Huyện Kiên Lương (Kiên Giang) đẩy mạnh phát triển kinh tế biển. Ảnh: Lê Sen - TTXVN* Ông đánh giá như thế nào về tiềm năng, cơ hội trong phát triển kinh tế biển của Việt Nam? - Nói một cách ngắn gọn, biển Việt Nam giàu và đẹp. Tôi đã đi đến 65 nước có biển đảo, tôi thấy Việt Nam có nhiều cơ hội để có thể đẩy mạnh phát triển kinh tế biển. Cụ thể: Việt Nam có chính sách ngày càng hội nhập trong kỷ nguyên toàn cầu hóa. Đảng, Nhà nước Việt Nam quan tâm đến phát triển kinh tế biển với việc ban hành nhiều Chiến lược và Nghị quyết liên quan. Đặc biệt, Đảng và Nhà nước cũng nhận thức rằng vai trò của biển, tiềm năng của biển còn chưa được khai thác tương xứng nên cần phải khai thác một cách hiệu quả và bền vững. Tôi cho rằng đây là những cơ hội tốt để phát triển kinh tế biển trong bối cảnh hiện nay.* Ngày 22/10/2018, thay mặt Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 12, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Ông có thể khái quát về các mục tiêu cơ bản của Chiến lược này? - Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển đến năm 2030, Việt Nam vẫn đặt mục tiêu sớm phấn đấu trở thành một quốc gia mạnh về biển và làm giàu từ biển, dựa vào biển và hướng ra biển. Vì một quốc gia có biển, trong thế kỷ của biển và đại dương mà không hướng ra biển thì khó phát triển được. Chiến lược lần này cũng phân định rõ kinh tế thuần biển, kinh tế dựa vào biển chính là các tỉnh ven biển, các vùng nước lợ. Trong Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, Việt Nam đặt mục tiêu phấn đấu kinh tế biển chiếm 58% GDP đến năm 2020. Tuy nhiên, trong Chiến lược biển lần này, Việt Nam phân biệt rõ, kinh tế thuần biển đạt 10% GDP đến năm 2030. Trong khi đó, kinh tế dựa vào biển (lần này được phân định rõ là các tỉnh ven biển và các thành phần kinh tế dựa vào biển thuộc các tỉnh ven biển), chúng ta đặt mục tiêu phấn đấu đạt từ 65-70% GDP. Tôi cho rằng đây là mục tiêu hơi cao nhưng cũng cần phải phấn đấu. Thứ ba, lần này chúng ta không nói biển nói chung mà lựa chọn lấy trục kinh tế biển là chính và chỉ rõ phát triển bền vững kinh tế biển. Nghĩa là trong phát triển kinh tế biển cần điều chỉnh mối quan hệ với các vấn đề môi trường, tài nguyên, văn hóa. Chúng ta lấy kinh tế xanh làm nền tảng để phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam.* Có những ý kiến cho rằng, Việt Nam chưa phát huy tối đa lợi thế, tiềm năng là cửa ngõ vươn ra thế giới của các địa phương có biển, đó là do chúng ta chưa tạo được chuỗi kết nối giữa các địa phương có biển và các địa phương không có biển, giữa các ngành, các lĩnh vực kinh tế, kết cấu hạ tầng. Quan điểm của ông về vấn đề này thế nào? - Tôi cho rằng đây là nhận định đúng bởi vì trong thời gian vừa qua, một trong những cái yếu chính của các tỉnh miền Trung là liên kết vùng còn yếu. Các địa phương đã phát triển như một quốc gia riêng cho nên những thành tựu của tỉnh này không kịp thời tạo ra tác động lan tỏa để ảnh hưởng ra những tỉnh bên cạnh thông qua việc kết nối. Sự kết nối cần theo cả chiều dọc, nghĩa là giữa các tỉnh ven biển với các tỉnh trong đất liền. Chỉ số biển của Việt Nam cao hơn gấp 6 lần chỉ số trung bình về biển toàn cầu. Việt Nam có đường bờ biển dài, cứ khoảng 100 km2 diện tích đất liền có một 1 km chiều dài bờ biển. Như vậy, Việt Nam có lợi thế về kinh tế biển; trong đó có kinh tế hàng hải và kinh tế cảng. Tuy nhiên, các cảng hiện nay chỉ là cửa ngõ và chưa kết nối được nhiều. Chính vì vậy, khi phát triển cảng cần phải dự báo được cấu trúc mô hình phát triển của cảng là gì và cần phát triển cảng song song với phát triển đô thị và các dịch vụ biển.
* Những thách thức toàn cầu, nhất là suy thoái và ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu đã và đang đe dọa nghiêm trọng sức khỏe biển và đại dương trên toàn thế giới cũng như tại Việt Nam. Theo ông, Việt Nam cần thực hiện giải pháp gì để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững kinh tế biển?
