Cần cơ chế đặc thù xây dựng nông thôn mới ở Pà Cò

Việc triển khai Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới tại các xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Phú Thọ vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, bất cập.

Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, địa hình phức tạp, hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đồng bộ, trong khi đời sống của người dân còn thấp… là những rào cản lớn, đòi hỏi cần có các cơ chế, chính sách đặc thù, phù hợp với điều kiện từng vùng, từng địa phương để chương trình xây dựng nông thôn mới đạt hiệu quả bền vững.

pa-co.jpg
Pà Cò là xã vùng cao, đặc biệt khó khăn của tỉnh Phú Thọ. Ảnh: Trọng Đạt/TTXVN

Nhiều tiêu chí khó

Pà Cò là xã vùng cao, đặc biệt khó khăn của tỉnh Phú Thọ, có diện tích tự nhiên hơn 115 km², gồm 18 xóm với dân cư sinh sống rải rác. Địa hình chủ yếu là núi cao, bị chia cắt mạnh; giao thông đi lại còn nhiều khó khăn, nhất là vào mùa mưa. Đồng bào dân tộc Mông chiếm gần 65% dân số, đời sống kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp tự cung, tự cấp; trình độ dân trí còn hạn chế, đặt ra không ít thách thức trong quá trình thực hiện các tiêu chí nông thôn mới.

Trong những năm qua, cùng với việc triển khai các chương trình, dự án hỗ trợ của Nhà nước, xã Pà Cò, tỉnh Phú Thọ đã nỗ lực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Công tác tuyên truyền, vận động được chú trọng; một số công trình, hạ tầng thiết yếu được đầu tư, góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt của người dân. Tuy nhiên, do xuất phát điểm thấp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiếu và yếu, việc hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới vẫn gặp nhiều khó khăn.

Đến nay, xã Pà Cò mới đạt 9/19 tiêu chí nông thôn mới. Các tiêu chí chưa đạt được chủ yếu là những tiêu chí khó, đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn như giao thông, thu nhập, tỷ lệ hộ nghèo, cơ sở vật chất văn hóa... Trong khi đó, nguồn vốn phân bổ từ ngân sách cấp trên còn hạn chế; ngân sách xã không đủ khả năng đối ứng, khiến việc triển khai các công trình hạ tầng gặp nhiều vướng mắc. Hiện nay, thu nhập bình quân đầu người của xã đạt khoảng 29 triệu đồng/năm; tỷ lệ hộ nghèo còn cao, chiếm 46,42%. Đây là những chỉ số cho thấy quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương còn chậm, chưa bền vững.

Bí thư Chi bộ xóm Hang Kia, xã Pà Cò Khà A Khai cho biết: Xóm Hang Kia hiện có 280 hộ dân, thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 25 triệu đồng/năm; tỷ lệ hộ nghèo chiếm gần 60%. Những năm qua, Nhà nước đã quan tâm hỗ trợ đầu tư, song nhiều tuyến đường giao thông đã xuống cấp, ảnh hưởng đến việc đi lại, vận chuyển nông sản và sinh hoạt của người dân.

Bên cạnh những khó khăn về hạ tầng và kinh tế, xã Pà Cò còn chịu tác động từ các vấn đề xã hội trong quá khứ. Trước đây, địa phương từng là điểm phức tạp về tệ nạn ma túy. Mặc dù, tình hình an ninh trật tự đã được giữ vững, song những hệ lụy để lại vẫn ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực và quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Chủ tịch UBND xã Pà Cò Trần Văn Truyền cho biết: Nhiều công trình hạ tầng trên địa bàn được đầu tư từ nhiều năm trước, hiện đã xuống cấp. Điều kiện đi lại của người dân còn khó khăn, ảnh hưởng đến giao thương, phát triển sản xuất. Do đó, địa phương mong muốn tiếp tục được các cấp, ngành quan tâm đầu tư nâng cấp hạ tầng thiết yếu; đồng thời, có chính sách hỗ trợ tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho đồng bào dân tộc thiểu số.

