Giữ nghề dệt lanh, nối dài mạch nguồn văn hóa Mông

Giữ nghề dệt lanh, nối dài mạch nguồn văn hóa Mông

Trải qua nhiều thế hệ, nghề dệt lanh đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của đồng bào Mông ở xã Lùng Tám, tỉnh Tuyên Quang. Từ cây lanh trên nương, qua bàn tay khéo léo của người phụ nữ Mông, những sợi lanh được se, dệt, nhuộm, thêu thành những tấm vải mang đậm dấu ấn văn hóa dân tộc.

Trải qua nhiều thế hệ, nghề dệt lanh đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của đồng bào Mông ở xã Lùng Tám, tỉnh Tuyên Quang. Từ cây lanh trên nương, qua bàn tay khéo léo của người phụ nữ Mông, những sợi lanh được se, dệt, nhuộm, thêu thành những tấm vải mang đậm dấu ấn văn hóa dân tộc.

Ngày nay, nghề truyền thống này tiếp tục được trao truyền cho thế hệ trẻ; đồng thời từng bước gắn với phát triển sản phẩm hàng hóa và du lịch, mở thêm sinh kế để những sợi lanh mộc mạc tiếp tục nối dài mạch nguồn văn hóa Mông trên vùng Cao nguyên đá.

*Từ cây lanh trên nương đến tấm vải mang hồn người Mông

lanh-10816.jpg
Nghệ nhân thực hiện các công đoạn chế tác vải lanh truyền thống của đồng bào Mông ở Lùng Tám (Tuyên Quang). Ảnh: Đức Thọ/TTXVN

Nghề dệt lanh ở Lùng Tám (Tuyên Quang) đã gắn với đời sống của người Mông vùng Cao nguyên đá qua nhiều thế hệ. Trước đây, cây lanh được trồng trên nương, sợi lanh sau khi chế biến chủ yếu được dùng để làm quần áo, đồ dùng trong gia đình. Những bé gái Mông từ nhỏ đã được bà, mẹ chỉ dạy từng công đoạn để khi trưởng thành có thể tự làm nên bộ trang phục truyền thống của mình.

Theo bà Vàng Thị Mai, Giám đốc Hợp tác xã Lanh Lùng Tám, nghề dệt lanh trước đây gắn chặt với đời sống gia đình. Từ cây lanh trên nương, người phụ nữ tự tay tước sợi, nối sợi, se lanh, dệt thành vải rồi may trang phục. Đó không chỉ là công việc mà còn là cách người Mông gìn giữ những giá trị văn hóa của dân tộc.

Nghề được trao truyền chủ yếu bằng hình thức truyền nghề trực tiếp, từ mẹ sang con, từ bà sang cháu. Qua nhiều thế hệ, các kỹ thuật xử lý sợi, dệt vải, nhuộm, thêu và tạo hoa văn vẫn được gìn giữ.

Để một cây lanh trở thành tấm vải phải trải qua nhiều công đoạn. Sau khi thu hoạch, thân lanh được tước lấy phần vỏ, tách thành những dải sợi. Sợi được làm sạch, rồi từng đoạn ngắn được nối lại thành một mạch dài. Đây là công đoạn đòi hỏi sự khéo léo bởi mối nối phải chắc nhưng không được thô.

Sợi tiếp tục được se cho đều và đủ độ săn trước khi đưa lên khung. Người dệt ngồi bên khung cửi, chân nhịp đều, tay đưa thoi qua từng lượt sợi. Mỗi nhịp thoi là một phần của tấm vải dần hiện lên. Giá trị của vải lanh Lùng Tám không chỉ nằm ở chất liệu mà còn ở những hoa văn được tạo nên sau đó.