- Thực ra biến đổi khí hậu rồi biến đổi đại dương là hiện hữu và Việt Nam là một trong những nước đứng đầu về việc chịu tác động xấu. Những năm gần đây, vùng ven biển của các đồng bằng thấp cũng như vùng ven biển miền Trung do nền nhiệt thay đổi hay thời tiết cực đoan cũng như nước biển dâng đã gây ra các vụ hạn mặn lớn làm thay đổi bản chất môi trường tự nhiên của vùng. Chính vì vậy, Việt Nam cần có giải pháp thích ứng với sự biến đổi đó. Trong giải pháp ứng phó thì có nhóm giải pháp là giảm thiểu và thích ứng. Nhóm giải pháp giảm thiểu đòi hỏi kinh phí lớn, còn nhóm giải pháp thích ứng chúng ta có thể thích ứng từ cấp cộng đồng lên đến cấp quốc gia. Chúng ta phải ưu tiên thích ứng, sử dụng nguyên lý môi trường nào sinh vật đấy, xem xét cơ cấu lại cây trồng, vật nuôi và ngành nghề cho thích ứng với sự biến đổi của khí hậu.* Theo ông, đâu là những thách thức trong thực hiện các mục tiêu của Chiến lược kinh tế biển đến năm 2030 ? Và những dự báo của ông về khả năng thực hiện các mục tiêu này? - Tôi cho rằng chúng ta chuyển hướng phát triển kinh tế biển bền vững, và dựa vào nền tảng kinh tế xanh là không sai. Nó cũng là xu thế của thế giới và Việt Nam cũng đã chuẩn bị từ năm 2012. Định hướng không sai nhưng cũng không nên kỳ vọng quá vì để thực hiện được kinh tế xanh cần thời gian và đây là mục tiêu trong dài hạn. Điều quan trọng nhất sau khi Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển đến năm 2030 ra đời là cần phải cụ thể hóa, phân công nhiệm vụ cụ thể, đánh giá dựa vào mục tiêu, giám sát được việc thực hiện, kịp thời điều chỉnh để hiệu quả mang lại là đích thực.
Sau sắp xếp đơn vị hành chính, yêu cầu đặt ra với tỉnh Phú Thọ không chỉ là huy động đủ nguồn lực cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, mà quan trọng hơn là đưa nguồn lực ấy đến đúng nơi, đúng đối tượng, đúng nhu cầu.
Chiều 11/9, Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam phối hợp với Hội Doanh nhân trẻ tỉnh Tuyên Quang tổ chức Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam (VPSF) 2026 - Vòng đối thoại địa phương tỉnh Tuyên Quang, với sự tham dự của lãnh đạo tỉnh, chuyên gia kinh tế cùng đông đảo doanh nhân, doanh nghiệp trên địa bàn.
Thực hiện sắp xếp lại mạng lưới giáo dục công lập, bước vào năm học 2026-2027, tỉnh Thanh Hóa đã giảm từ 1.932 xuống còn 766 trường, tương đương giảm 1.166 đầu mối, hơn 60%.
Từ ngày 1/7/2026, 888 thôn, bản, tổ dân phố mới trên địa bàn tỉnh Điện Biên chính thức đi vào hoạt động sau sắp xếp. Tại nhiều địa phương, người dân tín nhiệm bầu những cán bộ trẻ làm Bí thư Chi bộ, trưởng thôn, bản. Với sự năng động, tinh thần trách nhiệm và khả năng tiếp cận công nghệ, đội ngũ này đang từng bước đổi mới cách tuyên truyền, vận động nhân dân, nâng cao hiệu quả công việc ở cơ sở.
Theo bà Hà Kiều Oanh, Phó trưởng Phòng Phát triển năng lực xúc tiến thương mại, Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương, chỉ dẫn địa lý không chỉ là công cụ bảo hộ nguồn gốc và danh tiếng sản phẩm mà còn là nền tảng để nâng cao giá trị, củng cố niềm tin thị trường và mở rộng đầu ra cho đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Đều đặn ngày thứ 2 đầu tuần, nhóm cán bộ của UBND xã Tà Năng (Lâm Đồng) lại cùng nhau về tận các thôn, buôn để làm thủ tục hành chính lưu động cho người dân. Sau hơn một năm, họ dần trở thành những “công bộc” kéo gần khoảng cách giữa cán bộ xã với nhân dân.
Theo ông Đào Đức Huấn, Trưởng phòng Quản lý OCOP và Du lịch nông thôn, Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, sản phẩm OCOP dù đã có nhiều cải tiến song vẫn cần tiếp tục thay đổi để nâng giá bán và tăng sức lan tỏa trên thị trường.
Tín dụng chính sách đang trở thành nguồn lực quan trọng hỗ trợ người dân Vĩnh Long tạo việc làm, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và ổn định đời sống.
