Nét duyên vùng Tây Bắc

Mai Châu là điểm đến hấp dẫn du khách bằng vẻ đẹp nguyên sơ của núi rừng, không khí mát mẻ và mang đậm bản sắc văn hóa của các dân tộc. Với chủ trương phát triển du lịch cộng đồng bền vững, các địa phương như Pà Cò, bản Lác đã trở thành điểm sáng, bảo tồn di sản văn hóa, tạo sinh kế cho người dân.

mai-chau.jpg
Với độ cao hơn 1.000m so với mặt nước biển, hai xã Hang Kia, Pà Cò có hình thái khí hậu mát mẻ, trong lành.

Bản làng của mây, sắc chàm và hồn văn hóa Mông

Hang Kia, Pà Cò là tên gọi của hai xã trước khi sáp nhập thành xã Pà Cò bao gồm các xã Hang Kia, Pà Cò, Cun Pheo. Nơi đây là nơi sinh sống chủ yếu của cộng đồng dân tộc người Mông ở Hòa Bình. Những năm gần đây Hang Kia, Pà Cò đã từng bước chuyển mình phát triển nhờ khai thác lợi thế khí hậu tự nhiên và cảnh quan kỳ vĩ. Những buổi sớm tinh sương, khi mặt trời còn chưa rạng, cả thung lũng chìm trong “biển mây” trắng, tiếng gà gọi sáng vang vọng bản làng. Du khách đến đây sẽ trải nghiệm được hình thái thời tiết của 4 mùa trong một ngày khi buổi sáng mát dịu như mùa Xuân, đến trưa nắng nóng như mùa Hạ, qua chiều se se lạnh như mùa Thu và không gian lạnh giá như mùa Đông khi màn đêm buông xuống.

mai-chau-21625-12.jpg
Cảnh quan hoang sơ, hùng vỹ và thơ mộng ở xã Hang Kia (Mai Châu, Hòa Bình).

Anh Khà A Sơn, chủ homestay điểm săn mây ở Hang Kia cho biết, ở Hang Kia và Pà Cò có những điểm cao du khách có thể ngắm nhìn biển mây cuồn cuộn vào mỗi buổi sớm mai như: Điểm Cổng Trời, khu Pà Khôm đi Thung Mài, Thung Mặn… Tại những điểm này có thể ngắm nhìn được đỉnh Pù Luông (Thanh Hóa) và đỉnh Pha Luông (Sơn La).

Hang Kia, Pà Cò còn lưu giữ nhiều phong tục văn hóa độc đáo như Lễ hội Gầu Tào, chợ phiên Pà Cò, các nghề truyền thống như dệt thổ cẩm, vẽ sáp ong, làm giấy thủ công… Với lợi thế đó, chính quyền địa phương cùng người dân đã phát triển mô hình kinh doanh du lịch homestay nhằm phát triển kinh tế địa phương, nâng cao thu nhập cho người dân.

mai-chau-21625-11.jpg
Những cụ già người Mông thêu thùa bên hiên nhà tại Hang Kia và Pà Cò.

Hiện nay, có khoảng 16 hộ dân tại Hang Kia, Pà Cò đang tham gia làm homestay cộng đồng, được tổ chức theo mô hình liên kết nông dân - hợp tác xã. Các sản phẩm du lịch ở đây tập trung vào trải nghiệm văn hóa. Du khách có thể học cách nhuộm chàm, thử làm bánh ngô, đi rừng hái thuốc hoặc cùng gia đình chủ nhà nấu món ăn truyền thống, khám phá cung đường trekking từ Mai Châu - Hang Kia - Pà Cò - Mộc Châu, tham quan trải nghiệm tại không gian văn hóa Mông của chị Sùng Y Múa.

