Dưới chân cột cờ Lũng Cú nơi địa đầu cực Bắc Tổ quốc, bản Thèn Pả (xã Lũng Cú, tỉnh Tuyên Quang) nép mình bên hồ Mắt Rồng xanh biếc, với những mái ngói âm dương cũ, những nếp nhà trình tường phủ màu thời gian và tiếng khèn Mông dìu dặt âm vang lúc chiều muộn.
Du khách đến Lũng Cú không chỉ để ngắm cảnh hay chụp ảnh check-in, họ tìm đến Thèn Pả để được sống chậm giữa một bản làng người Mông còn giữ gần như nguyên vẹn nếp sinh hoạt truyền thống, nơi văn hóa không nằm trong những màn biểu diễn dựng sẵn mà hiện hữu trong từng bữa cơm, nếp nhà, phiên chợ và ánh lửa bập bùng bên bếp.
Bản nhỏ dưới chân núi đá
Trước kia, có thời điểm, Thèn Pả chỉ là một thôn nghèo ít người biết đến ở xã Lũng Cú. Người dân quanh năm sống dựa vào chăn nuôi, trồng trọt. Mùa đông gió cắt da, mùa khô thiếu nước, nhiều thanh niên rời bản đi làm thuê ở miền xuôi.
Trong khi làng văn hóa du lịch cộng đồng Lô Lô Chải bên cạnh đã trở thành điểm đến nổi tiếng trên Cao nguyên đá Đồng Văn, Thèn Pả vẫn gần như đứng ngoài dòng chảy du lịch.
Bước chuyển bắt đầu khi một số hộ dân mạnh dạn cải tạo nhà trình tường để làm homestay, giữ nguyên kiến trúc truyền thống nhưng bổ sung thêm những tiện nghi cần thiết. Không bê tông hóa bản làng, không phá bỏ nếp cũ, người dân chọn cách làm du lịch từ chính văn hóa của mình.
Ông Vàng Sính Lùng, một hộ dân tham gia làm du lịch cộng đồng ở Thèn Pả cho biết, ban đầu, nhiều người trong bản lo lắng vì chưa từng đón khách và cũng không nghĩ những căn nhà đất cũ kỹ lại có thể trở thành nơi lưu trú cho du khách. Nhưng rồi khách đến ngày một đông hơn, người dân dần nhận ra, chính những điều bình dị nhất lại là điều níu chân du khách.
“Du khách thích được ngồi bên bếp lửa, ăn mèn mén, uống rượu ngô, sáng dậy nghe tiếng gà gáy và nhìn sương phủ trên núi đá. Họ bảo ở đây rất yên bình”, ông Lùng chia sẻ.
Từ vài hộ ban đầu, đến nay, Thèn Pả đã có hàng chục phòng lưu trú cộng đồng với sức chứa khoảng 100 khách. Người làm bánh ngô, người nuôi ngựa phục vụ khách trải nghiệm, người dệt lanh, người làm thịt trâu gác bếp… Mỗi gia đình góp một phần vào bức tranh du lịch cộng đồng đang dần hình thành nơi cực Bắc Tổ quốc.
Những con đường nhỏ trong bản cũng đổi khác. Hai bên lối đi, hoa nở thay cho những bãi đất trống. Chuồng trại được di dời xa khu sinh hoạt. Không gian bản làng sạch sẽ và xanh hơn trước.
Khi người Mông trở thành chủ thể của du lịch
Điều dễ nhận thấy nhất ở Thèn Pả hôm nay không chỉ là sự đổi thay của cảnh quan mà là sự đổi thay trong chính người dân.
Những cô gái Mông từng quen với việc lên nương giờ đã có thể tự tin giới thiệu với du khách về nghề dệt lanh, vẽ sáp ong hay nhuộm chàm truyền thống. Nhiều người trẻ học thêm tiếng Anh để giao tiếp với khách nước ngoài.
Em Vàng Thị Mỷ cho biết, trước đây, gia đình thuộc diện khó khăn, cuộc sống quanh năm chỉ trông vào vụ ngô. Từ khi làm du lịch, mẹ em dệt vải bán cho khách du lịch, còn các chị em thay phiên nhau phụ giúp homestay. Thu nhập ổn định hơn giúp gia đình có điều kiện chăm lo học hành và sinh hoạt.
