Nghề truyền thống ở Tây Bắc bảo tồn và phát huy

Nghề truyền thống ở Tây Bắc bảo tồn và phát huy
Phong phú làng nghề

Bản Cát Cát (huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai) là bản lâu đời của người Mông, còn lưu giữ nhiều nghề thủ công truyền thống như trồng bông, lanh, dệt vải và chế tác đồ trang sức. Qua những khung dệt, người Mông tạo nên những tấm thổ cẩm nhiều màu sắc, với các hoa văn mô phỏng cây, lá, hoa, muông thú... Nơi đây còn có nghề chế tác đồ trang sức bằng bạc, đồng đã có từ lâu đời và tạo ra những sản phẩm tinh xảo, gồm đồ trang sức như vòng cổ, vòng tay, dây xà tích, nhẫn... Các sản phẩm nghề thủ công của bản Cát Cát được khách du lịch yêu thích và thường mua về làm kỷ niệm. 
 
Nghề truyền thống ở Tây Bắc bảo tồn và phát huy ảnh 1
Thi dệt vải của phụ nữ Pà Thẻn, xã Tân Bắc, huyện Quang Bình (Hà Giang).

Không chỉ bản Cát Cát, mà nhiều nơi, nhiều dân tộc ở Lào Cai cũng có nghề truyền thống, như nghề đúc lưỡi cày ở xã vùng cao Bản Phố (huyện Bắc Hà), nghề làm hương truyền thống tại thôn Làng Kim (xã Quang Kim, huyện Bát Xát); nghề chạm khắc bạc truyền thống tại thôn Cốc Môi (xã Na Hối, huyện Bắc Hà), thôn Séo Pờ Hồ, xã Mường Hum, huyện Bát Xát; nghề thêu may thổ cẩm ở các xã Tả Phìn, San Sả Hồ, Sa Pả (Sa Pa)... 

Đồng bào các dân tộc tỉnh Hà Giang cũng có nhiều nghề truyền thống như: Nghề dệt lanh thổ cẩm Lùng Tám (huyện Quản Bạ); làng nghề dệt thổ cẩm của dân tộc Pà Thẻn ở thôn My Bắc, xã Tân Bắc (huyện Quang Bình); nghề chế tác khèn Mông ở Hố Quang Phìn (huyện Đồng Văn); nghề rèn, đúc, nghề đan quẩy tấu ở huyện Mèo Vạc... các nghề truyền thống vẫn được đồng bào các dân tộc lưu giữ truyền từ đời này qua đời khác.

Tương tự, đồng bào các dân tộc ở các tỉnh khác trong vùng Tây Bắc như Sơn La, Điện Biên, Lai Châu Yên Bái, Cao Bằng, Lạng Sơn... cũng có nhiều sản phẩm nghề truyền thống. Trong đó, mỗi dân tộc ở mỗi một vùng đều có những sản phẩm thủ công truyền thống riêng, tập trung chủ yếu vào các nghề như gốm sứ, rèn đúc, chạm khắc kim loại, nghề mộc, dệt, thêu, nhuộm, đan lát... 

Đặc biệt, mỗi một nghề, mỗi tộc người đều có những đặc trưng khác nhau. Sự khác nhau này được các nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc lý giải, do vùng Tây Bắc có nhiều dân tộc, mà mỗi dân tộc lại có những ngành, nhóm khác nhau, mỗi ngành nhóm đều có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên sự đa dạng văn hóa cũng như đa dạng về kinh tế. 

Mỗi tộc người có những ứng xử với nhiều điều kiện tự nhiên, địa hình khác nhau, có những truyền thống văn hóa khác nhau... nên sẽ tạo ra nhiều ngành nghề khác nhau, vì vậy, tạo nên tính da dạng trong sản xuất, đa dạng ngành nghề là hằng số xuyên suốt cuộc sống của người dân Tây Bắc. “Chính sự đa dạng đó đã bảo lưu được rất nhiều những tri thức dân gian đối với các nghề truyền thống. Đó là tri thức trong nghề rèn đúc, tri thức trong nghề làm giấy, nghề thêu, dệt thổ cẩm... Thậm chí, riêng trong thổ cẩm, lại có mấy dân tộc, mỗi dân tộc là một phong cách khác nhau. 

