Lai Châu: Ngày đêm tăng tốc thi công các trường học nội trú liên cấp

Giữa núi đá, sương mù và những cung đường cheo leo nơi biên giới Lai Châu, hàng nghìn kỹ sư, công nhân đang ngày đêm tăng tốc thi công các trường học nội trú liên cấp. “Chiến dịch 100 ngày đêm cao điểm” kể từ ngày 25/5 đã được chủ đầu tư là Công an tỉnh Lai Châu phát động với quyết tâm hoàn thành đúng tiến độ 3 dự án trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở tại các xã biên giới Pa Tần, Hua Bum và Bum Nưa.

Dân tộc Dao

Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).

Tên gọi khác: Mán.

Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).

Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.

Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.

Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.

Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.

Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...

Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.

Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.

Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.

Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.

Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.

Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.

: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.

Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.

Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.

Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.

Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.

Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.

Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.


Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.

Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.

Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.

Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.

Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.

Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Dao
Dân tộc Mông

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...

Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.

Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt.jpg
Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt

: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).

Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung.jpg
Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mông

Có thể bạn quan tâm

Thiên tai, mưa lũ và bài toán ứng phó

Thiên tai, mưa lũ và bài toán ứng phó

Từ ngày 15 đến ngày 18/7, mưa lớn tại Lai Châu, Điện Biên, Sơn La và Lào Cai đã làm 8 người chết và mất tích (5 người chết, 3 người mất tích) và 10 người bị thương. Lũ dữ đã cuốn phăng trên 255 tỷ đồng, nhiều công trình, nhà cửa bị hư hỏng, nhiều diện tích cây trồng, vật nuôi trôi theo dòng nước cuốn.

Khi phụ nữ Mông trở thành tuyên truyền viên pháp luật

Khi phụ nữ Mông trở thành tuyên truyền viên pháp luật

Tại khu vực biên giới tỉnh Nghệ An, Câu lạc bộ "Phụ nữ với pháp luật" ở bản Phá Lõm đang phát huy hiệu quả thiết thực. Nhờ cách tuyên truyền gần gũi bằng chính tiếng Mông của lực lượng Biên phòng, những người phụ nữ vùng cao không chỉ được nâng cao hiểu biết mà còn trực tiếp trở thành những tuyên truyền viên nòng cốt, góp phần giữ gìn bình yên cho bản làng nơi biên cương.

Tình cảm của người dân hướng về tâm lũ Mường Than

Tình cảm của người dân hướng về tâm lũ Mường Than

Ngay sau khi cơn lũ đi qua, hàng loạt chuyến xe chở đầy hàng hóa cứu trợ từ khắp nơi đã nối đuôi nhau hướng về xã Mường Than, tỉnh Lai Châu. Sự sẻ chia kịp thời từ cộng đồng, doanh nghiệp và các lực lượng vũ trang đang trở thành điểm tựa vững chắc, tiếp thêm sức mạnh để đồng bào vùng tâm lũ gượng dậy sau thiên tai.

Đẩy lùi hủ tục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tuyên Quang

Đẩy lùi hủ tục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tuyên Quang

Không áp đặt, không mệnh lệnh hành chính, bằng sự kiên trì tuyên truyền, vận động, nhiều địa phương ở Tuyên Quang đã tạo chuyển biến tích cực trong xóa bỏ hủ tục, xây dựng nếp sống văn minh, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số.

Đưa giáo dục pháp luật đến với đồng bào dân tộc thiểu số

Đưa giáo dục pháp luật đến với đồng bào dân tộc thiểu số

Tại xã Dũng Tiến (Phú Thọ), công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đang được đổi mới theo hướng bám sát thực tiễn, phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng và kết hợp hiệu quả với các nền tảng số để đưa pháp luật đến gần hơn với người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số.

Đẩy mạnh tuyên truyền, giảm tảo hôn ở vùng cao

Đẩy mạnh tuyên truyền, giảm tảo hôn ở vùng cao

Tại tỉnh Điện Biên, tình trạng tảo hôn vẫn xảy ra ở một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số do điều kiện kinh tế, trình độ dân trí và tập quán lạc hậu. Để từng bước đẩy lùi tình trạng này, các địa phương đang đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân.

