Lớp xóa mù chữ cho phụ nữ đồng bào xã biên giới Sam Mứn ở Điện Biên

Từ tháng 4/2026, xã Sam Mứn (tỉnh Điện Biên) đã mở lớp xóa mù chữ tại Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Na Ư với 21 học viên, thời gian học đến tháng 12/2026.

Đây là hoạt động thiết thực nhằm tạo điều kiện cho người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở các bản khó khăn, được tiếp cận tri thức, nâng cao khả năng đọc, viết và tính toán cơ bản. Thông qua việc huy động sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền, nhà trường và các đoàn thể, Sam Mứn phấn đấu nâng tỷ lệ người biết chữ mức độ 2 trong độ tuổi từ 15 đến 60 đạt từ 96% trở lên, góp phần duy trì vững chắc kết quả xóa mù chữ, nâng cao dân trí và thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương.

Lớp xóa mù chữ tại xã Sam Mứn có 21 học viên, 100% là phụ nữ dân tộc Mông.
Lớp xóa mù chữ tại xã Sam Mứn có 21 học viên, 100% là phụ nữ dân tộc Mông.
Giáo viên tận tình hướng dẫn từng học viên trong quá trình học tập, giúp phụ nữ dân tộc Mông ở xã vùng cao biên giới tự tin hơn trong hành trình chinh phục con chữ.
Giáo viên tận tình hướng dẫn từng học viên trong quá trình học tập, giúp phụ nữ dân tộc Mông ở xã vùng cao biên giới tự tin hơn trong hành trình chinh phục con chữ.
Giáo viên sử dụng thiết bị dạy học hiện đại kết hợp phương pháp giảng dạy trực quan, giúp học viên dễ tiếp thu kiến thức, nâng cao hiệu quả lớp học xóa mù chữ.
Giáo viên sử dụng thiết bị dạy học hiện đại kết hợp phương pháp giảng dạy trực quan, giúp học viên dễ tiếp thu kiến thức, nâng cao hiệu quả lớp học xóa mù chữ.
Cô giáo Nông Thị Mậu hướng dẫn học viên Sình Thị Nếnh đọc bài.
Cô giáo Nông Thị Mậu hướng dẫn học viên Sình Thị Nếnh đọc bài.
Giáo viên hướng dẫn học viên đọc bài, luyện tập kỹ năng đọc cho các học viên là phụ nữ dân tộc Mông tại xã Sam Mứn, tỉnh Điện Biên.
Giáo viên hướng dẫn học viên đọc bài, luyện tập kỹ năng đọc cho các học viên là phụ nữ dân tộc Mông tại xã Sam Mứn, tỉnh Điện Biên.
Niềm vui hiện rõ trên gương mặt những phụ nữ dân tộc Mông khi được học tập, giao lưu và từng bước làm chủ con chữ.
Niềm vui hiện rõ trên gương mặt những phụ nữ dân tộc Mông khi được học tập, giao lưu và từng bước làm chủ con chữ.
Học viên Vừ Thị Đớ, ở bản Hua Thanh, là một trong những học viên có thành tích học tập rất tốt, được giáo viên đánh giá cao.
Học viên Vừ Thị Đớ, ở bản Hua Thanh, là một trong những học viên có thành tích học tập rất tốt, được giáo viên đánh giá cao.
Mặc dù đa số các học viên đã nhiều tuổi nhưng tinh thần học tập rất nghiêm túc.

Mặc dù đa số các học viên đã nhiều tuổi nhưng tinh thần học tập rất nghiêm túc.

Các học viên trong lớp tích cực cùng nhau trao đổi, hỗ trợ nhau trong giờ học.

Các học viên trong lớp tích cực cùng nhau trao đổi, hỗ trợ nhau trong giờ học.

Từ những con chữ đầu tiên, các học viên chăm chú luyện đọc, luyện viết, từng bước hình thành kỹ năng cần thiết trong học tập.

Từ những con chữ đầu tiên, các học viên chăm chú luyện đọc, luyện viết, từng bước hình thành kỹ năng cần thiết trong học tập.

Giáo viên tận tình hướng dẫn từng học viên trong quá trình học tập, giúp phụ nữ dân tộc Mông ở xã vùng cao biên giới tự tin hơn trong hành trình chinh phục con chữ.
Giáo viên tận tình hướng dẫn từng học viên trong quá trình học tập, giúp phụ nữ dân tộc Mông ở xã vùng cao biên giới tự tin hơn trong hành trình chinh phục con chữ.
Ngoài học chữ, các học viên còn được rèn luyện kỹ năng tiếp nhận thông tin, mở rộng hiểu biết, góp phần nâng cao nhận thức.
Ngoài học chữ, các học viên còn được rèn luyện kỹ năng tiếp nhận thông tin, mở rộng hiểu biết, góp phần nâng cao nhận thức.
Trung Kiên/TTXVN
Dân tộc Mông

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...

Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.

Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt.jpg
Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt

Ở: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).

Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung.jpg
Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mông

Có thể bạn quan tâm

Nâng giá trị tài nguyên bản địa, tạo sinh kế bền vững

Nâng giá trị tài nguyên bản địa, tạo sinh kế bền vững

Vòng chung kết Cuộc thi Khởi nghiệp xanh 2026 quy tụ 34 dự án từ 18 tỉnh, thành phố đã mở ra nhiều hướng khai thác nông sản, dược liệu và văn hóa bản địa. Các nhóm khởi nghiệp đều đưa ra các dự án chú trọng đến chế biến, tận dụng phụ phẩm, gắn phát triển sản phẩm với bảo tồn và sinh kế cho cộng đồng.

Đắk Lắk: Phê bình Chủ tịch UBND các xã chậm trễ trong hoàn thành cơ sở dữ liệu đất đai

Đắk Lắk: Phê bình Chủ tịch UBND các xã chậm trễ trong hoàn thành cơ sở dữ liệu đất đai

Theo UBND tỉnh Đắk Lắk, thời gian qua, tỉnh quyết liệt chỉ đạo công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai và phấn đấu hoàn thành trong năm 2026. Tuy nhiên, đến nay một số địa phương chưa đảm bảo tiến độ theo kế hoạch, do đó lãnh đạo tỉnh yêu cầu phải đẩy nhanh quá trình triển khai, phê bình các xã, phường chậm trễ trong việc thực hiện.

Động lực mới cho giáo dục vùng biên Bình Liêu

Động lực mới cho giáo dục vùng biên Bình Liêu

Nhằm tinh gọn bộ máy và nâng cao chất lượng nuôi dạy học sinh vùng biên giới, Trường Phổ thông Nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Bình Liêu, thành phố Quảng Ninh vừa được thành lập trên cơ sở sáp nhập các cơ sở giáo dục địa phương.

Xã biên giới Sin Suối Hồ nâng cao chất lượng phục vụ người dân

Xã biên giới Sin Suối Hồ nâng cao chất lượng phục vụ người dân

Đẩy mạnh cải cách hành chính, lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo chất lượng phục vụ, thời gian qua, Trung tâm Phục vụ hành chính công xã biên giới Sin Suối Hồ, tỉnh Lai Châu đang từng bước đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính. 

Tạo sinh kế, mở lối thoát nghèo ở vùng cao Huế

Tạo sinh kế, mở lối thoát nghèo ở vùng cao Huế

Những năm qua, trên các bản làng vùng cao của xứ Huế, nhiều mô hình hỗ trợ giảm nghèo đã và đang gieo những mầm xanh hy vọng. Những chính sách thiết thực ấy đã trở thành điểm tựa vững chắc tiếp thêm nghị lực để đồng bào dân tộc thiểu số vượt qua gian khó, tự tay gây dựng sinh kế và tự tin mở ra con đường thoát nghèo bền vững.

Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong cộng đồng Chăm Islam

Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong cộng đồng Chăm Islam

Ban Đại diện Cộng đồng Chăm Hồi giáo Islam tỉnh An Giang đã đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, lồng ghép những những tình huống thực tế trong đời sống hàng ngày vào các buổi sinh hoạt tôn giáo, qua đó giúp bà con dễ hiểu và chấp hành tốt quy định của pháp luật.

Đề xuất mở rộng hỗ trợ ăn trưa cho học sinh vùng dân tộc thiểu số, miền núi

Đề xuất mở rộng hỗ trợ ăn trưa cho học sinh vùng dân tộc thiểu số, miền núi

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 66/2025/NĐ-CP ngày 12/3/2025 của Chính phủ quy định chính sách cho trẻ em nhà trẻ, học sinh, học viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo và cơ sở giáo dục có trẻ em nhà trẻ, học sinh hưởng chính sách.

Thanh Hóa phát huy vai trò chi bộ thôn trong phát triển kinh tế

Thanh Hóa phát huy vai trò chi bộ thôn trong phát triển kinh tế

Phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo ở cơ sở, nhiều chi bộ thôn, bản miền núi tỉnh Thanh Hóa đã vận động người dân phát triển kinh tế, giảm nghèo, hiến đất, góp công xây dựng hạ tầng, từng bước nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống.

Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho người dân vùng biên

Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho người dân vùng biên

Ngày 21/10, tại xã biên giới Ba Sơn, tỉnh Lạng Sơn, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn tổ chức tuyên truyền pháp luật về phòng, chống xuất nhập cảnh trái phép, tổ chức, môi giới cho người khác xuất nhập cảnh trái phép; vận chuyển trái phép hàng hóa, hàng cấm trên địa bàn khu vực biên giới năm 2026.

Mở rộng cơ hội việc làm cho lao động miền núi, vùng dân tộc

Mở rộng cơ hội việc làm cho lao động miền núi, vùng dân tộc

Đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đang được tỉnh Quảng Ngãi xác định là giải pháp quan trọng nhằm tạo việc làm, nâng cao thu nhập và thúc đẩy giảm nghèo bền vững, nhất là tại khu vực miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Với sự chủ động của chính quyền địa phương cùng các chính sách hỗ trợ thiết thực, nhiều thanh niên vùng cao đã mạnh dạn tiếp cận thị trường lao động nước ngoài, từng bước cải thiện đời sống gia đình và tích lũy nguồn lực phát triển kinh tế khi trở về quê hương.