Giữa núi rừng Quảng La (tỉnh Quảng Ninh), cộng đồng người Dao Thanh Y vẫn bền bỉ gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống đã được vun đắp qua hàng trăm năm.
Từ điệu múa, câu hát giao duyên đến từng đường kim mũi chỉ trên tấm thổ cẩm, mỗi nét văn hóa không chỉ là ký ức của một tộc người mà còn là nguồn lực để xây dựng bản sắc và phát triển bền vững.
Ông Đặng Văn Hạnh, Trưởng thôn Bằng Cả, xã Quảng La, tỉnh Quảng Ninh cho biết, toàn thôn có 530 hộ và trên 97% là dân tộc Dao. Người dân chủ yếu làm nông nghiệp và trồng rừng. Các thiết chế văn hóa, truyền thống tốt đẹp và lễ hội luôn được bà con giữ gìn, hun đúc và phát triển.
Thôn Bằng Cả, xã Quảng La có trên 97% dân số là đồng bào Dao Thanh Y. Cộng đồng nơi đây được hình thành từ khoảng 300 năm trước và đến nay vẫn lưu giữ được nhiều nét văn hóa bản địa đặc sắc. Những điệu múa hát cầu mùa, múa rồng, múa gà, múa chiêu binh hay hát giao duyên vẫn hiện diện trong các lễ hội, ngày hội làng, trở thành nhịp cầu kết nối giữa quá khứ và hiện tại.
Người Dao Thanh Y xã Quảng La, tỉnh Quảng Ninh thêu trang phục truyền thống.
Trong kho tàng văn hóa ấy, nghệ thuật thêu thổ cẩm được xem là dấu ấn nổi bật nhất. Với người Dao Thanh Y, sự khéo léo của người phụ nữ được thể hiện qua chính bộ trang phục truyền thống nhiều sắc màu, tinh xảo và hài hòa. Từ sợi tơ, sợi len đến vải thổ cẩm, họ dệt nên những bộ váy áo không chỉ đẹp mà còn mang theo quan niệm về gia đình, về cội nguồn và tình yêu thương. Trang phục truyền thống cũng là của hồi môn dành cho con gái trước khi về nhà chồng.
Bà Lý Thị Mai, 79 tuổi, một trong số ít người còn thành thạo nghề thêu truyền thống ở Bằng Cả cho biết, mỗi bộ trang phục đều đòi hỏi sự kiên trì và tỉ mỉ. Bộ trang phục là nét đẹp truyền thống, thể hiện bản sắc riêng của người Dao Thanh Y. Thế nhưng, điều khiến bà trăn trở là lớp trẻ ngày nay ít người còn mặn mà với nghề, bởi thêu thùa mất rất nhiều thời gian và đòi hỏi sự chính xác, óc thẩm mỹ. Bộ trang phục của người Dao Thanh Y có 2 màu chủ đạo là đen và đỏ, kết hợp tay áo phối thêm một chút màu xanh. Quần áo đơn giản, không nhiều hoa văn. Tuy nhiên chiếc mũ đội đầu được thêu cầu kỳ và khó nhất.
Từ mẹ, chị Bàng Thị Mến đã học được từng mũi thêu, từng họa tiết của trang phục Dao Thanh Y. Chị coi việc truyền dạy lại cho con như một cách gìn giữ bản sắc của dân tộc mình, để những giá trị cha ông không bị mai một theo thời gian.
Không chỉ gìn giữ bằng ký ức, Quảng La đang từng bước đưa văn hóa Dao Thanh Y trở thành động lực cho phát triển cộng đồng. Chính quyền địa phương đã xây dựng đề án bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc gắn với phát triển du lịch, hướng tới xây dựng Quảng La thành vùng sinh thái nông – lâm nghiệp kết hợp du lịch văn hóa cộng đồng. Các lễ hội truyền thống được phục dựng, các bản làng văn hóa được xây dựng, còn việc giáo dục và phát huy giá trị văn hóa Dao Thanh Y được đưa vào Nghị quyết, kế hoạch hằng năm.
Nhiều lớp dạy thêu, đan thổ cẩm, học chữ Nôm Dao, hát giao duyên, dân ca dân vũ được mở cho học sinh và thanh niên. Người đứng lớp là các nghệ nhân trong cộng đồng. Trong các ngày hội làng, sinh hoạt cộng đồng, việc mặc trang phục truyền thống không chỉ được khuyến khích mà còn trở thành quy định nhằm bồi đắp niềm tự hào dân tộc.
Ông Bàn Sinh Tề, Trưởng phòng Văn hóa xã hội xã Quảng La thông tin, xã Quảng La là xã vùng cao của tỉnh Quảng Ninh được sáp nhập từ 4 xã Bằng Cả, Tân Dân, Dân Chủ và Quảng La. Xã có diện tích trên 165km2 và dân số khoảng trên 9.200 người. Với mật độ dân cư thưa, xã có quỹ đất dồi dào, thuận lợi phát triển các mô hình kinh tế xanh, du lịch sinh thái và bảo tồn các giá trị tự nhiên truyền thống. Để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Dao Thanh Y, xã đã xây dựng đề án bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc gắn với phát triển du lịch, xây dựng Quảng La thành vùng sinh thái nông - lâm nghiệp kết hợp du lịch văn hóa - cộng đồng, chú trọng xây dựng các làng, bản văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số, phục dựng các lễ hội, nét văn hóa truyền thống của người dân tộc Dao Thanh Y.
Người Dao Thanh Y xã Quảng La, tỉnh Quảng Ninh tìm hiểu nét độc đáo của trang phục truyền thống dân tộc mình.
Từ năm 2009, Khu bảo tồn văn hóa người Dao Thanh Y tại Quảng La được xây dựng với nhà sinh hoạt truyền thống, nhà mẫu phục dựng và không gian tổ chức lễ hội. Vào mỗi dịp hè, nơi đây lại trở thành lớp học đặc biệt, nơi các nghệ nhân truyền dạy chữ Nôm Dao, nghề thêu và hát giao duyên cho thế hệ trẻ. Hội làng hằng năm không chỉ tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống mà còn góp phần bảo tồn Lễ cấp sắc – di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc của người Dao. Những giá trị ấy đang dần mở ra không gian phát triển du lịch văn hóa, kinh tế xanh và nâng cao sinh kế cho người dân.
Với hơn 72% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, xã Quảng La xác định bảo tồn văn hóa không chỉ là gìn giữ di sản mà còn là “nguồn lực mềm” quan trọng trong phát triển bền vững. Giữa nhịp sống hiện đại, từng điệu múa, câu hát và đường kim mũi chỉ của người Dao Thanh Y vẫn đang lặng lẽ kể câu chuyện về sức sống bền bỉ của một nền văn hóa vùng cao, nơi bản sắc được gìn giữ bằng tình yêu và trách nhiệm của cả cộng đồng./.
Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).
Tên gọi khác: Mán.
Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).
Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.
Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.
Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.
Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.
Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...
Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.
Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.
Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.
Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.
Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.
Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.
Ở: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.
Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.
Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.
Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.
Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.
Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.
Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.
Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.
Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.
Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.
Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.
Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.
Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.
Theo cema.gov.vn