Xây dựng 'xã không ma túy' ở vùng biên

Xây dựng 'xã không ma túy' ở vùng biên

Ma túy từng là nỗi lo thường trực ở nhiều bản làng vùng biên Điện Biên. Bằng sự vào cuộc đồng bộ của chính quyền, lực lượng Công an và người dân, nhiều địa phương đang từng bước xây dựng "xã không ma túy", tạo chuyển biến rõ nét về an ninh trật tự, mang lại cuộc sống bình yên cho đồng bào nơi phên dậu Tổ quốc.

Lào Cai giải bài toán thiếu cán bộ chuyên môn ở cơ sở

Lào Cai giải bài toán thiếu cán bộ chuyên môn ở cơ sở

Sau sáp nhập, chính quyền địa phương hai cấp vận hành theo hướng tinh gọn, nhưng nhiều xã, phường của tỉnh Lào Cai vẫn gặp khó khăn về thiếu cán bộ chuyên môn ở các lĩnh vực trọng yếu như đất đai, y tế, xây dựng. Điều này dẫn đến hiệu quả quản lý chưa cao. Việc giải bài toán thiếu cán bộ chuyên môn đang là yêu cầu đặt ra cho các địa phương.

Điểm tựa nơi phên dậu Tổ quốc

Điểm tựa nơi phên dậu Tổ quốc

Nơi những vùng biên còn nhiều gian khó, mỗi mái nhà mới được dựng lên không chỉ giúp người dân an cư, mà còn góp thêm một điểm tựa để giữ gìn biên cương Tổ quốc.

Vùng cao Điện Biên chủ động ứng phó mùa mưa lũ

Vùng cao Điện Biên chủ động ứng phó mùa mưa lũ

Mùa mưa đã bắt đầu tại tỉnh Điện Biên, kéo theo nguy cơ lũ quét, sạt lở đất ở nhiều địa bàn vùng cao. Trước những diễn biến thời tiết cực đoan, các địa phương đang chủ động triển khai nhiều giải pháp phòng, chống thiên tai, đồng thời đẩy nhanh sắp xếp dân cư khỏi vùng nguy hiểm nhằm bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản của người dân.

Sức bật kinh tế của xã vùng biên phía Tây Lâm Đồng

Sức bật kinh tế của xã vùng biên phía Tây Lâm Đồng

Từ một xã biên giới đặc biệt khó khăn, Quảng Trực - xã vùng biên phía Tây tỉnh Lâm Đồng đang từng bước "thay da đổi thịt". Nhờ mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát huy lợi thế đất đỏ bazan để phát triển cây mắc ca, cà phê gắn với chuỗi liên kết sản xuất và đầu tư hạ tầng, diện mạo vùng biên đang ngày một khởi sắc.

Đồng thuận sắp xếp thôn vùng biên Xứ Lạng

Đồng thuận sắp xếp thôn vùng biên Xứ Lạng

Nhằm tinh gọn bộ máy ở cơ sở và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, từ 1.646 thôn, tổ dân phố trước đây, tỉnh Lạng Sơn đã sắp xếp, tinh gọn xuống còn 923 thôn, tổ dân phố. Ở địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, đa số người dân đều bày tỏ đồng thuận vì lợi ích lâu dài của việc sắp xếp đơn vị dân cư.

Siết lại công tác lưu trú cho người nước ngoài để phòng chống tội phạm

Siết lại công tác lưu trú cho người nước ngoài để phòng chống tội phạm

Thời gian gần đây, công an tỉnh Lào Cai đã phát hiện một số ổ nhóm, đối tượng người nước ngoài thuê nhà dân, khách sạn, cơ sở lưu trú, chủ yếu trên địa bàn phường Lào Cai để tổ chức hoạt động lừa đảo trên không gian mạng. Thực tế này cho thấy, việc siết chặt quản lý lưu trú, tăng cường các biện pháp nghiệp vụ kiểm tra, giám sát từ cơ sở có người nước ngoài thuê lưu trú là giải pháp then chốt để chủ động nhận diện, ngăn chặn các ổ nhóm tội phạm từ sớm, từ xa.