Các homestay phục vụ ẩm thực địa phương và cung cấp nhiều phòng nghỉ tiêu biểu như: Y Múa, A Dính, A Dơ, Sơn Bắc, A Páo… Hằng năm, homestay Y Múa đón khoảng 3.000 lượt khách, đạt doanh thu từ 600-700 triệu đồng, tạo việc làm thường xuyên cho nhiều lao động tại chỗ. Khách đến đây không chỉ được ngủ nhà sàn, ăn món bản mà còn tham gia trải nghiệm săn mây, đi rừng, làm bánh dày, nhuộm chàm…

Phó Chủ tịch UBND xã Pà Cò Vàng A Váu cho biết, chính quyền địa phương cũng tạo điều kiện hết sức để hỗ trợ các hộ làm homestay nâng cấp cơ sở vật chất, đồng thời tổ chức các lớp đào tạo kỹ năng đón khách, nghiệp vụ buồng phòng và quảng bá sản phẩm du lịch gắn với văn hóa Mông.

Biểu tượng du lịch cộng đồng kiểu mẫu của người Thái

mai-chau-21625-15.jpg
Những biển mây cuồn cuộn xuất hiện vào mỗi buổi sớm mai tại Cổng Trời, khu Pà Khôm đi Thung Mài, Thung Mặn.

Nếu Hang Kia và Pà Cò là những địa chỉ du lịch mới nổi, thì bản Lác (xã Chiềng Châu cũ là xã Mai Châu sau sáp nhập) lại là điểm đến nổi tiếng và quen thuộc của tỉnh Hòa Bình. Bản Lác đã khẳng định thương hiệu du lịch cộng đồng kiểu mẫu.

Cách Hà Nội khoảng 140 km, bản Lác là một bản người Thái, chủ yếu thuộc 5 dòng họ Hà, Vì, Mác, Lộc, Lò.

mai-chau-21625-17.jpg
Cảnh quan hoang sơ và bình yên của xã Hang Kia.

Ngoài những mái nhà sàn truyền thống san sát nhau, con đường đá nhỏ sạch sẽ quanh co lẩn khuất trong thứ ánh sáng mê hoặc của buổi chiều vàng ngọt, nơi đây có cánh đồng trải dài bạt ngàn cùng tiếng suối chảy róc rách, có rặng tre rì rào hay những cây đu đủ trĩu trịt trái bên đường... tạo nên một không gian làng quê yên bình đến lạ thường nơi núi rừng Tây Bắc.

Chị Đỗ Hải Anh (Hà Nội) chia sẻ: Cuộc sống nơi bản Lác hiện lên bình yên trong làn sương khói cùng tình cảm nồng hậu, bình dị của người dân đã tạo nên sức lôi cuốn khó cưỡng đối với bất cứ ai đã từng ghé qua nơi đây. Đối với tôi thì bản Lác là sự hòa quyện hoàn hảo giữa khung cảnh thiên nhiên, mây núi và con người, những cụm bản làng nhỏ xinh với kiến trúc nhà sàn độc đáo bên những cánh đồng lúa nếp nương.

mai-chau-21625-16.jpg
Một người phụ nữ Mông ở xã Pà Cò miệt mài bên khung cửu để dệt ra những tấm vải thổ cẩm Mông bền đẹp.

Bản Lác hiện có 125 hộ dân thì tới 73 hộ đăng ký kinh doanh dịch vụ homestay. Thời gian qua, lượng khách nội địa đến đây liên tục gia tăng, mang lại không khí sinh động và tăng thu nhập cho người dân bản địa.

Bản Lác cung cấp các dịch vụ lưu trú, ẩm thực và biểu diễn nghệ thuật dân gian như múa xòe, múa sạp, thổi khèn lá, uống rượu cần… Các hộ dân tham gia làm du lịch cộng đồng và người dân vẫn giữ được nguyên vẹn bản sắc kiến trúc, phong tục truyền thống của dân tộc Thái; đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ thông qua việc học tiếng Anh, kỹ năng giao tiếp và vệ sinh an toàn thực phẩm.