Cần cơ chế, chính sách phù hợp

Trước những khó khăn nêu trên, thời gian qua, xã Pà Cò, tỉnh Phú Thọ đã chủ động triển khai nhiều giải pháp nhằm tạo chuyển biến trong xây dựng nông thôn mới. Cấp ủy, chính quyền địa phương tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức của người dân, nhất là đồng bào dân tộc Mông, về mục tiêu, ý nghĩa của Chương trình xây dựng nông thôn mới, phát huy vai trò chủ thể của người dân trong tham gia thực hiện các tiêu chí.

Xã đã lồng ghép các nguồn vốn từ Chương trình xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi để ưu tiên đầu tư các hạng mục hạ tầng thiết yếu, hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân... Nhờ đó, điều kiện sống của đồng bào dân tộc thiểu số ở Pà Cò từng bước được cải thiện, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

Để nâng cao hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, năm 2026, xã Pà Cò tập trung triển khai các giải pháp mang tính căn cơ, phù hợp với điều kiện thực tế địa phương. Trọng tâm là ưu tiên nguồn lực đầu tư hạ tầng thiết yếu, hỗ trợ phát triển sản xuất gắn với sinh kế bền vững, từng bước nâng cao thu nhập, giảm nghèo cho người dân.

Cùng với đó, địa phương chú trọng ứng dụng khoa học - công nghệ, phát triển cây trồng chủ lực gắn với sản phẩm OCOP; đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hiện hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, kết hợp xây dựng nông thôn mới với phát triển du lịch, tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Theo ông Trần Văn Truyền, Chủ tịch UBND xã, xây dựng nông thôn mới ở xã Pà Cò không chỉ nhằm hoàn thành các tiêu chí theo quy định, mà quan trọng hơn là tạo chuyển biến thực chất trong đời sống kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh, từng bước rút ngắn khoảng cách phát triển giữa vùng cao với miền xuôi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số như Pà Cò./.

Vũ Hà/TTXVN
Dân tộc Mông

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...

Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.

Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt.jpg
Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt

Ở: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).

Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung.jpg
Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mông

Có thể bạn quan tâm

Tạo sinh kế, mở lối thoát nghèo ở vùng cao Huế

Tạo sinh kế, mở lối thoát nghèo ở vùng cao Huế

Những năm qua, trên các bản làng vùng cao của xứ Huế, nhiều mô hình hỗ trợ giảm nghèo đã và đang gieo những mầm xanh hy vọng. Những chính sách thiết thực ấy đã trở thành điểm tựa vững chắc tiếp thêm nghị lực để đồng bào dân tộc thiểu số vượt qua gian khó, tự tay gây dựng sinh kế và tự tin mở ra con đường thoát nghèo bền vững.

Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong cộng đồng Chăm Islam

Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong cộng đồng Chăm Islam

Ban Đại diện Cộng đồng Chăm Hồi giáo Islam tỉnh An Giang đã đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, lồng ghép những những tình huống thực tế trong đời sống hàng ngày vào các buổi sinh hoạt tôn giáo, qua đó giúp bà con dễ hiểu và chấp hành tốt quy định của pháp luật.

Đề xuất mở rộng hỗ trợ ăn trưa cho học sinh vùng dân tộc thiểu số, miền núi

Đề xuất mở rộng hỗ trợ ăn trưa cho học sinh vùng dân tộc thiểu số, miền núi

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 66/2025/NĐ-CP ngày 12/3/2025 của Chính phủ quy định chính sách cho trẻ em nhà trẻ, học sinh, học viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo và cơ sở giáo dục có trẻ em nhà trẻ, học sinh hưởng chính sách.

