Đây là cơ hội để người lao động được tiếp cận thị trường lao động quốc tế, giảm bớt gánh nặng chi phí ban đầu, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống gia đình, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững tại địa phương.
Cơ hội cải thiện kinh tế gia đình
Tại xã Nhị Trường, địa phương có đồng bào dân tộc Khmer chiếm gần 70% dân số, việc đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài được xem là một trong những giải pháp tạo việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân.
Gia đình chị Thạch Thị Na Rinh là điển hình hiệu quả của việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài gắn với duy trì, phát triển sản xuất tại địa phương.
Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2023, con gái chị Na Rinh là Thạch Thị Sô Ly có nguyện vọng sang Nhật Bản làm việc để có thu nhập, phụ giúp cha mẹ, cải thiện đời sống gia đình. Tuy nhiên, với điều kiện kinh tế còn hạn chế, gia đình khó có khả năng tự lo khoản chi phí ban đầu gần 200 triệu đồng để con tham gia chương trình. Được địa phương hướng dẫn, gia đình tiếp cận nguồn vốn vay của Ngân hàng Chính sách xã hội số tiền 120 triệu đồng để Sô Ly thực hiện nguyện vọng.
Làm việc tại Nhật Bản, Sô Ly có thu nhập ổn định hàng tháng khoảng 27-30 triệu đồng, vừa trang trải chi phí sinh hoạt, hoàn trả khoản vay để đi làm việc ở nước ngoài. Sau một năm em đã trả xong nợ vay, từ năm thứ 2 bắt đầu phụ giúp cha mẹ mỗi tháng 12 triệu đồng. Hoàn thành hợp đồng, Sô Ly tiếp tục gia hạn thời gian làm việc tại Nhật Bản.
Chị Thạch Thị Na Rinh cho biết, nguồn tiền con gái gửi về giúp gia đình trả hết khoản nợ vay, ổn định kinh tế và có thêm điều kiện duy trì sản xuất. Hiện gia đình nuôi 11 con bò sinh sản, mỗi năm đàn bò sinh khoảng 3-4 con bê. Sau khoảng bảy tháng nuôi, bê được bán với giá khoảng 18-22 triệu đồng/con, mang lại nguồn thu ước tính 60-70 triệu đồng mỗi năm.
Ngoài chăn nuôi, gia đình còn canh tác 15 công lúa, sản xuất ba vụ mỗi năm với các giống chủ lực như Đài Thơm 8 và OM18, mang lại nguồn thu hơn 100 triệu đồng/năm. Nhờ đa dạng sinh kế, kết hợp nguồn thu từ lao động ở nước ngoài với chăn nuôi, trồng lúa giúp gia đình chị Na Rinh chủ động hơn trong chi tiêu và tích lũy.
Từ thực tế này, có thể thấy việc làm ở nước ngoài không chỉ tạo thu nhập cho người lao động mà còn bổ sung nguồn lực để gia đình phát triển sản xuất, từng bước ổn định cuộc sống.
Ông Sơn Ngọc Thia, cán bộ Phòng Văn hóa - Xã hội UBND xã Nhị Trường cho biết, thời gian qua, địa phương luôn chú trọng tuyên truyền về thị trường lao động, điều kiện tham gia và chính sách hỗ trợ của Nhà nước; đồng thời phối hợp với các doanh nghiệp hướng nghiệp, vận động học sinh sau tốt nghiệp trung học phổ thông không có nhu cầu học tiếp đại học, cao đẳng tìm hiểu cơ hội làm việc ở nước ngoài.
Theo ông Thia, người lao động thuộc đối tượng thụ hưởng được tiếp cận chính sách hỗ trợ vốn vay và một số khoản chi phí không hoàn lại như học ngoại ngữ, khám sức khỏe, làm thị thực theo quy định. Trong 7 tháng năm 2026, xã đã gửi hồ sơ đề nghị hỗ trợ chi phí không hoàn lại cho 40 lao động đã xuất cảnh; khoảng 60 lao động khác đang học tại các cơ sở đào tạo, chuẩn bị xuất cảnh.
Qua nắm tình hình, địa phương ghi nhận nhiều lao động sau khi hoàn thành hợp đồng có nhu cầu gia hạn thêm 3-5 năm. Thu nhập từ công việc ở nước ngoài giúp người lao động trang trải sinh hoạt, hỗ trợ gia đình sửa chữa nhà ở và tích lũy vốn phát triển sản xuất.
Ông Trần Văn An, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Nhị Trường cho biết, sau khi sáp nhập ba xã Nhị Trường, Trường Thọ và Hiệp Hòa, đồng bào Khmer chiếm gần 70% dân số toàn xã. Trước đây, đời sống một bộ phận người dân còn nhiều khó khăn; trong đó, hộ nghèo là đồng bào Khmer chiếm trên 80% tổng số hộ nghèo của xã.
