Bảy giờ tối ở xóm Tân Kim, khi nhiều gia đình đã nghỉ ngơi sau một ngày lao động, căn phòng học tại điểm trường trong xóm vẫn sáng đèn. 18 học viên người Dao, tuổi từ 36 - 59, ngồi bên nhau, người nắn nót từng nét chữ, người ghé sát cuốn vở để ghép tiếng. Có người chưa từng biết đọc, biết viết; có người đã học chữ, nhưng lâu ngày không sử dụng nên quên nhiều...
Đồng bào đến lớp sau những giờ đi rẫy làm nương, chăn nuôi hoặc công việc thời vụ. Ở tuổi đã quen với công việc gia đình, cầm bút trở lại không dễ, nhưng mong muốn đọc được giấy tờ, viết được họ tên, sử dụng điện thoại hay tự đọc thông báo... trở thành động lực để họ kiên trì đến lớp.
Cô Hà Thị Phương chia sẻ: “Điều tôi ấn tượng nhất là sự ham học của các học viên. Dù tuổi đã cao và cuộc sống còn nhiều khó khăn, nhưng các cô, các bác, các anh chị em vẫn cố gắng đến lớp và học từng con chữ. Khả năng tiếp thu của học viên không đồng đều, tôi phải kiên nhẫn hướng dẫn từ đọc, viết đến làm toán, đồng thời tìm ví dụ gần gũi cuộc sống để bà con dễ hiểu, nhớ lâu...”.
Và bài học bắt đầu từ những điều quen thuộc như viết họ tên, đọc số điện thoại, xem ngày tháng, nhận biết thông tin trên giấy tờ hoặc tính tiền khi mua bán. Cô Phương cho học viên thực hành, động viên người còn ngại và điều chỉnh cách hướng dẫn theo từng người. Điều quan trọng là tạo được không khí học tập thoải mái, để học viên không sợ sai. Mỗi người tiến bộ một chút cũng cần được ghi nhận...
Kết quả là những người ban đầu không dám đọc trước lớp dần mạnh dạn hơn, người viết chậm bắt đầu tự hoàn thành những dòng chữ ngắn. Những phép tính đơn giản trước đây khiến họ lúng túng nay đã có thể tự thực hiện.
Trong số đó, ông Triệu Văn Chương, 59 tuổi, là trường hợp khiến cô Phương nhớ nhất. Sau hơn hai tháng học, ông đã có thể đọc cả một bài tập đọc, thậm chí hướng dẫn những học viên khác đọc đúng. Từ một người đến lớp học chữ, ông Chương dần hỗ trợ bạn học. Một câu chuyện khác khiến cô Phương xúc động là chị Lý Thị Xuân, sinh năm 1979. Ngày đầu đến lớp, chị còn e dè vì tuổi đã lớn và chưa biết một chữ nào. Thế nhưng, sau hơn hai tháng chăm chỉ, chị đã tự nhắn tin bằng điện thoại cho cô giáo.
“Mỗi khi một học viên tự đọc được một từ, viết được tên mình hoặc làm đúng một phép tính, tôi đều cảm thấy rất vui. Bởi phía sau một kết quả nhỏ như vậy là rất nhiều cố gắng của người học”, cô Phương chia sẻ.
Ở Tân Kim, học chữ gắn với nhu cầu thực tế. Người dân muốn đọc thông tin, hiểu giấy tờ, biết cách sử dụng thuốc theo hướng dẫn, liên lạc qua điện thoại và hỗ trợ con cháu trong học tập.
Theo ông Tạ Việt Hồng, Chủ tịch UBND xã Thần Sa, đến năm 2026, địa phương vẫn còn một số người trong độ tuổi lao động chưa biết đọc, biết viết hoặc sử dụng chữ chưa thành thạo, chủ yếu tập trung tại các xóm đặc biệt khó khăn. Thần Sa là xã vùng III, địa bàn rộng, nhiều xóm vùng cao và hơn 98% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số.
Tân Kim được lựa chọn mở lớp bởi đây là địa bàn còn nhiều người có nhu cầu học xóa mù chữ. Học viên đều là người Dao, không có điều kiện đến trường hoặc phải nghỉ học sớm để lao động, chăm lo gia đình. Không ít học viên còn gặp khó khăn do trong sinh hoạt hằng ngày chủ yếu sử dụng tiếng dân tộc.
Công việc nương rẫy, chăn nuôi và làm thuê thời vụ cũng khiến việc duy trì sĩ số không đơn giản... Để vận động người dân đến lớp, địa phương phối hợp với nhà trường, Ban Công tác Mặt trận và các đoàn thể ở xóm rà soát từng trường hợp, đến từng hộ gia đình tuyên truyền, vận động. Thời gian học phù hợp lịch lao động, địa điểm đặt ngay tại xóm để giảm đi lại. Trong quá trình học, giáo viên theo dõi sĩ số, động viên người nghỉ; trưởng xóm và các đoàn thể cùng nhắc nhở.
Nhờ đó, lớp học không chỉ là công việc của giáo viên, mà trở thành sự chung tay của cộng đồng. Sau hơn hai tháng, phần lớn học viên đã nhận biết chữ cái, ghép tiếng, đọc câu ngắn, viết họ tên và địa chỉ. Đáng chú ý là sự thay đổi về tâm lý.
Từ e ngại, nhiều học viên đã chủ động trao đổi với giáo viên và tự tin hơn khi thực hành. Với địa phương, xóa mù chữ không dừng ở hoàn thành một lớp học, mà còn là duy trì những con chữ sau khi lớp kết thúc.
UBND xã Thần Sa dự kiến tiếp tục theo dõi, đánh giá kết quả; phối hợp với trường học, thư viện và nhà văn hóa xóm tổ chức đọc sách, sinh hoạt học tập cộng đồng. Việc sử dụng chữ cũng được gắn với những nhu cầu mới, thiết thực hơn, như dịch vụ công trực tuyến, ứng dụng VNeID, tiếp cận thông tin chăm sóc sức khỏe và phát triển sinh kế của người dân.
Từ lớp học xóa mù chữ cho đồng bào Dao ở xã Thần Sa, sự kiên trì của người học, trách nhiệm của giáo viên, cùng sự chung tay của chính quyền, đang góp phần xóa bỏ mù chữ và mở thêm cơ hội học tập cho người dân vùng cao...
Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).
Tên gọi khác: Mán.
Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).
Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.
Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.
Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.
Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.
Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...
Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.
Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.
Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.
Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.
Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.
Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.
Ở: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.
Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.
Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.
Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.
Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.
Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.
Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.
Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.
Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.
Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.
Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.
Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.
Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.
Theo cema.gov.vn