Không chỉ tạo sinh kế, du lịch cộng đồng còn khiến nhiều người trẻ nhìn lại giá trị văn hóa của dân tộc mình.
Em Hờ Thị Máy, người Mông ở bản Thèn Pả cho biết, trước đây, em chỉ học vẽ sáp ong theo mẹ và bà như một công việc quen thuộc trong gia đình. Nhưng khi du khách thích thú tìm hiểu, em mới nhận ra nghề truyền thống của người Mông quý giá như thế nào.
“Em muốn giữ nghề để sau này truyền dạy lại cho con cháu”, em Máy nói.
Theo anh Vũ Gia Đại, người đồng hành cùng bà con xây dựng mô hình du lịch cộng đồng tại Thèn Pả, điều quan trọng nhất là để người dân trở thành chủ thể của du lịch chứ không phải người đứng ngoài cuộc.
Khi bà con tự làm, tự giới thiệu văn hóa của mình với du khách, họ sẽ thấy tự hào hơn về bản sắc dân tộc. Đó mới là điều bền vững nhất, anh Đại chia sẻ.
Trong sự phát triển du lịch ngày càng nhanh trên Cao nguyên đá Đồng Văn, Thèn Pả vẫn giữ cho mình một nhịp điệu riêng. Ở đó, du khách có thể thức dậy trong tiếng khèn gọi bạn tình vọng qua sườn núi, ngồi bên bếp lửa nghe người già kể chuyện về những mùa ngô cũ hay theo chân người Mông đi qua những triền đá tai mèo xám bạc trong sương sớm.
Giữ màu xanh dưới chân cột cờ cực Bắc
Du lịch đang trở thành hướng phát triển quan trọng của xã Lũng Cú. Từ đầu năm 2025 đến nay, địa phương đón hàng trăm nghìn lượt khách du lịch; trong đó, các mô hình du lịch cộng đồng như Thèn Pả ngày càng thu hút đông du khách trong và ngoài nước.
Ông Trần Đức Chung, Chủ tịch UBND xã Lũng Cú cho biết, địa phương xác định phát triển du lịch phải đi đôi với gìn giữ văn hóa truyền thống và bảo vệ môi trường sinh thái. Các làng du lịch cộng đồng sẽ là hạt nhân để từng bước đưa Lũng Cú trở thành điểm du lịch đặc sắc của vùng Công viên Địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn.
Theo định hướng của địa phương, thời gian tới, xã sẽ tiếp tục hoàn thiện hạ tầng du lịch, nâng cao chất lượng dịch vụ, đồng thời kết nối các điểm tham quan như cụm công trình văn hóa tâm linh, nhà cổ Há Súng và không gian trải nghiệm văn hóa cộng đồng để kéo dài thời gian lưu trú của du khách.
Anh Nguyễn Thành Trung đến từ Hà Nội chia sẻ, điều khiến anh nhớ nhất sau chuyến đi không chỉ là cảnh quan hùng vĩ nơi địa đầu Tổ quốc mà còn là cảm giác được sống giữa một bản làng vẫn giữ được sự chân thành và mộc mạc.
“Ở đây, người ta không làm du lịch theo kiểu chạy theo đám đông. Mình có cảm giác được chạm vào đời sống thật của người Mông”, anh Trung nói.
Chiều muộn, lá cờ đỏ sao vàng trên đỉnh Lũng Cú vẫn tung bay giữa nền trời xanh thẳm. Dưới chân cột cờ, Thèn Pả bình yên trong làn sương mỏng đang dần buông xuống những mái nhà trình tường cũ.
Và ở nơi cực Bắc ấy, người Mông hôm nay đang học cách làm giàu từ chính văn hóa của mình, để mỗi du khách khi rời đi không chỉ mang theo những bức ảnh đẹp mà còn mang theo ký ức về một ngôi làng xanh, nơi bản sắc truyền thống vẫn được gìn giữ nguyên vẹn giữa đại ngàn đá xám./.
Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.
Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.
Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.
Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.
Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...
Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.
Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.
Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.
Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.
Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.
Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.
Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.
Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.
Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.
Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.
Ở: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.
Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.
Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.
Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.
Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.
Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.
Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.
Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...
Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.
Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.
Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.
Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.
Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.
Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).
Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.
Theo cema.gov.vn