Cô giáo đứng lớp 'xóa mù' cho đồng bào Dao ở Thái Nguyên

Hơn hai tháng đứng lớp xóa mù chữ cho 18 học viên người Dao ở xóm Tân Kim, xã Thần Sa (Thái Nguyên), cô giáo Hà Thị Phương vui mừng chứng kiến từng đổi thay của học trò, từ những người còn e dè, chưa biết chữ đến khi có thể tự đọc, viết và nhắn tin bằng điện thoại...

Bảy giờ tối ở xóm Tân Kim, khi nhiều gia đình đã nghỉ ngơi sau một ngày lao động, căn phòng học tại điểm trường trong xóm vẫn sáng đèn. 18 học viên người Dao, tuổi từ 36 - 59, ngồi bên nhau, người nắn nót từng nét chữ, người ghé sát cuốn vở để ghép tiếng. Có người chưa từng biết đọc, biết viết; có người đã học chữ, nhưng lâu ngày không sử dụng nên quên nhiều...

baotintuc_tr_cohp.png
Cô Phương đang dạy các học viên tập viết chữ đánh vần.

Đồng bào đến lớp sau những giờ đi rẫy làm nương, chăn nuôi hoặc công việc thời vụ. Ở tuổi đã quen với công việc gia đình, cầm bút trở lại không dễ, nhưng mong muốn đọc được giấy tờ, viết được họ tên, sử dụng điện thoại hay tự đọc thông báo... trở thành động lực để họ kiên trì đến lớp.

baotintuc_tr_chp1.jpg
Cô Phương nắn từng chữ cho học viên.

Cô Hà Thị Phương chia sẻ: “Điều tôi ấn tượng nhất là sự ham học của các học viên. Dù tuổi đã cao và cuộc sống còn nhiều khó khăn, nhưng các cô, các bác, các anh chị em vẫn cố gắng đến lớp và học từng con chữ. Khả năng tiếp thu của học viên không đồng đều, tôi phải kiên nhẫn hướng dẫn từ đọc, viết đến làm toán, đồng thời tìm ví dụ gần gũi cuộc sống để bà con dễ hiểu, nhớ lâu...”.

Và bài học bắt đầu từ những điều quen thuộc như viết họ tên, đọc số điện thoại, xem ngày tháng, nhận biết thông tin trên giấy tờ hoặc tính tiền khi mua bán. Cô Phương cho học viên thực hành, động viên người còn ngại và điều chỉnh cách hướng dẫn theo từng người. Điều quan trọng là tạo được không khí học tập thoải mái, để học viên không sợ sai. Mỗi người tiến bộ một chút cũng cần được ghi nhận...

Kết quả là những người ban đầu không dám đọc trước lớp dần mạnh dạn hơn, người viết chậm bắt đầu tự hoàn thành những dòng chữ ngắn. Những phép tính đơn giản trước đây khiến họ lúng túng nay đã có thể tự thực hiện.

baotintuc_tr_hv-viet-chu.jpg
baotintuc_tr_cham-chu-nghe-giang.jpg
baotintuc_tr_hv-c.jpg
Dù nhiều học viên đã lớn tuổi nhưng nhờ sự tận tình của cô giáo và chăm chỉ nỗ lực, chỉ sau hơn hai tháng các học viên đã có thể đọc và viết thành thạo.

Trong số đó, ông Triệu Văn Chương, 59 tuổi, là trường hợp khiến cô Phương nhớ nhất. Sau hơn hai tháng học, ông đã có thể đọc cả một bài tập đọc, thậm chí hướng dẫn những học viên khác đọc đúng. Từ một người đến lớp học chữ, ông Chương dần hỗ trợ bạn học. Một câu chuyện khác khiến cô Phương xúc động là chị Lý Thị Xuân, sinh năm 1979. Ngày đầu đến lớp, chị còn e dè vì tuổi đã lớn và chưa biết một chữ nào. Thế nhưng, sau hơn hai tháng chăm chỉ, chị đã tự nhắn tin bằng điện thoại cho cô giáo.

“Mỗi khi một học viên tự đọc được một từ, viết được tên mình hoặc làm đúng một phép tính, tôi đều cảm thấy rất vui. Bởi phía sau một kết quả nhỏ như vậy là rất nhiều cố gắng của người học”, cô Phương chia sẻ.

Ở Tân Kim, học chữ gắn với nhu cầu thực tế. Người dân muốn đọc thông tin, hiểu giấy tờ, biết cách sử dụng thuốc theo hướng dẫn, liên lạc qua điện thoại và hỗ trợ con cháu trong học tập.

Theo ông Tạ Việt Hồng, Chủ tịch UBND xã Thần Sa, đến năm 2026, địa phương vẫn còn một số người trong độ tuổi lao động chưa biết đọc, biết viết hoặc sử dụng chữ chưa thành thạo, chủ yếu tập trung tại các xóm đặc biệt khó khăn. Thần Sa là xã vùng III, địa bàn rộng, nhiều xóm vùng cao và hơn 98% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số.

baotintuc_tr_dsc04439-1.jpg
Ông Tạ Việt Hồng, Chủ tịch UBND xã Thần Sa.

Tân Kim được lựa chọn mở lớp bởi đây là địa bàn còn nhiều người có nhu cầu học xóa mù chữ. Học viên đều là người Dao, không có điều kiện đến trường hoặc phải nghỉ học sớm để lao động, chăm lo gia đình. Không ít học viên còn gặp khó khăn do trong sinh hoạt hằng ngày chủ yếu sử dụng tiếng dân tộc.

Công việc nương rẫy, chăn nuôi và làm thuê thời vụ cũng khiến việc duy trì sĩ số không đơn giản... Để vận động người dân đến lớp, địa phương phối hợp với nhà trường, Ban Công tác Mặt trận và các đoàn thể ở xóm rà soát từng trường hợp, đến từng hộ gia đình tuyên truyền, vận động. Thời gian học phù hợp lịch lao động, địa điểm đặt ngay tại xóm để giảm đi lại. Trong quá trình học, giáo viên theo dõi sĩ số, động viên người nghỉ; trưởng xóm và các đoàn thể cùng nhắc nhở.

Nhờ đó, lớp học không chỉ là công việc của giáo viên, mà trở thành sự chung tay của cộng đồng. Sau hơn hai tháng, phần lớn học viên đã nhận biết chữ cái, ghép tiếng, đọc câu ngắn, viết họ tên và địa chỉ. Đáng chú ý là sự thay đổi về tâm lý.

Từ e ngại, nhiều học viên đã chủ động trao đổi với giáo viên và tự tin hơn khi thực hành. Với địa phương, xóa mù chữ không dừng ở hoàn thành một lớp học, mà còn là duy trì những con chữ sau khi lớp kết thúc.

UBND xã Thần Sa dự kiến tiếp tục theo dõi, đánh giá kết quả; phối hợp với trường học, thư viện và nhà văn hóa xóm tổ chức đọc sách, sinh hoạt học tập cộng đồng. Việc sử dụng chữ cũng được gắn với những nhu cầu mới, thiết thực hơn, như dịch vụ công trực tuyến, ứng dụng VNeID, tiếp cận thông tin chăm sóc sức khỏe và phát triển sinh kế của người dân.

Từ lớp học xóa mù chữ cho đồng bào Dao ở xã Thần Sa, sự kiên trì của người học, trách nhiệm của giáo viên, cùng sự chung tay của chính quyền, đang góp phần xóa bỏ mù chữ và mở thêm cơ hội học tập cho người dân vùng cao...

Hoàng Bằng/Báo Tin tức và Dân tộc
Dân tộc Dao

Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).

Tên gọi khác: Mán.

Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).

Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.

Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.

Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.

Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.

Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...

Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.

Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.

Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.

Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.

Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.

Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.

Ở: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.

Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.

Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.

Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.

Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.

Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.

Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.


Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.

Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.

Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.

Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.

Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.

Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Dao

Có thể bạn quan tâm

Những 'đại sứ' công nghệ trong cộng đồng dân tộc ở TP Hồ Chí Minh

Những 'đại sứ' công nghệ trong cộng đồng dân tộc ở TP Hồ Chí Minh

Nhiều thanh niên tình nguyện, người có uy tín trong cộng đồng ở TP Hồ Chí Minh đang trở thành những “đại sứ công nghệ” thực thụ, hướng dẫn bà con dân tộc cách sử dụng các ứng dụng dịch vụ công trực tuyến, từng bước đưa công nghệ số đến gần hơn với cộng đồng các dân tộc.

Người lính trẻ gieo những 'mầm số' pháp luật nơi biên cương

Người lính trẻ gieo những 'mầm số' pháp luật nơi biên cương

Giữa những bản làng vùng cao Lai Châu, bước chân của người lính biên phòng không chỉ in trên những cung đường tuần tra, bên những cột mốc biên cương, mà còn trên hành trình mang kiến thức số, pháp luật và cả những cách làm mới để đến từng bản, từng lán nương. Thiếu tá Nguyễn Duy Khánh, Chính trị viên phó, Bí thư Chi đoàn Đồn Biên phòng Vàng Ma Chải là một người trẻ như thế.