Năm học 2026-2027 đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ, thực chất của ngành Giáo dục trong triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Trọng tâm năm học này là đổi mới mạnh mẽ quản trị phát triển giáo dục; cắt giảm tối đa thủ tục hành chính, các cuộc thi mang tính hình thức, hội họp không cần thiết; tập trung nguồn lực tháo gỡ những “điểm nghẽn” của ngành Giáo dục, nhất là tại các địa bàn, vùng còn nhiều khó khăn.
Tỉnh Phú Thọ có nhiều sản vật đặc trưng, mang đậm dấu ấn vùng miền. Trước đây, phần lớn nông sản được sản xuất nhỏ lẻ, chủ yếu phục vụ thị trường trong tỉnh và khu vực lân cận. Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đã tạo động lực để các địa phương khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế, từng bước đổi mới phương thức sản xuất và tư duy phát triển sản phẩm.
Chiều 4/9, tại Cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, xã Bến Cầu, lãnh đạo tỉnh Tây Ninh cùng các sở, ngành, lực lượng chức năng tổ chức khảo sát thực tế, rà soát phương án tổng thể Dự án Phát triển hạ tầng Mộc Bài đến năm 2030.
Năm học 2026-2027 đã đến. Ở những địa bàn vùng cao tỉnh Điện Biên, để học sinh có thể đến trường đầy đủ trong ngày khai giảng, các thầy cô giáo đang nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, từ vận động học sinh ra lớp đến chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất và những điều kiện cần thiết cho một năm học mới.
Tỉnh Tây Ninh đang triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhiều lĩnh vực được ghi nhận với những kết quả tích cực, tạo nền tảng vững chắc để hoàn thành các mục tiêu của năm 2026.
Nhằm bảo đảm kinh phí cho các xã biên giới thực hiện kịp thời chế độ cho học sinh nội trú trong năm học mới, UBND tỉnh Điện Biên vừa giao bổ sung gần 50 tỷ đồng cho 10 xã biên giới để thực hiện chính sách theo Nghị định số 188/2026/NĐ-CP ngày 27/5/2026 của Chính phủ.
Ngày 3/9, tại Trường Phổ thông Dân tộc Bán trú Tiểu học Nấm Dẩn (xã Nấm Dẩn, tỉnh Tuyên Quang), Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam phối hợp với Hội Chữ thập đỏ tỉnh Tuyên Quang tổ chức Lễ phát động cấp quốc gia đợt thi đua cao điểm “80 ngày hành động vì cộng đồng”, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Chữ thập đỏ Việt Nam (23/11/1946 - 23/11/2026).
Trong suốt chăng đường xây dựng và phát triển đất nước, TP Hồ Chí Minh đã triển khai nhiều chính sách, cách làm hay, chương trình hỗ trợ linh hoạt, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc. Nhân dịp kỷ niệm 81 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc phỏng vấn ông Lâm Đình Thắng, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo Thành phố Hồ Chí Minh, để làm rõ hơn những chuyển biến tích cực trong đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), đặc biệt trong giai đoạn đất nước đang đổi mới, phát triển và hội nhập.
Nhân 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Hòn Khoai cùng các lực lượng đứng chân trên đảo đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, tạo không khí vui tươi, đoàn kết, góp phần giáo dục truyền thống, nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trên biển.
Không có đường biên trực tiếp với Lào, nhưng Đắk Lắk đang triển khai các thỏa thuận hợp tác với Champasak, Attapeu, Salavan và Sekong. Từ đề nghị của Attapeu về chuyên gia và kỹ thuật sầu riêng, một hướng hợp tác mới đang hiện rõ: kết nối vùng nguyên liệu bằng tri thức, hợp tác xã và cơ chế theo dõi đến cùng.
Cùng hướng tới một không gian hợp tác rộng hơn với tỉnh Mondulkiri của Vương quốc Campuchia và các tỉnh Nam Lào, hai tỉnh Lâm Đồng và Đắk Lắk đang đứng trước yêu cầu chuyển những bản ghi nhớ cấp tỉnh thành dòng hàng, vùng nguyên liệu, chương trình chuyển giao kỹ thuật và sinh kế cụ thể ở khu vực biên giới. Giá trị của hợp tác vì thế không chỉ được đo bằng số cuộc gặp, mà bằng khả năng mở đường cho từng nhu cầu từ cơ sở đi đến đúng nơi giải quyết.
Theo ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), sản phẩm của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã từng bước hiện diện rõ hơn trên thị trường, nhưng để đứng vững và tạo giá trị gia tăng tương xứng, cần chuyển từ tư duy đưa sản phẩm đi giới thiệu sang xây dựng năng lực để sản phẩm cạnh tranh, tiêu thụ lâu dài.