Cao Bằng giữ nghề truyền thống, mở lối phát triển du lịch

Trong bối cảnh xã hội công nghiệp ngày càng phát triển, nhiều giá trị văn hóa truyền thống đứng trước nguy cơ mai một. Tuy nhiên, tại Cao Bằng, du khách vẫn có thể cảm nhận rõ nét những sắc màu văn hóa được cộng đồng các dân tộc nơi đây gìn giữ qua nhiều thế hệ. Người dân vẫn bền bỉ duy trì các nghề thủ công truyền thống, đưa sản phẩm văn hóa bản địa ra thị trường trong nước và quốc tế, góp phần tạo nên điểm nhấn du lịch đặc sắc cho vùng non nước Cao Bằng.

thocam-2503.jpg
Gìn giữ và phát huy nghề dệt thổ cẩm truyền thống ở Luống Nọi (tỉnh Cao Bằng). Ảnh: Chu Hiệu/TTXVN

Trải nghiệm làng nghề - điểm nhấn thu hút du khách

Bên cạnh cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, điều thu hút du khách đến với Cao Bằng chính là cơ hội trải nghiệm đời sống văn hóa bản địa, đặc biệt tại các làng nghề truyền thống. Vợ chồng ông Davir Liero, du khách Pháp cho biết, vợ chồng ông quay trở lại Cao Bằng lần thứ hai để tham quan các làng nghề như làng hương Phja Thắp, làng giấy bản Dìa Trên, làng nhuộm vải chàm Phúc Sen và làng dệt thổ cẩm Luống Nọi. Theo ông, người dân nơi đây hiền hậu, cần cù, với đôi bàn tay khéo léo đã tạo nên những sản phẩm tinh xảo, thân thiện với môi trường.

Nghề dệt thổ cẩm là một trong những nghề truyền thống tiêu biểu của địa phương. Bà Nông Thị Thược, nghệ nhân dân tộc Tày ở làng Luống Nọi đã gắn bó với khung cửi hơn nửa thế kỷ. Theo bà, dệt thổ cẩm đòi hỏi sự kiên trì, tỉ mỉ; mỗi hoa văn đều lấy cảm hứng từ thiên nhiên như bông lúa, cánh chim, dòng suối. Người thợ phải ghi nhớ từng chi tiết để dệt từ mặt trái của vải mà không có bản vẽ. Một sản phẩm hoàn chỉnh có thể mất vài ngày. Dù giá trị kinh tế chưa cao, bà vẫn giữ nghề vì coi đây là di sản quý. Hiện nay, các sản phẩm thổ cẩm như khăn, túi, đồ trang trí ngày càng được du khách ưa chuộng, thậm chí xuất hiện tại các sự kiện của UNESCO trong khuôn khổ Công viên địa chất Toàn cầu Non nước Cao Bằng.

Ngoài thổ cẩm, người Dao Tiền ở Hoài Khao nổi tiếng với kỹ thuật vẽ sáp ong trên vải chàm, tạo hoa văn trắng trên nền xanh đậm. Người Nùng An ở Quảng Uyên chiếm phần lớn lao động trong các làng nghề làm hương, giấy bản, nhuộm vải chàm. Tại làng giấy bản Dìa Trên, nhiều hộ dân đã gắn bó hàng chục năm với nghề, thực hiện đầy đủ các công đoạn từ ngâm vỏ cây, giã bột đến tráng giấy. Những tờ giấy bản trắng ngà, bền dai được dùng trong sinh hoạt và nghi lễ truyền thống.