Phát triển theo hướng bền vững bảo tồn thiên nhiên

mai-chau-21625-10.jpg
Không gian trưng bày văn hóa người Mông của chị Sùng Y Múa tại xã Hang Kia.

Du lịch cộng đồng ở Mai Châu là hướng đi phát triển kinh tế mang tính bền vững với mục tiêu bảo tồn thiên nhiên, thông qua đó là cầu nối gìn giữ văn hóa nâng cao chất lượng sống cho người dân vùng cao tỉnh Hòa Bình.

Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quách Thúy Kiều cho biết, loại hình du lịch cộng đồng tại Hòa Bình có nhiều thuận lợi bởi vị trí địa lý thuận lợi, cách Thủ đô chỉ khoảng 70 - 80 km, dễ dàng kết nối với các thị trường du khách lớn từ Hà Nội và các tỉnh lân cận. Đặc biệt, các điểm đến như: Mai Châu, Đà Bắc, Tân Lạc đã ghi dấu ấn với nhiều mô hình homestay thành công, nơi du khách có thể nghỉ ngơi trong những ngôi nhà sàn truyền thống, thưởng thức ẩm thực địa phương, tham gia các hoạt động như trồng lúa, dệt vải.

mai-chau-21625-13.jpg
Du khách Pháp trải nghiệm vẽ sáp ong trên vải thổ cẩm người Mông tại Homestay Y Múa xã hang Kia.

Thời gian tới, ngành Du lịch cần tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, tập huấn chuyên môn, ngoại ngữ, kỹ năng marketing và vận hành dịch vụ; chuẩn hóa mô hình homestay nhằm đảm bảo vệ sinh, kiến trúc, không gian bản địa và chất lượng trải nghiệm. Đồng thời, ngành liên kết các vùng du lịch kết nối Hang Kia - Pà Cò - bản Lác - Pù Luông - Mộc Châu thành tuyến du lịch hấp dẫn, đa dạng; phát triển sản phẩm văn hóa - OCOP như thổ cẩm Mông, chè Shan tuyết, rượu cần, mây tre đan, nông sản sạch…

mai-chau-21625-14.jpg
Không gian phòng nghỉ, lưu trú tại Homestay Y Múa xã Hang Kia.

Từ các bản vùng sâu, vùng xa, Hang Kia - Pà Cò - bản Lác đang vươn mình thành những điểm đến tiêu biểu của du lịch cộng đồng Tây Bắc. Những nếp nhà sàn ấm cúng, biển mây bồng bềnh, nụ cười mộc mạc của người Mông, người Thái... tất cả đang tạo nên một hình ảnh Mai Châu đậm đà, bản sắc - một "nét duyên rừng núi" riêng có của tỉnh Hòa Bình./.

Dân tộc Mông

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...

Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.

Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt.jpg
Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt

: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).

Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung.jpg
Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mông
Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Thái

Có thể bạn quan tâm

Slam Chiêm - Sắc màu trên thảo nguyên

Slam Chiêm - Sắc màu trên thảo nguyên

Trong không khí thi đua sôi nổi chào mừng kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), xã Hiệp Lực (tỉnh Thái Nguyên) đã tưng bừng tổ chức chuỗi hoạt động văn hóa, thể thao với chủ đề “Slam Chiêm - Sắc màu trên thảo nguyên”. Sự kiện mang đến không gian trải nghiệm văn hóa độc đáo, tràn ngập sức sống giữa thiên nhiên khoáng đạt.

Đưa điểm đến nơi cực Tây Tổ quốc vào khai thác du lịch

Đưa điểm đến nơi cực Tây Tổ quốc vào khai thác du lịch

Trong không khí cả nước hướng tới kỷ niệm 81 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh 2/9, sáng nay (1/9), UBND xã Sín Thầu, tỉnh Điện Biên tổ chức khai trương hoạt động du lịch tại Mốc giao điểm đường biên giới ba nước Việt Nam - Lào - Trung Quốc và Cột cờ A Pa Chải.

Đặc sắc Tuần Văn hóa - Du lịch trên cao nguyên Mộc Châu

Đặc sắc Tuần Văn hóa - Du lịch trên cao nguyên Mộc Châu

Chào mừng kỷ niệm 81 năm Quốc khánh 2/9, tối 31/8, tại Quảng trường 8/5 (phường Mộc Châu), tỉnh Sơn La tổ chức Khai mạc Tuần Văn hóa - Du lịch Mộc Châu và Đêm hội Thổ cẩm quốc tế Sơn La năm 2026 với chủ đề "Dệt di sản hòa giao sắc màu".

Đánh thức 'viên ngọc xanh' từ du lịch cộng đồng

Đánh thức 'viên ngọc xanh' từ du lịch cộng đồng

Cao nguyên La Vuông (phường Hoài Nhơn Bắc, tỉnh Gia Lai) nằm ở độ cao trên 700 m so với mực nước biển, sở hữu lợi thế về cảnh quan và giao thông kết nối. Đây là điều kiện thuận lợi để phường Hoài Nhơn Bắc từng bước khai thác du lịch trải nghiệm, gắn với cộng đồng và bảo vệ cảnh quan tự nhiên.

Rộn ràng ghé thăm 'Mường quên lãng'

Rộn ràng ghé thăm 'Mường quên lãng'

Từng được gọi là “Mường quên lãng”, Mường Lựm thuộc xã Chiềng Hặc, tỉnh Sơn La nay đang dần được đánh thức. Từ những phiên chợ vùng cao rộn ràng sắc màu, những sản vật mang hương vị núi rừng, đến di tích lịch sử, hồ nước giữa rừng nguyên sinh…, tất cả đang mở ra những câu chuyện mới về một điểm đến giàu tiềm năng trên hành trình khám phá vùng đất Sơn La.

Hành trình trải nghiệm đa dạng trên miền di sản

Hành trình trải nghiệm đa dạng trên miền di sản

Sau hợp nhất, không gian du lịch Tuyên Quang được mở rộng từ miền quê cách mạng Tân Trào, hồ sinh thái Na Hang - Lâm Bình đến Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn, những thửa ruộng bậc thang Hoàng Su Phì và miền biên cương Lũng Cú.

Thái Nguyên: Thúc đẩy quảng bá, giới thiệu điểm đến tại TP Hồ Chí Minh

Thái Nguyên: Thúc đẩy quảng bá, giới thiệu điểm đến tại TP Hồ Chí Minh

Chiều 28/8, tại TP Hồ Chí Minh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên đã tổ chức Hội nghị “Thái Nguyên - Điểm đến xanh cho du khách quốc tế” nhằm quảng bá, giới thiệu văn hóa, điểm đến, sản phẩm du lịch, tạo cầu nối cho doanh nghiệp du lịch - lữ hành mở rộng thị trường và thu hút du khách quốc tế đến địa phương.

Ứng dụng mạnh công nghệ số vào phát triển du lịch

Ứng dụng mạnh công nghệ số vào phát triển du lịch

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lào Cai phối hợp với Công ty Cổ phần IGB đã nghiên cứu, phát triển Ứng dụng Du lịch thông minh Lào Cai Tour trên các nền tảng số.

Đánh thức 'mỏ vàng xanh' từ nông nghiệp - Bài cuối

Đánh thức 'mỏ vàng xanh' từ nông nghiệp - Bài cuối

Từ hạt cà phê trên những triền đồi Khe Sanh, gói gạo quê giữa cánh đồng Hải Lăng đến chai nước mắm của làng biển hay sản vật trong những bản làng Bru - Vân Kiều, Pa Kô, Quảng Trị đang tìm cách gia tăng giá trị nông sản bằng du lịch. Khi du khách bước vào vùng nguyên liệu, gặp người làm ra sản phẩm và trải nghiệm đời sống bản địa, nông sản không chỉ là hàng hóa mà còn trở thành câu chuyện của một vùng đất.

Đánh thức 'mỏ vàng xanh' từ nông nghiệp - Bài 1

Đánh thức 'mỏ vàng xanh' từ nông nghiệp - Bài 1

Quảng Trị có lợi thế đa dạng về cảnh quan, hệ sinh thái, nông sản và văn hóa bản địa, từ những cánh đồng vùng đồng bằng, làng biển đến những đồi cà phê, bản làng dưới chân Trường Sơn. Những giá trị ấy đang được nhiều địa phương từng bước chuyển hóa thành sản phẩm du lịch, tạo thêm sinh kế cho người dân và nâng cao giá trị nông sản.

Du lịch cộng đồng góp phần phát triển kinh tế địa phương

Du lịch cộng đồng góp phần phát triển kinh tế địa phương

Với cảnh quan thiên nhiên nguyên sơ, mộc mạc cùng với bản sắc văn hóa độc đáo của các dân tộc Tày, Nùng, Dao, du lịch cộng đồng đang là hướng đi giúp phát triển kinh tế ở địa phương và nâng cao đời sống người dân ở Lạng Sơn.

Xây dựng Sa Pa trở thành đô thị du lịch xanh, văn minh và hiện đại

Xây dựng Sa Pa trở thành đô thị du lịch xanh, văn minh và hiện đại

Chiều 23/8, UBND phường Sa Pa phối hợp với Hiệp hội Du lịch tỉnh Lào Cai và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ du lịch Cáp treo Fansipan Sa Pa tổ chức Lễ khởi động chương trình “Green Sa Pa” gắn với thực hiện Đề án “Sa Pa Sạch”. Đây không chỉ là hoạt động ra quân, mà là sự khởi đầu cho cách làm mới trong xây dựng Sa Pa trở thành đô thị du lịch xanh, sạch, đẹp, văn minh, hiện đại và bền vững.

Biến di sản thành động lực phát triển kinh tế du lịch

Biến di sản thành động lực phát triển kinh tế du lịch

Với hệ thống di sản vật thể và phi vật thể phong phú, ngành du lịch Hà Nội đang chuyển hóa nguồn lực di sản văn hóa thành những sản phẩm du lịch hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến với Thủ đô.

Liên kết điểm đến tạo hành trình hấp dẫn giữ chân du khách

Liên kết điểm đến tạo hành trình hấp dẫn giữ chân du khách

Du lịch đang đứng trước yêu cầu chuyển từ khai thác đơn lẻ từng điểm đến sang hình thành những hành trình có tính liên kết, trong đó các địa phương cùng chia sẻ tài nguyên, thị trường và giá trị. Với Thái Nguyên, Bắc Ninh, Phú Thọ, Tuyên Quang, Cao Bằng và Lạng Sơn, sự đa dạng về cảnh quan, văn hóa, lịch sử và sản phẩm tạo điều kiện hình thành không gian du lịch liên vùng. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành những sản phẩm có sức cạnh tranh, các địa phương vẫn cần giải quyết những điểm nghẽn về hạ tầng, sản phẩm, dịch vụ, doanh nghiệp và cơ chế phối hợp.

Từ khí thế mùa Thu cách mạng đến khát vọng phát triển

Từ khí thế mùa Thu cách mạng đến khát vọng phát triển

Cách đây 81 năm, từ núi rừng Tân Trào, những quyết định hệ trọng mở đường cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước đã được đưa ra. Khí thế của mùa Thu cách mạng năm 1945 hôm nay tiếp tục được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc xã Tân Trào chuyển hóa thành ý chí tự lực, tinh thần đổi mới và khát vọng xây dựng quê hương phát triển toàn diện, bền vững.

