Hơn 80 hộ dân xã Bum Nưa (Lai Châu) mong sớm có nơi an cư

Nà Hừ là bản đông dân nhất xã biên giới Bum Nưa (Lai Châu) với 290 hộ, trên 1.520 nhân khẩu, 100% đồng bào dân tộc Thái. Mỗi mùa mưa lũ đến, nỗi lo về một nơi ở an toàn vẫn là điều trăn trở của hơn 80 hộ dân nơi đây.

Việc sớm bố trí nguồn vốn triển khai dự án bố trí nơi ở mới không chỉ giải quyết bài toán đất ở cho hơn 80 hộ dân mà còn góp phần xây dựng khu dân cư an toàn, ổn định, từng bước hoàn thiện diện mạo nông thôn mới nơi vùng biên viễn Lai Châu.

an-cu-2684.jpg
Dân số bản Nà Hừ ngày một tăng trong khi quỹ đất hạn hẹp bởi phía sau là QL 4H, phía trước là dòng suối khiến cho không gian sinh hoạt vô cùng chật hẹp.
an-cu-7437.jpg
Những ngôi nhà sàn ở bản Nà Hừ nằm san sát nhau khiến cuộc sống người dân nơi đây gặp không ít khó khăn.
Những ngôi nhà nằm san sát nhau ở bản Nà Hừ.

Những ngôi nhà nằm san sát nhau ở bản Nà Hừ.

Nhiều gia đình cả 3 thế hệ ở trong một ngôi nhà chưa đầy 100 mét vuông, không có vườn hay đất tăng gia sản xuất.

Nhiều gia đình cả 3 thế hệ ở trong một ngôi nhà chưa đầy 100 mét vuông, không có vườn hay đất tăng gia sản xuất.

an-cu-30092026.jpg
Bản Nà Hừ nằm sát bên dòng suối Nậm Bụm, phía sau giáp với Ql 4H khiến quỹ đất không thể mở rộng thêm, trong khi dân số ngày một tăng theo thời gian.
an-cu-4445.jpg
Năm 2019, bản Nà Hừ bị ảnh hưởng không nhỏ bởi mưa lũ, đến nay, dân số ngày một tăng, trong đó có hơn 80 hộ dân muốn được giãn dân đến nơi ở mới.
an-cu-9872.jpg
Những ngôi nhà nằm san sát nhau của bản Nà Hừ khiến cho không gian sống bị bó hẹp.
Những ngôi nhà nằm san sát nhau khiến cuộc sống, sinh hoạt của người dân bản Nà Hừ gặp nhiều khó khăn.

Những ngôi nhà nằm san sát nhau khiến cuộc sống, sinh hoạt của người dân bản Nà Hừ gặp nhiều khó khăn.

Quý Trung/TTXVN
Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

Ở: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Thái

Có thể bạn quan tâm

Kết nối nguồn lực, chung tay giảm nghèo

Kết nối nguồn lực, chung tay giảm nghèo

Tỉnh Phú Thọ tiếp tục huy động các nguồn lực xã hội để chăm lo cho hộ nghèo, cận nghèo và những hoàn cảnh khó khăn. Bên cạnh hỗ trợ nhà ở, sinh kế, học tập, việc rà soát từng trường hợp để có hình thức giúp đỡ phù hợp đang được chú trọng, nhằm bảo đảm chính sách an sinh đến đúng đối tượng, góp phần giảm nghèo bền vững.

HĐND tỉnh Lào Cai thông qua 23 nghị quyết quan trọng

HĐND tỉnh Lào Cai thông qua 23 nghị quyết quan trọng

Chiều 15/10, Hội đồng nhân dân tỉnh Lào Cai khóa XVII, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức Kỳ họp thứ 6 (kỳ họp chuyên đề) và thông qua 23 nghị quyết quan trọng về phát triển kinh tế, xã hội cho những tháng còn lại của năm 2026.

Kết nối nguồn lực, đưa y tế và nhu yếu phẩm về vùng biên giới biển

Kết nối nguồn lực, đưa y tế và nhu yếu phẩm về vùng biên giới biển

Trong hai ngày 14 và 15/10/2026, tại phường Vĩnh Phước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Cần Thơ phối hợp cùng chính quyền địa phương, các đơn vị đồng hành và Đoàn Y bác sĩ thiện nguyện thành phố Hồ Chí Minh tổ chức chương trình “Khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo, cấp thuốc miễn phí và tặng quà từ thiện" cho người dân có hoàn cảnh khó khăn khu vực biên giới biển.

Trải nghiệm độc đáo trong mùa nước nổi miền Tây

Trải nghiệm độc đáo trong mùa nước nổi miền Tây

Mỗi mùa nước nổi về, những cánh đồng vùng đầu nguồn biên giới An Giang lại mênh mông sóng nước. Giữa không gian đồng quê khoáng đạt, tắm đồng trở thành thú vui của người dân và trải nghiệm độc đáo thu hút du khách.

Gia Lai: Xác minh được liệt sĩ Nguyễn Thanh Trì tại Ia Dom

Gia Lai: Xác minh được liệt sĩ Nguyễn Thanh Trì tại Ia Dom

Ngày 14/10, thông tin từ Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh cho biết, lực lượng chức năng tỉnh Gia Lai đã xác minh được thông tin trên tấm bia nhôm tìm thấy cùng hài cốt liệt sĩ tại xã Ia Dom, xác định tên liệt sĩ là Nguyễn Thanh Trì, hy sinh ngày 18/5/1970.

Phổ cập kỹ năng số từ tuyên truyền sang trải nghiệm an toàn

Phổ cập kỹ năng số từ tuyên truyền sang trải nghiệm an toàn

Từ hướng dẫn người dân cài đặt, sử dụng VNeID, thực hiện dịch vụ công trực tuyến đến hỗ trợ thanh toán không dùng tiền mặt, các tổ công nghệ số cộng đồng tại Tây Ninh đang từng bước đưa chuyển đổi số đi vào đời sống bằng những việc làm cụ thể.

Gia Lai đặt mục tiêu giảm tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi

Gia Lai đặt mục tiêu giảm tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi

Năm 2025, tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi tại khu vực phía Tây tỉnh Gia Lai là 21,9%, cao hơn mức 14,6% ở khu vực phía Đông. Tương tự, tỷ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi tại khu vực phía Tây là 16,8%, trong khi khu vực phía Đông là 11,2%. Sự chênh lệch này cho thấy yêu cầu cấp thiết phải nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe trẻ em tại các địa bàn khó khăn.

Gỡ khó cho hành trình đến lớp ở Lượng Minh

Gỡ khó cho hành trình đến lớp ở Lượng Minh

Nằm cạnh khe suối, ở khu vực trũng thấp, Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Lượng Minh, xã Lượng Minh, tỉnh Nghệ An thường xuyên đối mặt nguy cơ ngập lụt mỗi khi mưa lớn.

Quảng Trị: Mưa lũ gây thiệt hại, nhiều bản làng bị cô lập

Quảng Trị: Mưa lũ gây thiệt hại, nhiều bản làng bị cô lập

Chiều 10/10, Văn phòng Thường trực Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự tỉnh Quảng Trị cho biết, mưa lớn kéo dài đã gây sạt lở nhiều tuyến giao thông, chia cắt một số bản làng tại các xã miền núi, đồng thời gây thiệt hại về sản xuất nông nghiệp và công trình thủy lợi. Đặc biệt, một phụ nữ ở xã Dân Hóa bị nước lũ cuốn trôi, hiện các lực lượng chức năng đang khẩn trương tổ chức tìm kiếm.

Quảng Trị: Mưa lũ diễn biến phức tạp, nhiều khu vực bị ngập

Quảng Trị: Mưa lũ diễn biến phức tạp, nhiều khu vực bị ngập

Ngày 10/10, mưa lớn kéo dài khiến tình hình lũ trên các sông ở tỉnh Quảng Trị tiếp tục diễn biến phức tạp, nhiều ngầm tràn, tuyến đường bị ngập sâu, ảnh hưởng đến giao thông và đời sống người dân. Trước nguy cơ mất an toàn do mưa lũ, chính quyền địa phương và các lực lượng chức năng đang tăng cường kiểm tra, cảnh báo, triển khai các biện pháp ứng phó nhằm bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản của người dân.

Nâng cao hiệu quả tuyên truyền, củng cố thế trận lòng dân miền núi

Nâng cao hiệu quả tuyên truyền, củng cố thế trận lòng dân miền núi

Ngày 9/10, tại bản Eo Bù - Chút Mút, xã Kim Ngân, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh và Hội Chữ thập đỏ tỉnh Quảng Trị phối hợp tổ chức chương trình “Thời sự về bản” quý III/2026, kết hợp tuyên truyền, chăm lo đời sống và hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân địa phương.