Nữ cán bộ Công an trẻ tận tâm phổ biến pháp luật, góp phần giữ bình yên cho đồng bào

Nữ cán bộ Công an trẻ tận tâm phổ biến pháp luật, góp phần giữ bình yên cho đồng bào

Một ca tuần tra trong đêm, một buổi tuyên truyền pháp luật, một lần đến với người dân hay một sáng kiến nhỏ giúp công việc hiệu quả hơn. Với chị Nguyễn Hồng Ân, nữ cán bộ Công an xã Thanh Tùng ( xã thuộc Khu vực III, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.của tỉnh Cà Mau), hành trình tuổi trẻ được viết bằng những việc làm như thế - nơi mỗi ngày bình yên của người dân cũng là một phần ý nghĩa trong những năm tháng đẹp nhất của đời mình.

Đưa quy định pháp luật đến gần hơn với bà con Chăm Islam

Đưa quy định pháp luật đến gần hơn với bà con Chăm Islam

Để đồng bào Chăm Islam dễ hiểu và thực hiện đúng pháp luật, Ban Quản trị thánh đường tại phường Bình Tiên, TP Hồ Chí Minh lồng ghép những tình huống đời thường vào các buổi sinh hoạt tôn giáo. Qua cách trao đổi gần gũi, bà con biết nhận diện lừa đảo và phòng tránh vi phạm.

Những 'cây đại thụ' giữa đại ngàn Tây Nguyên

Những 'cây đại thụ' giữa đại ngàn Tây Nguyên

Đắk Lắk có 45 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 25%. Trong đời sống cộng đồng, đội ngũ già làng, trưởng thôn, người có uy tín được ví như những “cây đại thụ” giữa đại ngàn, là cầu nối đưa chủ trương, chính sách đến với người dân, góp phần củng cố khối đại đoàn kết, giữ gìn bình yên buôn làng và thúc đẩy phát triển địa phương.

Người mang quả ngọt phủ xanh đất dốc

Người mang quả ngọt phủ xanh đất dốc

Từ những diện tích trồng ngô, sắn và một số cây trồng kém hiệu quả, người dân vùng cao Sơn La đã mạnh dạn chuyển sang trồng cây ăn quả trên đất dốc, từng bước thay đổi phương thức sản xuất. Nhiều mô hình mang lại doanh thu hàng tỷ đồng mỗi năm. Gia đình ông Vàng A Sở, dân tộc Mông, ở tổ dân phố Pakhen, phường Thảo Nguyên là một trong những trường hợp như vậy.

Khởi nghiệp từ khai thác giá trị bản sắc văn hóa đồng bào Hrê

Khởi nghiệp từ khai thác giá trị bản sắc văn hóa đồng bào Hrê

Từ tình yêu với văn hóa truyền thống dân tộc, chị Trinh Sơn Uyên, người con Hrê ở xã Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi đã xây dựng mô hình Plây Hrê - Làng Hrê, kết hợp ẩm thực với trải nghiệm văn hóa, du lịch sinh thái và giới thiệu sản phẩm đặc trưng địa phương.

Chiến sĩ quân hàm xanh mang ‘Ánh sáng số’ đến bản Vàng Ma Chải

Chiến sĩ quân hàm xanh mang ‘Ánh sáng số’ đến bản Vàng Ma Chải

Đến Vàng Ma Chải, nơi cuối trời Tây Bắc của tỉnh Lai Châu, hỏi về Thiếu tá Nguyễn Duy Khánh, Chính trị viên phó Đồn Biên phòng Vàng Ma Chải, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng Lai Châu, ai cũng biết, bởi anh là người mang “Ánh sáng số” đến với đồng bào các dân tộc khu vực biên giới.

Giáo dục mở đường cho thế hệ trẻ Chăm Islam vươn lên

Giáo dục mở đường cho thế hệ trẻ Chăm Islam vươn lên

Để cộng đồng Chăm Islam phát triển bền vững, điều quan trọng là chăm lo việc học hành, tạo cơ hội để người trẻ có kiến thức, nghề nghiệp và việc làm. Cùng với đó, người có uy tín phải gần dân, hiểu bà con cần gì để đồng hành, vận động và gắn kết cộng đồng.

Hiến máu cứu người - lan tỏa tinh thần nhân ái

Hiến máu cứu người - lan tỏa tinh thần nhân ái

Tỉnh Lạng Sơn đã có nhiều cách làm linh hoạt, phù hợp với đặc thù địa phương nhằm lan tỏa phong trào hiến máu cứu người; góp phần hoàn thành mục tiêu tiếp nhận 12.500 đơn vị máu năm 2026.