Thanh Hóa phát huy vai trò chi bộ thôn trong phát triển kinh tế

Thanh Hóa phát huy vai trò chi bộ thôn trong phát triển kinh tế

Phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo ở cơ sở, nhiều chi bộ thôn, bản miền núi tỉnh Thanh Hóa đã vận động người dân phát triển kinh tế, giảm nghèo, hiến đất, góp công xây dựng hạ tầng, từng bước nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống.

Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho người dân vùng biên

Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho người dân vùng biên

Ngày 21/10, tại xã biên giới Ba Sơn, tỉnh Lạng Sơn, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn tổ chức tuyên truyền pháp luật về phòng, chống xuất nhập cảnh trái phép, tổ chức, môi giới cho người khác xuất nhập cảnh trái phép; vận chuyển trái phép hàng hóa, hàng cấm trên địa bàn khu vực biên giới năm 2026.

Mở rộng cơ hội việc làm cho lao động miền núi, vùng dân tộc

Mở rộng cơ hội việc làm cho lao động miền núi, vùng dân tộc

Đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đang được tỉnh Quảng Ngãi xác định là giải pháp quan trọng nhằm tạo việc làm, nâng cao thu nhập và thúc đẩy giảm nghèo bền vững, nhất là tại khu vực miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Với sự chủ động của chính quyền địa phương cùng các chính sách hỗ trợ thiết thực, nhiều thanh niên vùng cao đã mạnh dạn tiếp cận thị trường lao động nước ngoài, từng bước cải thiện đời sống gia đình và tích lũy nguồn lực phát triển kinh tế khi trở về quê hương.

Trung tướng Trần Đức Thuận, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội

Quy định 224 thể hiện bước đổi mới trong tư duy lãnh đạo của Đảng

Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Quy định số 224-QĐ/TW về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh, quy định về chủ trương, nguyên tắc, giới hạn, quyền, trách nhiệm và kiểm soát xung đột lợi ích đối với đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh.

Giúp thế hệ trẻ dân tộc thiểu số tự giác sống theo pháp luật

Giúp thế hệ trẻ dân tộc thiểu số tự giác sống theo pháp luật

Trước những thách thức mang tính đặc thù tại khu vực miền núi như nạn tảo hôn, nguy cơ vi phạm lâm nghiệp hay các cạm bẫy trên không gian mạng, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số (DTTS) đang đóng vai trò then chốt.

Trung tướng Vũ Trung Kiên, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Bộ đội Biên phòng trao thưởng cho các lực lượng chức năng có thành tích trong công tác phòng chống mua bán người và ma túy.

Lực lượng Biên phòng nâng cao năng lực chống tội phạm mua bán người

Nhằm kịp thời phát hiện, đấu tranh với tội phạm mua bán người, Bộ đội Biên phòng đã thiết lập thế trận liên hoàn; tăng cường truyền thông, nâng cao nhận thức và kỹ năng nhận diện dấu hiệu nguy hiểm, kiểm chứng thông tin giúp người dân phòng tránh, nhất là nhóm có nguy cơ cao bị mua bán.

Bài 1: Từ chiến trường ngoại biên đến bình yên bản làng

Bài 1: Từ chiến trường ngoại biên đến bình yên bản làng

Với quyết tâm không để trở thành "điểm nóng" về mua bán người, thời gian qua lực lượng Bộ đội Biên phòng đã đánh trúng, đánh mạnh các đường dây tội phạm xuyên quốc gia từ sớm, từ xa, từ ngoài biên giới; xây dựng thế trận lòng dân vững chắc bảo vệ cuộc sống bình yên nhân dân.

Nỗ lực vượt khó, bảo đảm tiến độ khám sức khỏe toàn dân

Nỗ lực vượt khó, bảo đảm tiến độ khám sức khỏe toàn dân

Thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, tính đến giữa tháng 10/2026, tỉnh Cao Bằng đã tổ chức khám sức khỏe định kỳ và sàng lọc miễn phí cho hơn 380.000 lượt người dân, đạt tỷ lệ bao phủ trên 72,4%.