Hà Giang: Đưa sản phẩm thổ cẩm truyền thống vào hoạt động du lịch

Những người phụ nữ Lô Lô tự may, thêu trang phục cho mình. Ảnh: Nam Thái – TTXVN
Những người phụ nữ Lô Lô tự may, thêu trang phục cho mình. Ảnh: Nam Thái – TTXVN

Đến thăm bản du lịch cộng đồng Lô Lô Chải (xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang), nhiều du khách bị thu hút bởi những bộ trang phục truyền thống rực rỡ, được phụ nữ Lô Lô tự tay thêu thùa với nhiều hoa văn, họa tiết đặc sắc. Từ lâu nay, đồng bào Lô Lô đã đưa các sản phẩm thổ cẩm truyền thống vào phục vụ du lịch, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao thu nhập.

Độc đáo hoa văn trang phục người Lô Lô

Người Lô Lô là một trong 16 dân tộc rất ít người ở Việt Nam với hai nhánh là Lô Lô đen và Lô Lô hoa, sinh sống chủ yếu tại hai huyện Lũng Cú, Mèo Vạc (tỉnh Hà Giang) và huyện Bảo Lạc (tỉnh Cao Bằng). Văn hóa dân gian Lô Lô đa dạng, đặc sắc, thể hiện qua các điệu nhảy múa, hát ca, truyện cổ... cùng cách thêu, ghép vải thành hoa văn trang trí hoa văn trên khăn, áo, váy, quần có nét riêng biệt.

Với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ trời đất, thần núi, thần rừng…, hoa văn trên trang phục của người Lô Lô đen ở bản Lô Lô Chải (xã Lũng Cú, Đồng Văn) cũng là các họa tiết biểu trưng cho trời - đất, thần linh, thiên nhiên, cây cỏ, động vật xung quanh…

Hà Giang: Đưa sản phẩm thổ cẩm truyền thống vào hoạt động du lịch ảnh 1Lúc nông nhàn, những người phụ nữ Lô Lô thường tập trung tại nhà văn hóa cộng đồng để thêu thổ cẩm. Ảnh: Nam Thái – TTXVN

Chị Vàng Thị Xuyến (nghệ nhân thêu thổ cẩm tại bản Lô Lô Chải) cho biết, điểm nhấn trong trang phục truyền thống của người Lô Lô Chải là hoa văn được tạo hình từ việc đính những chiếc khuy sát gần nhau, tạo thành hàng theo mép khăn, mũ, tay áo, thân áo, yếm… của người phụ nữ Lô Lô Chải. Những hàng khuy đó thể hiện cho sự đoàn kết, gắn kết thành một cộng đồng của đồng bào dân tộc Lô Lô.

Chị Vàng Thị Xuyến chia sẻ, chị được học thêu từ khi còn rất nhỏ. Từ khi 7 - 8 tuổi, bà, mẹ đã dạy chị cách thêu, ghép vải tạo hình hoa văn truyền thống. Vì thế, đến khi 12 - 13 tuổi, chị đã thành thạo việc thêu thùa, bắt đầu tự làm cho mình những bộ trang phục truyền thống. Phụ nữ Lô Lô không dùng khung thêu mà chỉ cầm miếng vải để thêu. Do đó, các đường kim mũi chỉ đòi hỏi đôi tay rất khéo léo.

Tiến sỹ Lò Giàng Páo (nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, nhà dân tộc học người Lô Lô) cho biết, hoa văn trên trang phục của người Lô Lô đã được các nhà nghiên cứu đánh giá ở tầm giá trị nghệ thuật, có tính thẩm mỹ cao. Hoa văn cách điệu mang tính biểu trưng, có ý nghĩa và được phối hợp nhuần nhuyễn như một tác phẩm nghệ thuật tạo hình chứ không chỉ đơn thuần là tái hiện các hình ảnh cuộc sống thường nhật lên trang phục như nhiều dân tộc khác.

Hà Giang: Đưa sản phẩm thổ cẩm truyền thống vào hoạt động du lịch ảnh 2Những mảnh vải nhỏ hình tam giác, các họa tiết… được ghép với nhau để tạo ra những hình thể mới đa dạng. Ảnh: Nam Thái - TTXVN

Giá trị nghệ thuật của những hoa văn trên trang phục truyền thống của đồng bào Lô Lô đã được công nhận, nghệ thuật trang trí trên trang phục của người Lô Lô đen xã Lũng Cú đã được ghi danh là Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia loại hình tri thức dân gian nghề thủ công truyền thống. Đây là niềm vinh dự, tự hào của người dân Lô Lô Chải, đặc biệt là với phụ nữ, khi hoa văn trên trang phục của họ, những sản phẩm thêu thùa trong đời sống thường nhật đã trở thành Di sản văn hóa phi vật thể của quốc gia.

Khai thác sản phẩm truyền thống phục vụ du lịch

Du lịch cộng đồng ở Lô Lô Chải phát triển mạnh mẽ, ngày càng có nhiều du khách đến tham quan, nghỉ lại, vừa để chiêm ngưỡng vẻ đẹp hùng vĩ nơi Cực Bắc Tổ quốc, vừa trải nghiệm văn hóa, tìm hiểu phong tục, tập quán của người dân địa phương. Cùng với sự phát triển của du lịch cộng đồng, các dịch vụ khác cũng phát triển theo, trong đó có các sản phẩm thủ công truyền thống do phụ nữ Lô Lô Chải thêu thùa được nhiều du khách ưa chuộng. Đặc biệt là dịch vụ thuê trang phục truyền thống của đồng bào Lô Lô chụp ảnh lưu niệm.

Hà Giang: Đưa sản phẩm thổ cẩm truyền thống vào hoạt động du lịch ảnh 3Những người phụ nữ Lô Lô tự may, thêu trang phục cho mình. Ảnh: Nam Thái – TTXVN

Vừa giúp du khách mặc bộ trang phục truyền thống của dân tộc mình, chị Lù Thị Vấn (chủ quán cà phê Cực Bắc, thôn Lô Lô Chải) chia sẻ, phụ nữ Lô Lô thường rất cẩn thận, tỉ mỉ, phải mất thời gian rất lâu mới có thể hoàn thành một sản phẩm thổ cẩm. Trung bình, một bộ quần áo truyền thống chị phải mất khoảng 2 - 3 năm mới có thể hoàn thành. Để đáp ứng được nhu cầu của du khách, phụ nữ ở Lô Lô Chải vẫn thường xuyên gặp nhau, chia sẻ kinh nghiệm và giúp nhau nâng cao kỹ năng thêu thùa, làm thêm mẫu mã sản phẩm mới phục vụ du khách, vừa gìn giữ được nghề truyền thống của dân tộc, vừa có thêm thu nhập cho gia đình.

Xúng xính trong bộ trang phục thổ cẩm rực rỡ của phụ nữ Lô Lô, chị Hiền Chi (du khách đến từ Hà Nội) cho biết, đây là lần đầu tiên chị đến tham quan làng văn hóa du lịch Lô Lô Chải, được trải nghiệm những nét đặc sắc của văn hóa, ẩm thực của đồng bào nơi đây.

“Phong cảnh nơi đây thật đẹp, thật yên bình. Đặc biệt, tôi rất thích thú vẻ đẹp rực rỡ và những hoa văn, họa tiết cầu kỳ của bộ trang phục truyền thống của phụ nữ Lô Lô, nên muốn mặc thử và chụp ảnh để làm kỷ niệm”, chị Hiền Chi chia sẻ.

Chị Lù Thị Vấn cho biết, mỗi bộ trang phục chị cho thuê mặc một lần với giá 100.000 đồng. Ở Lô Lô Chải, các gia đình có làm du lịch cộng đồng đều có những bộ trang phục cho khách thuê mặc, dịch vụ này được rất nữ du khách ưa chuộng. Gia đình chị có thêm thu nhập từ dịch vụ này.

Hà Giang: Đưa sản phẩm thổ cẩm truyền thống vào hoạt động du lịch ảnh 4Trang phục truyền thống được người Lô Lô đen ở Lũng Cú (Hà Giang) sử dụng thường xuyên, đặc biệt trong các dịp Lễ, Tết và những ngày quan trọng. Ảnh: Nam Thái – TTXVN

Không chỉ trải nghiệm mặc thử trang phục và chụp ảnh lưu niệm, du khách khi đến tham quan thôn Lô Lô Chải còn có thể mua những sản phẩm thổ cẩm quà tặng như: ví, túi xách, vỏ gối, khăn trải bàn, đồ lưu niệm... do phụ nữ Lô Lô Chải làm ra với những hoa văn độc đáo, mang đặc trưng văn hóa Lô Lô. Các sản phẩm thổ cẩm này vừa là di sản văn hóa truyền thống giúp du khách hiểu sâu sắc hơn về đời sống sinh hoạt của người Lô Lô, vừa là “tài sản” đặc biệt, giúp các chị em có thêm thu nhập, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống cho gia đình.