Gắn bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch bền vững

cao-bang.jpg
Phia Thắp có trên 50 hộ dân, 100% số hộ dân trong thôn đều biết làm nghề và miệt mài giữ nghề làm hương truyền thống. Ảnh: An Thành Đạt

Từ thổ cẩm rực rỡ, hương thơm thảo mộc đến giấy bản mộc mạc, mỗi sản phẩm đều chứa đựng câu chuyện văn hóa của cộng đồng. Những năm gần đây, cùng với sự phát triển du lịch, nhiều giá trị văn hóa truyền thống được khai thác thành sản phẩm du lịch. Người dân vừa bảo tồn di sản vừa sáng tạo để lan tỏa bản sắc địa phương. Năm 2025, tại Hội chợ Triển lãm Quốc gia, gian hàng Cao Bằng đã giới thiệu nhiều giá trị văn hóa đặc sắc, trong đó có nghệ nhân trình diễn hát Then, đàn Tính, dệt thổ cẩm, chế biến ẩm thực. Đây là điểm nhấn thu hút đông đảo du khách.

Nhiều sản phẩm văn hóa do cộng đồng gìn giữ và sáng tạo cũng được quảng bá rộng rãi tại các hội chợ, sự kiện du lịch. Từ thổ cẩm, hương thảo mộc đến các món ăn như bánh cuốn, thạch đen, bánh khảo, lạp sườn hun khói… đều góp phần tạo nên không gian văn hóa đặc sắc. Theo Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nông Thị Tuyến, chính những sản phẩm thủ công do người dân làm ra đã trở thành “sứ giả” quảng bá hình ảnh du lịch địa phương.

Từ những trải nghiệm tại hội chợ năm 2025, anh Nguyễn Minh Đức, du khách Hà Nội đã quyết định lựa chọn Cao Bằng là điểm đến trong ba ngày đầu xuân năm 2026. Tại các điểm du lịch nổi tiếng như thác Bản Giốc, Pác Bó, Núi Mắt Thần, du khách không chỉ tham quan cảnh quan mà còn được trực tiếp trải nghiệm các hoạt động văn hóa do người dân địa phương tổ chức.

Ở làng đá cổ Khuổi Ky, nhiều gia đình người Tày phát triển mô hình du lịch cộng đồng. Du khách được tham gia làm bánh, nghe kể về phong tục, thưởng thức hát Then, đàn Tính. Những trải nghiệm này giúp họ hiểu hơn về văn hóa địa phương và thấy chuyến đi ý nghĩa hơn.

Cộng đồng các dân tộc thiểu số tại Cao Bằng không chỉ duy trì nghề truyền thống mà còn tích cực tham gia các hoạt động văn hóa, truyền dạy cho thế hệ trẻ. Nhiều câu lạc bộ hát Then, tổ dệt thổ cẩm, nhóm ẩm thực truyền thống được thành lập, thu hút đông đảo người dân tham gia, góp phần đưa di sản văn hóa vào đời sống hằng ngày. Đáng chú ý, nhiều hộ gia đình đã mạnh dạn khởi nghiệp từ nghề truyền thống, từng bước chuyển hóa giá trị văn hóa bản địa thành sản phẩm kinh tế. Hiện toàn tỉnh có 174 sản phẩm OCOP, trong đó hơn một nửa do người dân trực tiếp sản xuất hoặc khởi nghiệp. Nhiều sản phẩm như thổ cẩm, thạch đen, bún ngũ sắc, quà tặng du lịch đã được cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Những định hướng này phù hợp với chủ trương bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, coi văn hóa là nền tảng tinh thần, đồng thời là nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội. UBND tỉnh Cao Bằng xác định gắn bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch, tạo sinh kế bền vững cho người dân. Tại Quảng Uyên, phần lớn lao động trong các làng nghề truyền thống vừa duy trì bản sắc, vừa đổi mới sản phẩm phục vụ du lịch, qua đó nâng cao thu nhập.

Từ trang phục truyền thống, món ăn đặc sắc đến làn điệu Then, cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Cao Bằng vẫn lặng lẽ gìn giữ giá trị văn hóa bản địa. Bằng sự khéo léo, cần mẫn và niềm tự hào dân tộc, họ không chỉ bảo tồn di sản mà còn trở thành “đại sứ văn hóa”, góp phần quảng bá hình ảnh Non nước Cao Bằng, hướng tới mục tiêu phát triển văn hóa gắn với kinh tế - xã hội bền vững./.