Ví dụ, thổ cẩm của người Thái khác thổ cẩm của người Tày, người Mường, hay người Mông, Dao... ; rồi thổ cẩm của đồng bào ở Yên Bái khác thổ cẩm của đồng bào ở Cao Bằng, thổ cẩm người Mường khác, và của các tộc khác cũng vậy. Nghệ thuật thêu cũng vậy, thêu của người Mông khác, người Dao khác, người Mông còn có in sáp ong, người Dao Tiền cũng có in sáp ong... tất cả tạo ra bức tranh toàn cảnh về các nghề thủ công truyền thống ở Tây Bắc”, TS Trần Hữu Sơn, Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam cho biết.

Nguy cơ mai một

Trong khi có nhiều nghề thủ công truyền thống của các dân tộc vẫn được trao truyền đến ngày nay, cũng có rất nhiều làng nghề bị mai một, thậm chí có nguy cơ biến mất, do không đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm sản xuất hàng loạt trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đơn cử, làng nghề đúc lưỡi cày Bản Phố (huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai) 200 năm tuổi đến nay đang đứng trước nguy cơ mai một.

 
Nghề truyền thống ở Tây Bắc bảo tồn và phát huy ảnh 2
Làm miến dong ở xã Nguyễn Huệ, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng là nghề truyền thống lâu đời của người dân.

Nguyên nhân của việc mai một này là bà con bản địa thay đổi tập quán canh tác, không dùng cày để làm đất như trước, mà sử dụng một số loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc diệt cỏ... cho nhanh. Bên cạnh đó, chợ lại xuất hiện những sản phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ, được bán với giá thấp hơn, nên các sản phẩm truyền thống của bà con khó bán được, nhiều hộ gia đình chán nản nên không làm nữa. 

Hoặc nghề dệt thổ cẩm của người Thái, nghề gốm của người Thái đen ở Chiềng Cơi và Mường Chanh - Sơn La. Trước đây nghề gốm khá phát triển, vào lúc nông nhàn, hầu như gia đình nào cũng làm gốm. Thời điểm hưng thịnh nhất vào các năm 1979 - 1985, gốm Mường Chanh có mặt ở khắp các huyện, thị trong tỉnh và nhiều địa phương khác. Tới nay, gốm Mường Chanh đang phải chịu sức ép cạnh tranh gay gắt của các sản phẩm sành, sứ, nhựa nội ngoại được nhập ồ ạt trên thị trường.

Hay như nghề đan lát ở 3 xóm Bản Thay, Boong Trên và Boong Dưới thuộc xã Chí Viễn, huyện Trùng Khánh (Cao Bằng), đã có cách đây hàng trăm năm, đến nay cũng đang đứng trước nguy cơ thất truyền. Nhiều người không còn mặn mà với nghề truyền thống đan lát, bởi các sản phẩm từ nhựa được bày bán tràn lan, lại gọn nhẹ, tiện lợi hơn, nên nhu cầu về sản phẩm từ tre, nứa giảm xuống. Nghề đan lát bỗng chốc trở thành việc làm thời vụ.

Nhiều sản phẩm thủ công khác như dệt, nhuộm, thêu ghép hoa văn thổ cẩm trên vải; chế tác nhạc cụ dân tộc... của các cộng đồng dân tộc thiểu số Tây Bắc trong những thập kỷ gần đây cũng bị mai một, sa sút rất nhiều.

Không chỉ bị ảnh hưởng do bị các sản phẩm hiện đại cạnh tranh, theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, nghề thủ công ở nhiều địa phương vẫn bị coi là nghề phụ, dành cho lao động phụ để có thu nhập phụ, nên thường bỏ mặc cho nghề và làng nghề vùng dân tộc thiểu số tự xoay sở. Khi có những khó khăn, những người làm nghề bỏ nghề, khiến các nghề đó tự mai một, tự thất truyền, tự chìm vào quên lãng.