Tại hợp tác xã Lanh Lùng Tám, nghệ nhân Sùng Thị Cỏ gần 100 tuổi vẫn được nhắc đến như một trong những người lưu giữ kỹ thuật truyền thống. Dù tuổi cao, hình ảnh bà bên những tấm vải, kiên nhẫn chỉ lại cách làm cho lớp trẻ đã trở thành câu chuyện đẹp về giữ nghề truyền thống. Bà Vàng Thị Mai cho hay, kỹ thuật vẽ hoa văn bằng sáp ong đòi hỏi người làm phải có kinh nghiệm và sự tinh tế. Sáp ong được làm mềm, dùng để tạo các đường nét trên mặt vải, sau đó đến khâu nhuộm vải. Những phần có sáp không bắt màu, từ đó hiện lên các hoa văn trên nền vải. Cùng với vẽ sáp ong, các kỹ thuật thêu cũng góp phần tạo nên vẻ riêng của sản phẩm. Những đường nét, hình khối được sắp xếp hài hòa trên trang phục, túi, khăn hay các sản phẩm thủ công, tạo nên dấu ấn thẩm mỹ riêng của người Mông.

Dưới tán cây rợp bóng mát của hợp tác xã, em Sùng Thị Vá, 12 tuổi (xã Lùng Tám) đang học thêu hoa văn. Em ngồi chăm chú bên những người phụ nữ lớn tuổi, chậm rãi đưa từng mũi kim, sợi chỉ. Có đường thêu chưa đều, em tháo ra rồi làm lại. Là một trong những học sinh đang được các nghệ nhân hướng dẫn học nghề, với em, những buổi học không chỉ giúp biết thêm một nghề thủ công mà còn là cơ hội hiểu hơn về những gì bà, mẹ và các thế hệ trước đã làm.

lanh-10816a.jpg
Nghệ nhân thực hiện các công đoạn chế tác vải lanh truyền thống của đồng bào Mông ở Lùng Tám (Tuyên Quang). Ảnh: Đức Thọ/TTXVN

Sùng Thị Vá chia sẻ: “Cháu muốn học để biết thêu hoa văn, biết làm những sản phẩm của người Mông. Các bà, các cô chỉ từng bước nên cháu thấy càng học càng thích”.

Từ cây lanh trên nương đến tấm vải mang hồn người Mông là hành trình kết tinh sự khéo léo, bền bỉ và tình yêu văn hóa của bao thế hệ. Hôm nay, những sợi lanh vẫn được nối dài, mang theo bản sắc truyền thống và mở ra những sinh kế mới cho người dân Lùng Tám.

Giữ nghề bằng sinh kế, đưa văn hóa gần du khách

Nghề dệt lanh Lùng Tám đang có thêm hướng phát triển khi gắn với du lịch. Từ những tấm vải truyền thống, hợp tác xã cùng người dân làm ra quần áo, khăn, gối, túi, ví và các sản phẩm thủ công tạo hình con vật.

Theo bà Vàng Thị Mai, muốn giữ được nghề phải có người làm nghề và có đầu ra cho sản phẩm. Vì vậy, hợp tác xã vừa duy trì các công đoạn thủ công truyền thống vừa nghiên cứu thêm những sản phẩm phù hợp với nhu cầu của du khách. Khi đến đây, du khách có thể trực tiếp xem các công đoạn tước sợi, se lanh, dệt, thêu, nhuộm; đồng thời mua những sản phẩm được làm từ lanh về làm quà.

lanh-10816b.jpg
Nghệ nhân Sùng Thị Cỏ, gần 100 tuổi, Lùng Tám (Tuyên Quang) thực hiện kỹ thuật vẽ hoa văn bằng sáp ong trên vải lanh truyền thống. Ảnh: Đức Thọ/TTXVN

Trong không gian đậm sắc màu văn hóa vùng Cao nguyên đá, Hợp tác xã Lanh Lùng Tám thường xuyên đón du khách đến tham quan, trải nghiệm. Bên khung dệt, nhiều người chăm chú theo dõi từng động tác của người thợ, thích thú khám phá hành trình từ sợi lanh thô đến tấm vải hoàn chỉnh và những hoa văn được tạo nên qua đôi bàn tay khéo léo.

Du khách nước ngoài đặc biệt ấn tượng với quy trình thủ công và câu chuyện văn hóa phía sau mỗi sản phẩm. Vì thế, một chiếc túi, chiếc ví hay món đồ lưu niệm không chỉ mang giá trị sử dụng mà còn chứa đựng câu chuyện về cây lanh, người thợ và bản sắc văn hóa Mông được trao truyền qua nhiều thế hệ.

Theo ông Nguyễn Mạnh Tùng, Trưởng phòng Kinh tế xã Lùng Tám, địa phương xác định bảo tồn nghề dệt lanh phải gắn với phát triển kinh tế và du lịch, vừa gìn giữ bản sắc văn hóa vừa tạo việc làm, thu nhập cho người dân. Thời gian tới, xã tiếp tục hỗ trợ các hợp tác xã, hộ làm nghề trong việc truyền nghề cho thế hệ trẻ, quảng bá, kết nối du lịch và mở rộng thị trường, qua đó tạo đầu ra ổn định để nghề dệt lanh được gìn giữ và phát triển bền vững.

lanh-10816c.jpg
Nghệ nhân Sùng Thị Cỏ, gần 100 tuổi, Lùng Tám (Tuyên Quang) thực hiện kỹ thuật vẽ hoa văn bằng sáp ong trên vải lanh truyền thống. Ảnh: Đức Thọ/TTXVN

Từ định hướng đó, Lùng Tám đang từng bước biến không gian sản xuất thành không gian trải nghiệm. Du khách không chỉ đến để mua một sản phẩm mà còn có thể nhìn thấy cả quá trình sản phẩm được tạo ra. Chính điều này làm tăng giá trị của nghề và giúp câu chuyện văn hóa Mông được kể một cách tự nhiên.

Những sợi lanh được nối từ nhiều đoạn ngắn. Nghề truyền thống cũng được kết nối từ nhiều thế hệ. Khi sợi lanh còn được se, khung dệt còn vang tiếng thoi và lớp trẻ còn muốn học nghề, những giá trị văn hóa Mông ở Lùng Tám vẫn còn cơ hội tiếp tục sống trong đời sống hiện đại./.

Dân tộc Mông

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...

Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.

Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt.jpg
Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt

: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).

Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung.jpg
Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mông

Có thể bạn quan tâm

Gian hàng không đồng - Ấm tình quân dân nơi biên giới

Gian hàng không đồng - Ấm tình quân dân nơi biên giới

Từ những bao gạo, bộ quần áo, đôi dép đến vật dụng thiết yếu được trao tận tay người dân nghèo, các “Gian hàng không đồng” đang trở thành điểm sẻ chia ấm áp trên nhiều địa bàn biên giới tỉnh Nghệ An.

Tạo môi trường học tập chất lượng, bình đẳng cho học sinh dân tộc thiểu số

Tạo môi trường học tập chất lượng, bình đẳng cho học sinh dân tộc thiểu số

Thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về "đột phá phát triển giáo dục và đào tạo", tỉnh Khánh Hòa đã và đang tập trung nâng cấp hạ tầng, qui hoạch và sắp xếp bài bản mô hình trường lớp, bảo đảm đầy đủ điều kiện dạy và học cho thầy trò nơi đất liền, vùng sâu, vùng xa và biển đảo.

Hỗ trợ sinh kế bền vững cho đồng bào vùng biên thoát nghèo

Hỗ trợ sinh kế bền vững cho đồng bào vùng biên thoát nghèo

Ngày 8/9, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Quảng Trị phối hợp với Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị và Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Bắc Ninh tổ chức Chương trình “Đồng hành cùng phụ nữ Biên cương” năm 2026 tại thôn Pa Hy, xã Đakrông. Hoạt động góp phần hỗ trợ sinh kế bền vững cho phụ nữ đồng bào có hoàn cảnh khó khăn ở khu vực biên giới.

Gian hàng không đồng - Ấm tình quân dân nơi biên giới

Gian hàng không đồng - Ấm tình quân dân nơi biên giới

Từ những bao gạo, bộ quần áo, đôi dép đến những vật dụng thiết yếu được trao tận tay người dân nghèo, các “Gian hàng không đồng” đang trở thành những điểm sẻ chia ấm áp trên nhiều địa bàn biên giới tỉnh Nghệ An. 

Tiếp sức vùng biên phát triển kinh tế từ vốn ưu đãi

Tiếp sức vùng biên phát triển kinh tế từ vốn ưu đãi

Thành phố Đồng Nai hiện có 8 xã biên giới tiếp giáp với Campuchia, với hầu hết xã đều có điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu tốt, phù hợp phát triển trồng trọt, chăn nuôi. Trước đây, do thiếu vốn nên việc sản xuất của người dân gặp nhiều khó khăn. Những năm gần đây, tận dụng nguồn vốn chính sách và các nguồn hợp pháp khác, người dân các xã biên giới đẩy mạnh phát triển kinh tế, nhiều hộ vươn lên làm giàu, góp phần xây dựng vùng biên thịnh vượng.

Ghi nhận những chiến công đặc biệt của Bộ đội Biên phòng trên tuyến biên giới

Ghi nhận những chiến công đặc biệt của Bộ đội Biên phòng trên tuyến biên giới

Ngày 7/9, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Vĩnh Long tổ chức lễ đón nhận Huân chương Chiến công hạng Nhì. Đây là sự ghi nhận cao quý của Đảng và Nhà nước đối với những cống hiến của tập thể cán bộ, chiến sĩ trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Định hướng xây dựng 5 phường trung tâm Đà Lạt thành đô thị loại II

Định hướng xây dựng 5 phường trung tâm Đà Lạt thành đô thị loại II

Với quy mô quy hoạch khoảng 68.000 ha, dân số dự kiến gần 757.000 người và khoảng gần 17,5 triệu lượt khách du lịch vào năm 2050, tỉnh Lâm Đồng định hướng xây dựng 5 phường Xuân Hương - Đà Lạt, Lâm Viên - Đà Lạt, Cam Ly - Đà Lạt, Xuân Trường - Đà Lạt và Lang Biang - Đà Lạt trở thành đô thị loại II, phát triển năng động, bền vững; đồng thời là trung tâm du lịch, dịch vụ, văn hóa, khoa học và đổi mới sáng tạo của tỉnh và vùng Duyên hải Nam Trung Bộ - Tây Nguyên.

Tìm đầu ra, nâng giá trị 'quốc bảo' sâm Ngọc Linh

Tìm đầu ra, nâng giá trị 'quốc bảo' sâm Ngọc Linh

Quốc bảo sâm Ngọc Linh là sản vật quý hiếm, mang giá trị dược tính cao, sinh trưởng trên vùng núi Ngọc Linh với độ cao hơn 1.500 m. Tuy công tác gieo trồng, chăm sóc sâm rất khó khăn, gian khổ, nhưng những năm gần đây, giá bán các sản phẩm từ sâm Ngọc Linh liên tục giảm, khiến bà con vùng trồng sâm rất lo lắng.

Khai thác lợi thế đất đỏ bazan, nâng tầm nông nghiệp phía Tây Lâm Đồng

Khai thác lợi thế đất đỏ bazan, nâng tầm nông nghiệp phía Tây Lâm Đồng

Sở hữu diện tích đất sản xuất nông nghiệp lớn, nhiều vùng đất đỏ bazan màu mỡ cùng điều kiện khí hậu thuận lợi, khu vực phía Tây tỉnh Lâm Đồng có nhiều lợi thế phát triển nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn. Các ngành hàng chủ lực như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu và một số loại cây ăn quả đang tạo sinh kế, thu nhập cho hàng chục nghìn hộ dân.

Khẩn trương đưa dân vùng thiên tai về khu tái định cư trước mùa mưa lũ

Khẩn trương đưa dân vùng thiên tai về khu tái định cư trước mùa mưa lũ

Những ngày này, không khí tháo dỡ và dựng nhà trên công trường khu tái định cư và khu dân cư Bôn Jứ, xã Ia Tul (tỉnh Gia Lai) đâu đâu cũng nhộn nhịp, hăng hái và đầy quyết tâm. Mục tiêu là phấn đấu hoàn thành việc di dời 207 hộ dân vùng thiên tai Bôn Jứ về khu tái định cư mới trước cao điểm mùa mưa lũ.

Đánh thức nội lực trên những bản người Mông

Đánh thức nội lực trên những bản người Mông

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, không gian phát triển ở nhiều địa bàn bản Mông ở Phú Thọ được mở rộng, tạo thêm điều kiện liên kết nguồn lực, phát triển sản xuất và du lịch.

Mở hướng sinh kế mới ở xã biên giới Lũng Cú từ mô hình đảng viên đi trước

Mở hướng sinh kế mới ở xã biên giới Lũng Cú từ mô hình đảng viên đi trước

Trên vùng cao nguyên đá khắc nghiệt, nơi đất sản xuất ít, nước sinh hoạt còn thiếu, xã biên giới Lũng Cú, tỉnh Tuyên Quang đang lựa chọn cách làm cụ thể để tạo sinh kế cho người dân: cán bộ, đảng viên đi trước xây dựng mô hình, người dân cùng làm; chuyển những diện tích ngô năng suất thấp và đất hoang hóa sang cây trồng có giá trị, đồng thời gắn sản xuất với doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm. Những mô hình bước đầu đang mở thêm hướng giảm nghèo cho địa phương nơi cực Bắc Tổ quốc.

Khắc phục sạt lở, thông tuyến đường Đồng Nai đi Lâm Đồng

Khắc phục sạt lở, thông tuyến đường Đồng Nai đi Lâm Đồng

Ngày 6/9, tuyến đường ĐT.755B, đoạn qua xã Phước Sơn, thành phố Đồng Nai, xảy ra sự cố đất tràn xuống mặt đường do mưa lớn kéo dài, gây ách tắc giao thông cục bộ. Sau hơn 1 giờ khắc phục, tuyến đường đã được thông tuyến, các phương tiện lưu thông bình thường.

Từ sinh kế giữ rừng đến 'lá chắn xanh' vùng biên

Từ sinh kế giữ rừng đến 'lá chắn xanh' vùng biên

Hơn 10 năm qua, nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Đăk Ơ, Bù Gia Mập (thành phố Đồng Nai) đã gắn bó với rừng qua mô hình nhận khoán bảo vệ. Việc triển khai hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng không chỉ mang lại sinh kế bền vững cho hàng trăm hộ dân vùng đệm Vườn quốc gia Bù Gia Mập mà còn góp phần bảo vệ “lá phổi xanh” nơi biên cương.

Tuổi trẻ đồng hành, kiến tạo môi trường an toàn, sạch khỏe cho học sinh vùng khó

Tuổi trẻ đồng hành, kiến tạo môi trường an toàn, sạch khỏe cho học sinh vùng khó

Hướng tới chào mừng kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam (15/10/1956 - 15/10/2026), ngày 5/9, tại điểm trường Làng Cát, Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Đakrông (xã Đakrông, tỉnh Quảng Trị), Hội Thầy thuốc trẻ Trung ương, Công ty Unilever Việt Nam, nhãn hàng Lifebuoy và Ban Thường vụ Tỉnh đoàn, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam tỉnh Quảng Trị đã phối hợp tổ chức chương trình “An toàn sạch khỏe - Bé vui tới trường”. Đây là hoạt động ý nghĩa góp phần cụ thể hóa Đề án “Tuổi trẻ Quảng Trị đồng hành với thanh thiếu nhi vùng biên giới giai đoạn 2025 - 2030”.

Chợ tiền tỷ ngóng... tiểu thương

Chợ tiền tỷ ngóng... tiểu thương

Chợ Mai Pha, phường Đông Kinh, tỉnh Lạng Sơn sau khi được đầu tư xây dựng với hạ tầng cơ bản đồng bộ đã đi vào hoạt động từ ngày 1/7/2026. Tuy nhiên, số lượng tiểu thương đăng ký kinh doanh ít, lượng khách chưa hình thành, trong khi một bộ phận người dân vẫn giữ thói quen mua bán tại các khu vực chợ cóc và điểm kinh doanh truyền thống. Thực trạng trên đặt ra yêu cầu cần sớm có giải pháp để phát huy hiệu quả công trình, tránh nguy cơ lãng phí nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước...