Phụ nữ Tuyên Quang tích cực học tập nâng cao kỹ năng số

Phụ nữ Tuyên Quang tích cực học tập nâng cao kỹ năng số

Chuyển đổi số đang hiện diện trong mọi mặt của đời sống, từ đô thị đến vùng sâu, vùng xa. Tại Tuyên Quang, nhiều hội viên phụ nữ đang chủ động học tập, nâng cao kỹ năng số để ứng dụng công nghệ vào lao động, sản xuất, kinh doanh và cuộc sống hằng ngày.

Điện Biên nỗ lực trong phòng chống nạn tảo hôn

Điện Biên nỗ lực trong phòng chống nạn tảo hôn

Tảo hôn vẫn là một trong những vấn đề nhức nhối tại nhiều địa bàn vùng cao của tỉnh Điện Biên. Hệ lụy này không chỉ kéo theo đói nghèo, thất nghiệp mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tương lai của trẻ em và chất lượng dân số.

Lai Châu - Đánh thức tiềm năng, khơi nguồn cơ hội

Lai Châu - Đánh thức tiềm năng, khơi nguồn cơ hội

Lai Châu - miền đất nơi hội tụ những giá trị khác biệt về vị trí địa chiến lược, tài nguyên thiên nhiên, bản sắc văn hóa và khát vọng phát triển. Với quy hoạch đồng bộ, hạ tầng từng bước hoàn thiện cùng quyết tâm cải thiện môi trường đầu tư, Lai Châu đang mở ra cơ hội mới cho các nhà đầu tư trong hành trình phát triển bền vững.

Lào Cai phân công đảng viên phụ trách giúp đỡ hộ nghèo

Lào Cai phân công đảng viên phụ trách giúp đỡ hộ nghèo

Để góp phần đẩy nhanh quá trình xóa đói, giảm nghèo, Đảng ủy, chính quyền phường Nam Cường (tỉnh Lào Cai) đã phân công đảng viên, cơ quan, đơn vị... trực tiếp phụ trách, giúp đỡ từng hộ gia đình phát triển kinh tế, vươn lên thoát nghèo.

Chạm công nghệ - mở tương lai

Chạm công nghệ - mở tương lai

Phát huy tinh thần xung kích, sáng tạo, tuổi trẻ Lai Châu đang tích cực tham gia xây dựng chính quyền số, xã hội số và phát triển kinh tế số. Những việc làm thiết thực của đoàn viên, thanh niên góp phần thúc đẩy chuyển đổi số, xây dựng quê hương ngày càng văn minh, hiện đại.

Vĩnh Long: Đảm bảo vùng nguyên liệu bưởi da xanh xuất khẩu

Vĩnh Long: Đảm bảo vùng nguyên liệu bưởi da xanh xuất khẩu

Lô bưởi da xanh đầu tiên của Vĩnh Long vừa chinh phục thị trường Australia, mở thêm cơ hội xuất khẩu cùng cánh cửa chính ngạch sang Trung Quốc. Đây là động lực để địa phương đẩy mạnh xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, nâng cao chất lượng và giá trị cho loại trái cây đặc sản.

Nâng cao giá trị và thương hiệu khóm Tắc Cậu

Nâng cao giá trị và thương hiệu khóm Tắc Cậu

Để giải bài toán tiêu thụ cho hàng triệu trái khóm Tắc Cậu đang rớt giá, bà con An Giang đã tự mở lối đi riêng bằng cách khôi phục nghề làm bánh truyền thống. Dù còn nhiều khó khăn về máy móc, những nỗ lực tự thân này đang thắp lên hy vọng đổi đời cho nông sản địa phương nơi đây.