Xác định giảm nghèo là nhiệm vụ quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, Đảng ủy, UBND xã quan tâm triển khai các chương trình hỗ trợ hộ nghèo phát triển sản xuất, chuyển đổi sản xuất nông nghiệp và tạo việc làm. Qua đó, người dân có thêm điều kiện cải thiện thu nhập, từng bước nâng cao đời sống.
Theo kết quả rà soát sơ bộ năm 2026, xã Nhị Trường giảm 20 hộ nghèo, đạt 285% chỉ tiêu tỉnh giao. Thời gian tới, địa phương tiếp tục thực hiện các giải pháp giảm nghèo, gắn hỗ trợ phát triển sản xuất với tạo việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người dân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.
Chính sách đồng hành cùng người lao động
Một trong những trở ngại lớn đối với người lao động nông thôn khi tham gia chương trình làm việc ở nước ngoài là khoản chi phí ban đầu. Ngoài các khoản liên quan đến đào tạo, học ngoại ngữ, khám sức khỏe, làm hộ chiếu, thị thực, người lao động còn phải chuẩn bị các điều kiện cần thiết theo yêu cầu của thị trường tiếp nhận. Đối với hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, việc huy động một khoản tiền lớn trong thời gian ngắn có thể là rào cản khiến người lao động bỏ lỡ cơ hội.
Để tháo gỡ khó khăn này, thời gian qua, tỉnh Vĩnh Long triển khai các chính sách hỗ trợ chi phí và tạo điều kiện tiếp cận vốn vay cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Mới đây, tỉnh tiếp tục thực hiện chính sách này theo Nghị quyết số 45/2026/NQ-HĐND ngày 15/7/2026 của HĐND tỉnh Vĩnh Long, người lao động thường trú trên địa bàn tỉnh có nhu cầu tham gia chương trình được hỗ trợ một lần theo chi phí thực tế phát sinh, trong phạm vi và mức hỗ trợ quy định.
Các khoản được hỗ trợ tập trung vào chi phí đào tạo giáo dục định hướng trước khi xuất cảnh; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề, ngoại ngữ và một số chi phí cần thiết khác như làm hộ chiếu, cấp phiếu lý lịch tư pháp, thị thực và khám sức khỏe.
Cụ thể, tỉnh hỗ trợ chi phí đào tạo giáo dục định hướng, chi phí đào tạo thực tế tối đa 371.000 đồng/người/khóa; hỗ trợ tiền ăn, sinh hoạt phí trong thời gian đào tạo 35.000 đồng/người/ngày; tiền ở tối đa 280.000 đồng/người/tháng và tiền đi lại 140.000 đồng/người/khóa đối với trường hợp cư trú cách địa điểm đào tạo từ 15 km trở lên.
Chi phí đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề và đào tạo ngoại ngữ được hỗ trợ tối đa 2,8 triệu đồng/người/khóa học cho mỗi nội dung. Các khoản lệ phí làm hộ chiếu, cấp phiếu lý lịch tư pháp, thị thực và chi phí khám sức khỏe được hỗ trợ theo mức quy định.
Bên cạnh hỗ trợ chi phí, việc hướng dẫn người lao động tiếp cận nguồn vốn vay chính sách cũng là giải pháp quan trọng. Thông qua sự phối hợp giữa chính quyền địa phương và Ngân hàng Chính sách xã hội, người lao động có thêm cơ hội chuẩn bị kinh phí tham gia chương trình, giảm áp lực phải huy động tiền từ gia đình hoặc vay mượn bên ngoài.
Theo Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Vĩnh Long, 9 tháng năm 2026, toàn tỉnh có 1.000 lao động được vay vốn tổng số tiền gần 90 tỷ đồng để đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Đến cuối tháng 9, dư nợ của chương trình này hơn 221,9 tỷ đồng với 4.353 khách hàng.
Để chính sách phát huy hiệu quả, công tác tuyên truyền, tư vấn cần được triển khai thường xuyên, giúp người lao động nắm rõ thông tin về thị trường, ngành nghề, điều kiện làm việc, các khoản chi phí, quyền lợi và nghĩa vụ trước khi đăng ký. Sự phối hợp giữa chính quyền cơ sở, doanh nghiệp dịch vụ, cơ sở đào tạo và ngân hàng góp phần giúp người lao động lựa chọn thị trường phù hợp, chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết, hạn chế rủi ro trong quá trình làm việc ở nước ngoài.
Năm 2026, Vĩnh Long đặt mục tiêu đưa 4.500 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Trong 9 tháng qua, toàn tỉnh đã đưa 4.022 lao động đi làm việc ở nước ngoài, đạt 89,3% kế hoạch năm.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn