Nằm dưới chân những dãy núi xanh, thôn Tha nhiều năm nay trở thành điểm đến quen thuộc của du khách trong và ngoài nước khi muốn tìm một không gian du lịch cộng đồng mang đậm bản sắc văn hóa Tày.
Buổi sáng ở thôn Tha (phường Hà Giang 1, tỉnh Tuyên Quang) thường bắt đầu rất chậm. Khói bếp bay lên từ những ngôi nhà sàn lợp mái cọ, vài người phụ nữ Tày trong bộ trang phục chàm lặng lẽ đi qua cánh đồng lúa, đâu đó vang lên tiếng gà gáy vọng từ cuối bản. Không gian ấy khiến nhiều du khách lần đầu đặt chân tới đều có cảm giác như bước vào một miền ký ức.
Nằm dưới chân những dãy núi xanh, thôn Tha nhiều năm nay trở thành điểm đến quen thuộc của du khách trong và ngoài nước khi muốn tìm một không gian du lịch cộng đồng mang đậm bản sắc văn hóa Tày. Ở nơi đây, những nếp nhà sàn truyền thống vẫn nép mình bên ruộng lúa, tiếng đàn tính vẫn vang lên mỗi chiều muộn và nhịp sống của người dân vẫn bình yên như vốn có.
Mới đây, Làng văn hóa du lịch cộng đồng thôn Tha vinh dự được Hiệp hội Du lịch Việt Nam bình chọn là một trong 6 điểm du lịch cộng đồng tiêu biểu đón nhiều khách nhất cả nước năm 2025. Trước đó, cụm homestay thôn Tha cũng là một trong những đại diện của Việt Nam nhận giải thưởng ASEAN Homestay Award 2025. Những danh hiệu ấy cho thấy sức hút ngày càng lớn của mô hình du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống của đồng bào Tày nơi đây.
Du lịch cộng đồng từ những nếp nhà sàn
Điều đặc biệt ở thôn Tha không nằm ở những công trình lớn hay dịch vụ hiện đại, mà ở chính cách người dân giữ lại nếp sống truyền thống trong dòng chảy phát triển du lịch. Những ngôi nhà sàn vẫn được gìn giữ gần như nguyên vẹn. Các làn điệu Then, tiếng đàn tính vẫn xuất hiện trong sinh hoạt cộng đồng và những đêm giao lưu với du khách. Ẩm thực truyền thống của người Tày như cá suối nướng, xôi ngũ sắc, rau rừng, thịt lợn bản… vẫn hiện diện trong từng bữa cơm nhà.
Theo ông Nguyễn Văn Cậy, chủ một homestay tại thôn Tha, làm du lịch ở đây không đơn thuần là kinh doanh lưu trú mà là kể câu chuyện về văn hóa bản địa bằng chính đời sống hàng ngày của người dân.
“Khách nước ngoài rất thích sự chân thực. Họ thích ngủ nhà sàn, ăn cơm cùng gia đình, nghe hát Then, xem người dân làm ruộng hay đi bộ quanh bản. Điều mà họ tìm kiếm là trải nghiệm cuộc sống thật của người Tày”, ông Cậy chia sẻ.
Nhiều năm trước, người dân thôn Tha chủ yếu sống bằng sản xuất nông nghiệp. Nhưng khi du lịch cộng đồng dần phát triển, nhiều hộ bắt đầu cải tạo nhà sàn thành homestay, học cách đón khách, nấu ăn, giao tiếp với du khách quốc tế. Điều đáng nói là sự thay đổi ấy không làm mất đi bản sắc vốn có của bản làng.
Ông Nguyễn Thành Long, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Chủ tịch HĐND phường Hà Giang 1 cho biết, địa phương xác định phát triển du lịch cộng đồng phải gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống và giữ gìn cảnh quan sinh thái.
“Chúng tôi không chạy theo phát triển du lịch bằng mọi giá. Điều quan trọng là giữ được không gian làng bản, kiến trúc nhà sàn, các giá trị văn hóa của đồng bào Tày. Chính những điều ấy mới tạo nên sức hút bền vững cho thôn Tha”, ông Long nói.
Hiện nay, nhiều tuyến đường trong thôn đã được chỉnh trang sạch đẹp; hệ thống homestay ngày càng hoàn thiện hơn nhưng vẫn giữ kiến trúc truyền thống. Người dân cũng ý thức hơn trong việc giữ gìn môi trường, bảo vệ cảnh quan để phát triển du lịch lâu dài.
Khi du khách tìm đến sự nguyên bản
Trong cái nắng đầu hạ, giữa cánh đồng lúa xanh mướt ở thôn Tha, nhóm du khách đến từ châu Âu chậm rãi đi bộ quanh bản. Họ dừng lại khá lâu bên một ngôi nhà sàn nơi những thiếu nữ Tày đang gảy đàn tính và hát Then.
Anna Muller, du khách đến từ Đức cho biết chị đã đi nhiều nơi ở Việt Nam nhưng cảm giác ở thôn Tha rất khác. “Tôi thích nơi này vì mọi thứ rất thật và yên bình. Người dân thân thiện, cảnh quan đẹp và văn hóa vẫn hiện diện trong cuộc sống hàng ngày chứ không phải chỉ dành cho khách du lịch”, chị Anna chia sẻ.
Với nhiều du khách quốc tế, điều hấp dẫn nhất ở thôn Tha chính là cảm giác được sống chậm giữa không gian văn hóa bản địa. Buổi sáng theo chân người dân ra đồng, buổi tối quây quần bên bếp lửa nghe tiếng đàn tính vang lên giữa nhà sàn… những trải nghiệm giản dị ấy lại trở thành điều khó quên.
Không chỉ có khách quốc tế, nhiều du khách trong nước cũng tìm đến thôn Tha như một điểm dừng chân để tạm rời xa nhịp sống đô thị.
Những mùa lúa xanh, mùa lúa chín hay đơn giản chỉ là một buổi chiều mưa bảng lảng khói bếp cũng đủ khiến bản làng này trở nên đặc biệt.
Từ một bản làng thuần nông, thôn Tha giờ đây đang từng bước khẳng định vị thế của mình trên bản đồ du lịch cộng đồng vùng cao. Nhưng điều đáng quý nhất có lẽ là trong hành trình ấy, người dân nơi đây vẫn giữ được nhịp sống và những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình.
Tiếng đàn tính vẫn vang lên giữa những nếp nhà sàn cũ. Những người phụ nữ Tày vẫn mặc áo chàm đi giữa cánh đồng lúa. Và trong nhịp phát triển du lịch hôm nay, thôn Tha vẫn giữ được dáng vẻ bình yên của một bản làng vùng cao - nơi văn hóa không nằm trong bảo tàng mà hiện diện trong từng mái nhà, từng câu hát Then và trong chính đời sống thường ngày của người dân bản địa./.
Tên gọi khác: Thổ.
Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.
Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.
Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.
Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).
Ở: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.
Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.
Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.
Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.
Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.
Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.
Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.
Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.
Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.
Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.
Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.
Lịch: Người Tày theo âm lịch.
Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.
Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.
Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...
Theo cema.gov.vn