Dân tộc Tày

Tên gọi khác: Thổ.

Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.

Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).

vna_potal_tuyen_quang_gin_giu_nghe_det_tho_cam_cua_nguoi_tay_o_thuong_nong_5693566.jpg
Phụ nữ Tày biết dệt vải, may quần áo từ khi mới 13-14 tuổi. Ảnh: Nam Sương - TTXVN

: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.

Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.

Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.

Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.

Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.

Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.

Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.

Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.

Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Lịch: Người Tày theo âm lịch.

Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.

Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.

Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Tày

Có thể bạn quan tâm

Phát triển du lịch sinh thái - 'chìa khóa' giữ màu xanh đại ngàn

Phát triển du lịch sinh thái - 'chìa khóa' giữ màu xanh đại ngàn

Dưới những tán rừng xanh ở xã Thông Nguyên (Tuyên Quang), người Dao đỏ nơi đây đang có một cách làm mới để tăng thu nhập và bảo vệ rừng. Những cây thuốc từng chỉ được dùng trong mỗi gia đình nay trở thành sản phẩm chăm sóc sức khỏe phục vụ du khách; món ăn, nghề làm giấy dó, tiếng khèn, điệu múa và nếp sinh hoạt truyền thống được đưa vào các chương trình trải nghiệm. Từ những giá trị vốn có của bản làng, du lịch dần mở ra sinh kế mới cho người dân, đồng thời tạo thêm động lực bảo vệ cảnh quan và gìn giữ văn hóa.

Công nghiệp văn hóa tạo dư địa mới cho tăng trưởng

Công nghiệp văn hóa tạo dư địa mới cho tăng trưởng

Từ tiếng khèn Mông giữa miền đá, điệu Then bên những nếp nhà sàn, nghi lễ Nhảy lửa của người Pà Thẻn đến nghề thủ công, ẩm thực và các không gian văn hóa cộng đồng, Tuyên Quang sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa phong phú được bồi đắp qua nhiều thế hệ.

Chứng tích độc đáo của nền văn minh Óc Eo

Chứng tích độc đáo của nền văn minh Óc Eo

Giữa vùng đất Tây Ninh ngày nay, tháp Chót Mạt vẫn lặng lẽ hiện diện, lưu giữ những dấu tích của nền văn minh Óc Eo. Từ những viên gạch cổ và dáng tháp độc đáo, di tích không chỉ kể câu chuyện về một lớp trầm tích văn hóa xa xưa, mà còn mở ra tiềm năng phát huy giá trị lịch sử gắn với du lịch.

Tạo động lực mới cho phát triển du lịch Mẫu Sơn

Tạo động lực mới cho phát triển du lịch Mẫu Sơn

Mẫu Sơn là dãy núi cao nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Lạng Sơn với đỉnh Phjia Mè cao 1.520 m so với mực nước biển. Nhờ khí hậu mát mẻ quanh năm và cảnh quan thiên nhiên đặc sắc, từ thời Pháp thuộc, nơi đây đã được biết đến là điểm nghỉ dưỡng nổi tiếng ở miền Bắc.

Cù Lao Xanh, bình yên nơi đầu sóng

Cù Lao Xanh, bình yên nơi đầu sóng

Nằm cách đất liền khoảng 24km, xã Nhơn Châu, tỉnh Gia Lai, thường được biết đến với tên gọi Cù Lao Xanh, đang từng bước chuyển mình từ một làng đảo chủ yếu sống bằng nghề biển thành điểm đến du lịch giàu tiềm năng. Giữa nhịp phát triển mới, Cù Lao Xanh vẫn giữ nguyên vẻ yên bình với phiên chợ sớm, âu thuyền tấp nập, những tuyến bờ kè hướng biển và cuộc sống mộc mạc của người dân nơi đầu sóng. 