Phương Hà

(TTXVN)
Dân tộc Lô Lô

Tên tự gọi: Lô Lô.

Tên gọi khác: Mùn Di, Di, Màn Di, La La, Qua La, Ô Man, Lu Lộc Màn.

Nhóm địa phương: Lô Lô hoa và Lô Lô đen.

Dân số: 4.541 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến (ngữ hệ Hán-Tạng), gần với Miến hơn.

Lịch sử: Họ là cư dân có mặt rất sớm ở vùng cực bắc của Hà Giang.

Hoạt động sản xuất: Người Lô Lô chủ yếu làm ruộng nước và nương định canh với các cây trồng chính như lúa nếp, lúa tẻ và ngô. Chăn nuôi gia đình tương đối phát triển và là một nguồn lợi đáng kể.

Ăn: Người Lô Lô chủ yếu ăn ngô bằng cách xay thành bột đồ chín. Bữa ăn phải có canh. Họ thường dùng bát và thìa bằng gỗ.

Mặc: Phụ nữ có nhóm mặc áo cổ tròn, xẻ ngực, có nhóm mặc áo cổ vuông chui đầu, quần chân què, có nơi bên ngoài còn quấn xà cạp. Trang trí trên y phục bằng hoa văn chắp ghép những mảng vải màu to. Họ có sử dụng hoa văn in bằng sáp ong.

Lò Thị Vân (dân tộc Lô Lô, Mèo Vạc, Hà Giang).jpg
Lò Thị Vân (dân tộc Lô Lô, Mèo Vạc, Hà Giang)

: Tuỳ từng nơi họ sống trong ba loại nhà: nhà trệt, nhà sàn hoặc nhà nửa sàn nửa đất ở các huyện Ðồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang), Bảo Lạc (Cao Bằng), Mường Khương (Lào Cai).

Phương tiện vận chuyển: Người Lô Lô quen dùng gùi đan bằng mây, giang, có hai quai để chuyên chở; địu trẻ em trên lưng khi đi xa hoặc lúc làm việc.

Quan hệ xã hội: Người Lô Lô sống tập trung trong các bản tương đối ổn định. Tính cộng đồng tộc người thể hiện rõ nét.

Có hơn 30 dòng họ khác nhau. Mỗi dòng họ thường quần tụ trong phạm vi một làng bản, thờ cúng chung một ông tổ và có một khu nghĩa địa riêng nằm trong nghĩa địa chung của công xã. Người Lô Lô thích các quan hệ hôn nhân nội tộc người và thực hiện nguyên tắc ngoại hôn giữa các dòng họ.

Cưới xin: Phong tục cưới xin của người Lô Lô mang nặng tính gả bán với việc thách cưới cao (bạc trắng, rượu, thịt...). Sau hôn nhân, cô dâu cư trú bên chồng. Con trai cô có thể lấy con gái cậu song không được ngược lại.

Sinh đẻ: Phụ nữ khi mang thai phải kiêng kỵ nhiều trong chế độ ăn uống và sản xuất. Sản phụ đẻ ở nhà với sự giúp đỡ của bà mụ trong bản. Sau 12 ngày làm lễ đặt tên cho con và có thể đổi tên nếu đứa trẻ hay khóc hoặc chậm lớn.

Ma chay: Tang ma có nhiều lễ thức độc đáo như hoá trang, nhảy múa, đánh lộn... Dấu vết của tục săn đầu còn thể hiện khá rõ ở hiện tượng một người luôn đeo chiếc túi vải có đựng khúc gỗ hay quả bầu có vẽ mặt người trong tang lễ.

Thờ cúng: Người Lô Lô thờ cúng tổ tiên, bố mẹ và những người thân đã mất. Trên bàn thờ có những bài vị hình nhân bằng gỗ, vẽ mặt bằng than đen. Linh hồn giữ vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh.

Lễ tết: Tết Nguyên đán như người Hán và người Việt. Ngoài ra còn có tục ăn Cơm mới, tết Ðoan ngọ, Rằm tháng Bảy...

Lịch: Họ sử dụng lịch truyền miệng chia năm thành 11 tháng, mỗi tháng tương ứng với một con vật.

Học: Khoảng thế kỷ thứ 14 người Lô Lô đã có chữ tượng hình với 140 bộ thủ. Người ta dùng phương pháp ghép bộ thủ để diễn đạt nghĩa. Chữ được ghi trên các tấm gỗ mỏng, trên da thú hoặc loại giấy dày, thô. Tới nay chỉ có một số gia đình còn giữ lại được một vài mảnh có ghi lại loại chữ đó mà ít ai đọc được.

Văn nghệ: Là một trong số ít các dân tộc ở nước ta hiện nay còn sử dụng trống đồng trong sinh hoạt. Trống đồng là một nhạc cụ truyền thống của người Lô Lô gắn liền với huyền thoại về nạn hồng thuỷ. Truyện kể rằng: xưa có nạn lụt lớn, nước dâng cao đến tận trời. Có hai chị em nhờ trời cứu để chị vào trống đồng to, em vào trống đồng nhỏ. Hai chị em thoát chết nhờ trống nổi lên mặt nước. Hết lụt họ ở trên núi, sống với nhau thành vợ, thành chồng. Họ là thuỷ tổ của loài người tái sinh.

Trống đồng với tư cách là nhạc khí chỉ được dùng trong đám tang, giữ nhịp cho các điệu múa dân gian của cộng đồng. Quan niệm về âm dương, sự sinh sôi nảy nở có lẽ còn được bảo tồn rõ ràng với lối hoà tấu hai trống đực và cái cùng một lúc. Trống treo trên giá đặt ở phía chân người chết; mặt của hai trống quay lại với nhau. Người đánh trống đứng ở giữa, cầm dùi đánh bằng hai đầu, cứ một đầu dùi đánh một trống. Chỉ những người đàn ông chưa vợ hoặc có vợ không ở trong thời kỳ thai nghén mới được đánh trống.

Trống đồng không những là một tài sản quý, một nhạc cụ độc đáo mà còn là một khí cụ mang tính chất tôn giáo. Có tiếng trống đồng thì hồn người chết mới tìm được đường về nơi sinh tụ đầu tiên của tổ tiên. Chỉ có trong đám ma mới đánh trống đồng. Ngày thường, người ra chôn trống dưới đất ở nơi sạch sẽ, kín đáo.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Lô Lô

Có thể bạn quan tâm

Phát triển du lịch sinh thái - 'chìa khóa' giữ màu xanh đại ngàn

Phát triển du lịch sinh thái - 'chìa khóa' giữ màu xanh đại ngàn

Dưới những tán rừng xanh ở xã Thông Nguyên (Tuyên Quang), người Dao đỏ nơi đây đang có một cách làm mới để tăng thu nhập và bảo vệ rừng. Những cây thuốc từng chỉ được dùng trong mỗi gia đình nay trở thành sản phẩm chăm sóc sức khỏe phục vụ du khách; món ăn, nghề làm giấy dó, tiếng khèn, điệu múa và nếp sinh hoạt truyền thống được đưa vào các chương trình trải nghiệm. Từ những giá trị vốn có của bản làng, du lịch dần mở ra sinh kế mới cho người dân, đồng thời tạo thêm động lực bảo vệ cảnh quan và gìn giữ văn hóa.

Công nghiệp văn hóa tạo dư địa mới cho tăng trưởng

Công nghiệp văn hóa tạo dư địa mới cho tăng trưởng

Từ tiếng khèn Mông giữa miền đá, điệu Then bên những nếp nhà sàn, nghi lễ Nhảy lửa của người Pà Thẻn đến nghề thủ công, ẩm thực và các không gian văn hóa cộng đồng, Tuyên Quang sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa phong phú được bồi đắp qua nhiều thế hệ.

Chứng tích độc đáo của nền văn minh Óc Eo

Chứng tích độc đáo của nền văn minh Óc Eo

Giữa vùng đất Tây Ninh ngày nay, tháp Chót Mạt vẫn lặng lẽ hiện diện, lưu giữ những dấu tích của nền văn minh Óc Eo. Từ những viên gạch cổ và dáng tháp độc đáo, di tích không chỉ kể câu chuyện về một lớp trầm tích văn hóa xa xưa, mà còn mở ra tiềm năng phát huy giá trị lịch sử gắn với du lịch.

Tạo động lực mới cho phát triển du lịch Mẫu Sơn

Tạo động lực mới cho phát triển du lịch Mẫu Sơn

Mẫu Sơn là dãy núi cao nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Lạng Sơn với đỉnh Phjia Mè cao 1.520 m so với mực nước biển. Nhờ khí hậu mát mẻ quanh năm và cảnh quan thiên nhiên đặc sắc, từ thời Pháp thuộc, nơi đây đã được biết đến là điểm nghỉ dưỡng nổi tiếng ở miền Bắc.

Cù Lao Xanh, bình yên nơi đầu sóng

Cù Lao Xanh, bình yên nơi đầu sóng

Nằm cách đất liền khoảng 24km, xã Nhơn Châu, tỉnh Gia Lai, thường được biết đến với tên gọi Cù Lao Xanh, đang từng bước chuyển mình từ một làng đảo chủ yếu sống bằng nghề biển thành điểm đến du lịch giàu tiềm năng. Giữa nhịp phát triển mới, Cù Lao Xanh vẫn giữ nguyên vẻ yên bình với phiên chợ sớm, âu thuyền tấp nập, những tuyến bờ kè hướng biển và cuộc sống mộc mạc của người dân nơi đầu sóng. 

Rừng ngập nước Bầu Đá mở hướng phát triển du lịch cộng đồng

Rừng ngập nước Bầu Đá mở hướng phát triển du lịch cộng đồng

Nằm ở phía Đông tỉnh Đắk Lắk, rừng Bầu Đá (xã Hòa Thịnh) được xem là cánh rừng ngập nước duy nhất nơi đây. Không chỉ gây ấn tượng bởi những tán rừng trải dài soi bóng dưới làn nước tĩnh lặng, rừng ngập nước Bầu Đá còn là mái nhà của nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Địa phương đang nỗ lực gìn giữ giá trị và phát huy tiềm năng du lịch, tạo thêm sinh kế cho người dân.

Trải nghiệm sắc màu văn hóa chợ phiên vùng cao xứ Nghệ

Trải nghiệm sắc màu văn hóa chợ phiên vùng cao xứ Nghệ

Ở miền Tây Nghệ An, những chợ phiên vùng cao, biên giới nổi tiếng như Mường Quạ (xã Môn Sơn), Mường Chon (xã Bình Chuẩn), Tri Lễ (xã Tri Lễ), Nga My (xã Nga My), Nhôn Mai (xã Nhôn Mai)… không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa mà còn là không gian văn hóa sống động, đặc sắc, nơi lưu giữ phong tục, tập quán và bản sắc đặc trưng của cộng đồng các dân tộc Thái, Đan Lai, Khơ Mú, Mông, Ơ Đu...

Thanh Hóa du lịch trải nghiệm nâng tầm sức hút du lịch

Thanh Hóa du lịch trải nghiệm nâng tầm sức hút du lịch

Trong chiến lược phát triển du lịch, ngoài khai thác các giá trị văn hóa, lịch sử, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ, nhiều xã, phường của tỉnh Thanh Hóa đang kiến tạo những không gian trải nghiệm mới, hấp dẫn, từ du lịch sinh thái đến khám phá đời sống văn hóa cộng đồng, ẩm thực địa phương, tạo sức hút để nâng tầm du lịch Thanh Hóa trong giai đoạn mới.

Từ sinh kế bền vững đến 'phên dậu' nơi biển khơi

Từ sinh kế bền vững đến 'phên dậu' nơi biển khơi

Mỗi hòn đảo tiền tiêu có một cách mưu sinh riêng, nhưng đều đứng trước cùng một bài toán: làm sao để người dân có thể sống được trên chính quê hương mình. Từ Cù Lao Xanh, Cù Lao Chàm đến Lý Sơn, hành trình tìm lời giải cho sinh kế bền vững không chỉ mở ra hướng phát triển kinh tế biển mà còn góp phần giữ những cộng đồng cư dân bám biển, bám đảo như những "phên dậu" vững chắc giữa trùng khơi.

Đột phá chính sách cho du lịch vùng cao

Đột phá chính sách cho du lịch vùng cao

Du lịch Điện Biên đang đứng trước thời cơ phát triển mới khi lượng khách và doanh thu liên tục tăng trưởng sau nhiều năm tập trung đầu tư hạ tầng, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa.

Bản sắc văn hóa tạo nên sức hút du lịch

Bản sắc văn hóa tạo nên sức hút du lịch

Việt Nam là một đất nước giàu bản sắc văn hóa với hàng nghìn năm lịch sử. Mỗi địa phương đều mang trong mình một câu chuyện riêng. Từ những phong tục tập quán, lễ hội truyền thống, làng nghề lâu đời đến những giá trị được trao truyền qua nhiều thế hệ, tất cả đã tạo nên một bức tranh văn hóa đặc sắc, tạo nên sức hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.

Năm Du lịch quốc gia 2026: Gia Lai ra mắt loạt điểm đến mới

Năm Du lịch quốc gia 2026: Gia Lai ra mắt loạt điểm đến mới

Ngày 9/7, tại phường Quy Nhơn Nam, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai đã chính thức công bố, giới thiệu và trao Quyết định công nhận các Điểm du lịch của tỉnh. Đây là hoạt động thiết thực chào mừng kỷ niệm 65 năm Ngày thành lập ngành Du lịch Việt Nam.

Khuân Bang đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng từ bản sắc dân tộc Tày

Khuân Bang đánh thức tiềm năng du lịch cộng đồng từ bản sắc dân tộc Tày

Giữa không gian thanh bình của núi đồi và những nếp nhà sàn truyền thống dân tộc Tày, thôn Khuân Bang, xã Chợ Mới, tỉnh Thái Nguyên đang từng bước khai thác tiềm năng du lịch cộng đồng. Không chỉ mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho người dân, mô hình này còn góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc Tày.

Phát triển du lịch bền vững từ giá trị bản sắc

Phát triển du lịch bền vững từ giá trị bản sắc

Không ít địa phương sở hữu cảnh quan đẹp, di sản quý hay những lễ hội đặc sắc nhưng không phải nơi nào cũng có thể biến những giá trị ấy thành động lực phát triển kinh tế bền vững. Với Tuyên Quang, văn hóa không còn chỉ hiện diện trong các bảo tàng, lễ hội hay ký ức cộng đồng mà đang từng bước khẳng định vai trò là nguồn lực nội sinh, tạo nên sức hấp dẫn riêng cho du lịch. 

Tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng giữa đại ngàn Trường Sơn

Tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng giữa đại ngàn Trường Sơn

Điểm du lịch sinh thái Hồ Rà Hách - Suối Ruông, thuộc thôn Bà He, xã Sơn Tây Hạ (Quảng Ngãi) vẫn giữ được vẻ đẹp hoang sơ với làn nước trong xanh, mát lạnh quanh năm. Nơi đây có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch cộng đồng, sinh thái gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng người Ca Dong giữa đại ngàn Trường Sơn.

Vô Tranh phát triển kinh tế từ lợi thế cây chè, văn hóa và du lịch cộng đồng

Vô Tranh phát triển kinh tế từ lợi thế cây chè, văn hóa và du lịch cộng đồng

Tại chương trình “Trải nghiệm Vô Tranh - Dấu ấn xứ Trà, hành trình một năm kiến tạo vươn tầm và phát triển”, xã Vô Tranh, tỉnh Thái Nguyên đã giới thiệu tiềm năng, lợi thế trong phát triển kinh tế nông nghiệp, văn hóa trà và du lịch cộng đồng. Sự kiện là dịp quảng bá hình ảnh vùng chè Vô Tranh, đồng thời mở ra hướng đi mới trong khai thác giá trị cây chè gắn với xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế xanh.

Thác Lủng Páng điểm đến hoang sơ giữa núi rừng Thái Nguyên

Thác Lủng Páng điểm đến hoang sơ giữa núi rừng Thái Nguyên

Nằm tại xã Phong Quang, trên cung đường mới kết nối thành phố Bắc Kạn cũ với hồ Ba Bể, thác Lủng Páng đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn của du lịch Thái Nguyên, phù hợp với du khách yêu thiên nhiên, thích trekking và khám phá vẻ đẹp nguyên bản của vùng Việt Bắc.

Lào Cai hút khách quốc tế chi tiêu cao

Lào Cai hút khách quốc tế chi tiêu cao

Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai, 6 tháng đầu năm 2026, tổng thu từ khách du lịch trên địa bàn tăng cao, đạt 25.370 tỷ đồng, xấp xỉ 50% kế hoạch năm. Con số này không chỉ phản ánh sức hút của du lịch Lào Cai đối với du khách trong và ngoài nước mà còn thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ trong hành vi tiêu dùng khi du khách, đặc biệt là khách nước ngoài sẵn sàng chi trả nhiều hơn cho các trải nghiệm hấp dẫn tại địa phương.