Phát triển du lịch từ mùa trái ngọt và văn hóa Raglai

Phát triển du lịch từ mùa trái ngọt và văn hóa Raglai

Những ngày giữa tháng 8, theo cung đường uốn lượn lên vùng cao Đông Khánh Sơn, du khách đi qua những triền núi xanh, những vườn cây đang mùa trĩu quả. Trong tiết trời dịu mát, mây bảng lảng ngang sườn núi, hương sầu riêng chín quyện cùng tiếng mã la, đàn Chapi tạo nên một không gian đặc trưng của vùng đồng bào Raglai. Từ lợi thế cảnh quan, nông sản và văn hóa bản địa, Đông Khánh Sơn đang từng bước tạo thêm sản phẩm trải nghiệm, kết nối nông nghiệp với văn hóa, du lịch.

Phát triển du lịch sinh thái - 'chìa khóa' giữ màu xanh đại ngàn

Phát triển du lịch sinh thái - 'chìa khóa' giữ màu xanh đại ngàn

Dưới những tán rừng xanh ở xã Thông Nguyên (Tuyên Quang), người Dao đỏ nơi đây đang có một cách làm mới để tăng thu nhập và bảo vệ rừng. Những cây thuốc từng chỉ được dùng trong mỗi gia đình nay trở thành sản phẩm chăm sóc sức khỏe phục vụ du khách; món ăn, nghề làm giấy dó, tiếng khèn, điệu múa và nếp sinh hoạt truyền thống được đưa vào các chương trình trải nghiệm. Từ những giá trị vốn có của bản làng, du lịch dần mở ra sinh kế mới cho người dân, đồng thời tạo thêm động lực bảo vệ cảnh quan và gìn giữ văn hóa.

Công nghiệp văn hóa tạo dư địa mới cho tăng trưởng

Công nghiệp văn hóa tạo dư địa mới cho tăng trưởng

Từ tiếng khèn Mông giữa miền đá, điệu Then bên những nếp nhà sàn, nghi lễ Nhảy lửa của người Pà Thẻn đến nghề thủ công, ẩm thực và các không gian văn hóa cộng đồng, Tuyên Quang sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa phong phú được bồi đắp qua nhiều thế hệ.

Chứng tích độc đáo của nền văn minh Óc Eo

Chứng tích độc đáo của nền văn minh Óc Eo

Giữa vùng đất Tây Ninh ngày nay, tháp Chót Mạt vẫn lặng lẽ hiện diện, lưu giữ những dấu tích của nền văn minh Óc Eo. Từ những viên gạch cổ và dáng tháp độc đáo, di tích không chỉ kể câu chuyện về một lớp trầm tích văn hóa xa xưa, mà còn mở ra tiềm năng phát huy giá trị lịch sử gắn với du lịch.

Tạo động lực mới cho phát triển du lịch Mẫu Sơn

Tạo động lực mới cho phát triển du lịch Mẫu Sơn

Mẫu Sơn là dãy núi cao nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Lạng Sơn với đỉnh Phjia Mè cao 1.520 m so với mực nước biển. Nhờ khí hậu mát mẻ quanh năm và cảnh quan thiên nhiên đặc sắc, từ thời Pháp thuộc, nơi đây đã được biết đến là điểm nghỉ dưỡng nổi tiếng ở miền Bắc.

Cù Lao Xanh, bình yên nơi đầu sóng

Cù Lao Xanh, bình yên nơi đầu sóng

Nằm cách đất liền khoảng 24km, xã Nhơn Châu, tỉnh Gia Lai, thường được biết đến với tên gọi Cù Lao Xanh, đang từng bước chuyển mình từ một làng đảo chủ yếu sống bằng nghề biển thành điểm đến du lịch giàu tiềm năng. Giữa nhịp phát triển mới, Cù Lao Xanh vẫn giữ nguyên vẻ yên bình với phiên chợ sớm, âu thuyền tấp nập, những tuyến bờ kè hướng biển và cuộc sống mộc mạc của người dân nơi đầu sóng.