Rừng ngập nước Bầu Đá mở hướng phát triển du lịch cộng đồng

Rừng ngập nước Bầu Đá mở hướng phát triển du lịch cộng đồng

Nằm ở phía Đông tỉnh Đắk Lắk, rừng Bầu Đá (xã Hòa Thịnh) được xem là cánh rừng ngập nước duy nhất nơi đây. Không chỉ gây ấn tượng bởi những tán rừng trải dài soi bóng dưới làn nước tĩnh lặng, rừng ngập nước Bầu Đá còn là mái nhà của nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Địa phương đang nỗ lực gìn giữ giá trị và phát huy tiềm năng du lịch, tạo thêm sinh kế cho người dân.

Trải nghiệm sắc màu văn hóa chợ phiên vùng cao xứ Nghệ

Trải nghiệm sắc màu văn hóa chợ phiên vùng cao xứ Nghệ

Ở miền Tây Nghệ An, những chợ phiên vùng cao, biên giới nổi tiếng như Mường Quạ (xã Môn Sơn), Mường Chon (xã Bình Chuẩn), Tri Lễ (xã Tri Lễ), Nga My (xã Nga My), Nhôn Mai (xã Nhôn Mai)… không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa mà còn là không gian văn hóa sống động, đặc sắc, nơi lưu giữ phong tục, tập quán và bản sắc đặc trưng của cộng đồng các dân tộc Thái, Đan Lai, Khơ Mú, Mông, Ơ Đu...

Thanh Hóa du lịch trải nghiệm nâng tầm sức hút du lịch

Thanh Hóa du lịch trải nghiệm nâng tầm sức hút du lịch

Trong chiến lược phát triển du lịch, ngoài khai thác các giá trị văn hóa, lịch sử, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ, nhiều xã, phường của tỉnh Thanh Hóa đang kiến tạo những không gian trải nghiệm mới, hấp dẫn, từ du lịch sinh thái đến khám phá đời sống văn hóa cộng đồng, ẩm thực địa phương, tạo sức hút để nâng tầm du lịch Thanh Hóa trong giai đoạn mới.

Từ sinh kế bền vững đến 'phên dậu' nơi biển khơi

Từ sinh kế bền vững đến 'phên dậu' nơi biển khơi

Mỗi hòn đảo tiền tiêu có một cách mưu sinh riêng, nhưng đều đứng trước cùng một bài toán: làm sao để người dân có thể sống được trên chính quê hương mình. Từ Cù Lao Xanh, Cù Lao Chàm đến Lý Sơn, hành trình tìm lời giải cho sinh kế bền vững không chỉ mở ra hướng phát triển kinh tế biển mà còn góp phần giữ những cộng đồng cư dân bám biển, bám đảo như những "phên dậu" vững chắc giữa trùng khơi.

Đột phá chính sách cho du lịch vùng cao

Đột phá chính sách cho du lịch vùng cao

Du lịch Điện Biên đang đứng trước thời cơ phát triển mới khi lượng khách và doanh thu liên tục tăng trưởng sau nhiều năm tập trung đầu tư hạ tầng, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa.

Bản sắc văn hóa tạo nên sức hút du lịch

Bản sắc văn hóa tạo nên sức hút du lịch

Việt Nam là một đất nước giàu bản sắc văn hóa với hàng nghìn năm lịch sử. Mỗi địa phương đều mang trong mình một câu chuyện riêng. Từ những phong tục tập quán, lễ hội truyền thống, làng nghề lâu đời đến những giá trị được trao truyền qua nhiều thế hệ, tất cả đã tạo nên một bức tranh văn hóa đặc sắc, tạo nên sức hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.