Nâng bước những mầm xanh nơi biên cương

Nâng bước những mầm xanh nơi biên cương

Trong không khí cả nước khai giảng năm học mới 2026 - 2027, ngày 5/9, lãnh đạo Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị cùng cán bộ, chiến sĩ các đơn vị trên hai tuyến biên giới của tỉnh đã đồng hành với thầy, trò nơi phên dậu Tổ quốc. Với tinh thần trách nhiệm, tình yêu thương, những người lính mang “quân hàm xanh” đang lặng thầm góp phần chăm lo, tiếp sức cho học sinh, nhất là các em có hoàn cảnh khó khăn, vững bước đến trường.

Khai giảng năm học mới 2026-2027: Tiếp thêm động lực nâng cao chất lượng giáo dục

Khai giảng năm học mới 2026-2027: Tiếp thêm động lực nâng cao chất lượng giáo dục

Cùng với học sinh cả nước, học sinh, sinh viên tại các địa phương như Tây Ninh, Điện Biên, Gia Lai và Cần Thơ bước vào năm học mới 2026-2027. Tại các địa bàn miền núi, biên giới, nhiều trường nội trú liên cấp được đầu tư đồng bộ, tạo điều kiện để trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em dân tộc thiểu số và con em gia đình chính sách được học tập và rèn luyện.

Lễ khai giảng đặc biệt ở lớp học tình thương

Lễ khai giảng đặc biệt ở lớp học tình thương

Khi nhiều sân trường trên địa bàn tỉnh rộn ràng tiếng trống khai giảng, tại Lớp học tình thương, điểm dạy học sinh khuyết tật miễn phí ở xã Thọ Phong, tỉnh Quảng Ngãi, ngày hội đến trường diễn ra theo một cách rất riêng.

Rộn ràng trước giờ khai giảng tại trường phổ thông nội trú liên cấp nơi biên giới

Rộn ràng trước giờ khai giảng tại trường phổ thông nội trú liên cấp nơi biên giới

Ngay từ sáng sớm 5/9, tại Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Sơn Thủy, xã Sơn Thủy, tỉnh Thanh Hóa, không khí chuẩn bị cho Lễ khai giảng năm học 2026-2027 và khánh thành các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới trên phạm vi toàn quốc đã diễn ra khẩn trương, trang trọng.

Tuổi trẻ vùng biên khơi mở 'dòng chảy số' nơi phên dậu Tổ quốc

Tuổi trẻ vùng biên khơi mở 'dòng chảy số' nơi phên dậu Tổ quốc

Không bắt đầu từ những khái niệm lớn lao, chuyển đổi số tại các xã miền núi, biên giới tỉnh Quảng Trị đang dần đi vào đời sống từ chính những thao tác thiết thực hàng ngày: từ sử dụng điện thoại thông minh, tra cứu thông tin chính thống, thực hiện dịch vụ công trực tuyến đến thanh toán không tiền mặt.

Cuộc sống của học sinh trường phổ thông nội trú liên cấp vùng biên giới Lai Châu

Cuộc sống của học sinh trường phổ thông nội trú liên cấp vùng biên giới Lai Châu

Cơ sở vật chất khang trang, hiện đại, đầy đủ tiện nghi tại các trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và THCS ở vùng biên giới tỉnh Lai Châu như: Pa Tần, Phong Thổ, Hua Bum, Bum Nưa…đang là điểm nhấn nổi bật về sự đổi thay trong giáo dục tại vùng biên giới. Không chỉ dạy con chữ, cuộc sống của học sinh nơi đây ngày càng được chăm lo đầy đủ về vật chất, không gian sinh hoạt, giúp các em phát triển toàn diện.