cực với những cách làm mới, sáng tạo hơn, hướng đến phát triển lâu dài, bền vững.

Siết quản lý an toàn thực phẩm trước nguy cơ ngộ độc gia tăng

Siết quản lý an toàn thực phẩm trước nguy cơ ngộ độc gia tăng

Thời gian gần đây, tại Đắk Lắk liên tiếp ghi nhận các vụ ngộ độc thực phẩm và gia tăng các ca bệnh đường tiêu hóa. Thời tiết nắng nóng, độ ẩm cao đang tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, khiến nguy cơ mất an toàn thực phẩm luôn hiện hữu.

Chìa khóa gắn kết tình quân dân biên giới tại Lạng Sơn

Chìa khóa gắn kết tình quân dân biên giới tại Lạng Sơn

Khu vực biên giới tỉnh Lạng Sơn có 11 xã có 72 thôn giáp biên. Một trong những “chìa khóa” để kết nối tình quân dân thêm bền chặt được lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn triển khai hiệu quả là sử dụng tiếng dân tộc thiểu số trong công tác tuyên truyền, vận động quần chúng.

Nắng nóng làm cháy hàng trăm hecta mía của nông dân

Nắng nóng làm cháy hàng trăm hecta mía của nông dân

Nắng nóng kéo dài trong nhiều ngày qua khiến cho hàng trăm hecta mía của nông dân tỉnh Đắk Lắk đang đến kỳ thu hoạch bị cháy, gây thiệt hại nặng. Nhiều đám cháy xảy ra với quy mô lớn khiến công tác dập lửa gặp khó khăn.

Dang dở các dự án xây trường học tại vùng biên giới Thanh Hóa

Dang dở các dự án xây trường học tại vùng biên giới Thanh Hóa

Dù được đầu tư xây mới, hàng loạt trường học tại các xã biên giới Thanh Hóa (Tam Chung, Quang Chiểu, Mường Lý) vẫn rơi vào tình trạng dang dở dang sau khi chuyển giao chủ đầu tư do thực hiện mô hình chính quyền hai cấp mới. Việc chậm tiến độ kéo dài đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác dạy và học của thầy trò vùng biên.

Triển khai đoạn tuyến mới cao tốc Tuyên Quang – Hà Giang

Triển khai đoạn tuyến mới cao tốc Tuyên Quang – Hà Giang

Tại Tuyên Quang, công tác giải phóng mặt để phục vụ dự án xây dựng mới đoạn tuyến thuộc cao tốc Tuyên Quang - Hà Giang, đang được địa phương tập trung triển khai quyết liệt. Đoạn tuyến này dài 8,1 km, xây dựng mới, công tác triển khai nhận được sự đồng thuận cao từ người dân.

Xuyên đêm đẩy nhanh tiến độ công trình trường liên cấp

Xuyên đêm đẩy nhanh tiến độ công trình trường liên cấp

Những ngày đầu tháng 4, hàng chục kỹ sư, công nhân và người lao động đang duy trì thi công cả ngày lẫn đêm để đẩy nhanh tiến độ xây dựng công trình Trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học - Trung học cơ sở xã biên giới Hùng Sơn, thành phố Đà Nẵng.

Lan tỏa văn hóa truyền thống trong trường học tại Điện Biên

Lan tỏa văn hóa truyền thống trong trường học tại Điện Biên

Gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc đang trở thành một nội dung quan trọng trong giáo dục học đường. Tại Điện Biên, nhiều trường học đã chủ động đưa văn hóa dân tộc vào trường học giúp học sinh thêm hiểu, thêm yêu và tự hào về truyền thống quê hương theo tinh thần của Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị.

Tín dụng chính sách khơi thông sinh kế cho nông hộ

Tín dụng chính sách khơi thông sinh kế cho nông hộ

Nguồn vốn tín dụng chính sách đang góp phần quan trọng giúp nhiều hộ dân ở nông thôn Vĩnh Long phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập. Từ nguồn vốn này, nhiều mô hình chăn nuôi hiệu quả đã được hình thành, mở ra hướng sinh kế bền vững cho người dân.

Đồng bào Cơ Tu gắn lễ hội với bảo vệ rừng

Đồng bào Cơ Tu gắn lễ hội với bảo vệ rừng

Thông qua Lễ hội Khai năm tạ ơn rừng, cộng đồng người Cơ Tu nơi xã biên giới Hùng Sơn (Đà Nẵng) có dịp cùng nhìn lại giá trị của thiên nhiên, của truyền thống và thắt chặt tình đoàn kết. Khi văn hóa được người dân ra sức gìn giữ, cùng với việc kết hợp quản lý bảo vệ rừng đã tạo nên nền tảng để xã Hùng Sơn phát triển theo hướng bền vững, hài hòa và lâu dài.

Độc đáo lễ hội cầu mưa của người Thái trắng ở Sơn La

Độc đáo lễ hội cầu mưa của người Thái trắng ở Sơn La

Khu du lịch Quốc gia Mộc Châu, tỉnh Sơn La, không chỉ là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu trong lành, mát mẻ, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, nơi đây còn lưu giữ nhiều lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa các dân tộc Tây Bắc, đặc biệt là lễ hội cầu mưa. Đây là một lễ hội văn hóa tín ngưỡng độc độc đáo, quan trọng trong năm của người Thái trắng ở phường Mộc Châu.

Bức tranh lúa khổ lớn giữa núi non Ninh Bình

Bức tranh lúa khổ lớn giữa núi non Ninh Bình

Nhiều năm trở lại đây, cứ mỗi dịp các cánh đồng nhộn nhịp gieo cấy vụ Xuân cũng là lúc các nghệ sĩ và nhân dân khu du lịch Tam Cốc - Bích Động đưa ra các ý tưởng để dệt nên bức tranh bằng lúa bên dòng sông Ngô Đồng thơ mộng. Bức tranh bằng lúa trở thành nét đặc trưng của Tuần Du lịch Ninh Bình gắn với sắc màu lúa chín vàng tại khu du lịch Tam Cốc - Bích Động được tỉnh Ninh Bình tổ chức thường niên mỗi độ hè về.

Sinh kế bền vững dưới tán rừng

Sinh kế bền vững dưới tán rừng

Gần 30 năm qua, nhiều bản vùng cao xã Quài Tở, tỉnh Điện Biên, đã khai thác hiệu quả diện tích dưới tán rừng để trồng dược liệu như thảo quả, sa nhân. Cách làm này giúp người dân tăng thu nhập, đồng thời nâng cao ý thức bảo vệ rừng.