Năm Du lịch quốc gia 2026: Gia Lai ra mắt loạt điểm đến mới

Năm Du lịch quốc gia 2026: Gia Lai ra mắt loạt điểm đến mới

Ngày 9/7, tại phường Quy Nhơn Nam, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai đã chính thức công bố, giới thiệu và trao Quyết định công nhận các Điểm du lịch của tỉnh. Đây là hoạt động thiết thực chào mừng kỷ niệm 65 năm Ngày thành lập ngành Du lịch Việt Nam.

Khuân Bang đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng từ bản sắc dân tộc Tày

Khuân Bang đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng từ bản sắc dân tộc Tày

Giữa không gian thanh bình của núi đồi và những nếp nhà sàn truyền thống dân tộc Tày, thôn Khuân Bang, xã Chợ Mới, tỉnh Thái Nguyên đang từng bước khai thác tiềm năng du lịch cộng đồng. Không chỉ mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho người dân, mô hình này còn góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc Tày.

Phát triển du lịch bền vững từ giá trị bản sắc

Phát triển du lịch bền vững từ giá trị bản sắc

Không ít địa phương sở hữu cảnh quan đẹp, di sản quý hay những lễ hội đặc sắc nhưng không phải nơi nào cũng có thể biến những giá trị ấy thành động lực phát triển kinh tế bền vững. Với Tuyên Quang, văn hóa không còn chỉ hiện diện trong các bảo tàng, lễ hội hay ký ức cộng đồng mà đang từng bước khẳng định vai trò là nguồn lực nội sinh, tạo nên sức hấp dẫn riêng cho du lịch. 

Tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng giữa đại ngàn Trường Sơn

Tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng giữa đại ngàn Trường Sơn

Điểm du lịch sinh thái Hồ Rà Hách - Suối Ruông, thuộc thôn Bà He, xã Sơn Tây Hạ (Quảng Ngãi) vẫn giữ được vẻ đẹp hoang sơ với làn nước trong xanh, mát lạnh quanh năm. Nơi đây có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch cộng đồng, sinh thái gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng người Ca Dong giữa đại ngàn Trường Sơn.

Vô Tranh phát triển kinh tế từ lợi thế cây chè, văn hóa và du lịch cộng đồng

Vô Tranh phát triển kinh tế từ lợi thế cây chè, văn hóa và du lịch cộng đồng

Tại chương trình “Trải nghiệm Vô Tranh - Dấu ấn xứ Trà, hành trình một năm kiến tạo vươn tầm và phát triển”, xã Vô Tranh, tỉnh Thái Nguyên đã giới thiệu tiềm năng, lợi thế trong phát triển kinh tế nông nghiệp, văn hóa trà và du lịch cộng đồng. Sự kiện là dịp quảng bá hình ảnh vùng chè Vô Tranh, đồng thời mở ra hướng đi mới trong khai thác giá trị cây chè gắn với xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế xanh.

Thác Lủng Páng điểm đến hoang sơ giữa núi rừng Thái Nguyên

Thác Lủng Páng điểm đến hoang sơ giữa núi rừng Thái Nguyên

Nằm tại xã Phong Quang, trên cung đường mới kết nối thành phố Bắc Kạn cũ với hồ Ba Bể, thác Lủng Páng đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn của du lịch Thái Nguyên, phù hợp với du khách yêu thiên nhiên, thích trekking và khám phá vẻ đẹp nguyên bản của vùng Việt Bắc.

Lào Cai hút khách quốc tế chi tiêu cao

Lào Cai hút khách quốc tế chi tiêu cao

Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai, 6 tháng đầu năm 2026, tổng thu từ khách du lịch trên địa bàn tăng cao, đạt 25.370 tỷ đồng, xấp xỉ 50% kế hoạch năm. Con số này không chỉ phản ánh sức hút của du lịch Lào Cai đối với du khách trong và ngoài nước mà còn thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ trong hành vi tiêu dùng khi du khách, đặc biệt là khách nước ngoài sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho các trải nghiệm hấp dẫn tại địa phương.