Giữ nghề là giữ văn hóa và phát triển bền vững

Lào Cai là một trong những địa phương có những chính sách khá tốt trong việc bảo tồn và giữ gìn nghề thủ công truyền thống của đồng bào các dân tộc. Trong khuôn khổ dự án “Đầu tư bảo tồn làng truyền thống dân tộc Mông” làng Cát Cát, xã San Sả Hồ (Sa Pa), Lào Cai đã tiến hành bảo tồn 4 nghề thủ công truyền thống là: Nghề dệt thổ cẩm, nghề chạm khắc bạc, nghề rèn đúc, nghề mộc, đan lát mây - tre - rơm, giải quyết việc làm, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội lớn cho sự phát triển của địa phương, đặc biệt là trong việc thu hút khách du lịch đến tham quan và tìm hiểu các sản phẩm làng nghề. 

Chỉ tính riêng trên địa bàn huyện Sa Pa, đã có 11 làng nghề thêu, dệt thổ cẩm thuộc các xã Tả Phìn, San Sả Hồ, Sa Pả với trên 1.000 hộ tham gia, mỗi năm đưa ra thị trường từ 32.000 - 35.000 m vải. Các huyện Văn Bàn, Bắc Hà... cũng đã hình thành nhiều làng nghề thêu, dệt thổ cẩm, thu hút hàng nghìn lao động nhàn rỗi. Các làng nghề nấu rượu nổi tiếng và sản phẩm đã tìm được chỗ đứng trên thị trường, như rượu ngô Bản Phố (Bắc Hà), rượu San Lùng, Bản Xèo (Bát Xát)...

Tỉnh Hà Giang cũng là một trong những địa phương có nhiều quan tâm đến các làng nghề truyền thống. Có thể kể đến như nghề dệt lanh truyền thống của dân tộc Mông, làng nghề thổ cẩm của dân tộc Lô Lô, dân tộc Pà Thẻn, làng nghề chạm bạc, nghề làm giấy bản của dân tộc Dao, nghề làm khèn Mông, nghề rèn dao, nghề rèn lưỡi cày... Một trong những mô hình gìn giữ nghề truyền thống tốt ở Hà Giang là nghề dệt thổ cẩm của đồng bào Mông ở xã Lùng Tám, huyện Quản Bạ. Khi thấy nghề truyền thống bị mai một, bà Vàng Thị Mai cùng chồng đã đứng ra vận động bà con trong xã, góp vốn xây dựng cơ sở dệt thổ cẩm Hợp Tiến tại nhà riêng của mình. Rồi bà đi khắp các bản làng để vận động chị em tham gia cơ sở dệt Hợp Tiến. 

Thời gian đầu chỉ có 10 người đăng ký tham gia. Bà giao đất cho từng người trồng lanh để có nguyên liệu dệt vải. Sau một thời gian, các sản phẩm làm ra khá nhiều, nếu chỉ trông vào sức mua ở địa phương thì số lượng rất hạn chế. Bà Mai đã khăn gói vượt cổng trời Quản Bạ, xuống Hà Nội tham dự các hội chợ để quảng bá sản phẩm truyền thống. Sau những chuyến đi đó, nhiều khách hàng đã liên hệ mua sản phẩm của bà. Từ đó, nhiều khách hàng đã tìm đến tận nơi để ký hợp đồng. Sau này, bà tiếp cận được với Dự án duy trì và phát triển làng nghề truyền thống, giúp phát triển thị trường, quảng bá sản phẩm trong chương trình hợp tác Việt Nam - Thụy Điển. 

Hợp tác xã còn hợp tác với Trung tâm hỗ trợ làng nghề truyền thống Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam Craftlink... để quảng bá, tìm kiếm thị trường... Đến nay, HTX Hợp Tiến đã có 130 khung dệt truyền thống, sản phẩm đa dạng, xuất khẩu sang 20 nước, trong đó có những thị trường đặc biệt ưa chuộng sản phẩm thổ cẩm Lùng Tám như Mỹ, Nhật, Pháp...

Đến nay, một số tỉnh như Yên Bái, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Cao Bằng... cũng đã quan tâm đến việc gìn giữ và phát triển nghề truyền thống, giúp bà con có thêm thu nhập, phát triển du lịch. Việc khôi phục, bảo tồn và phát huy, phát triển nghề và làng nghề truyền thống không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội mà còn góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần và mức hưởng thụ văn hóa cho cộng đồng dân cư, cho đồng bào các dân tộc. 

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Huy, nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam, nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, việc gìn giữ, phát triển nghề thủ công truyền thống của đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc, không chỉ có giá trị về kinh tế, mang lại thu nhập cho bà con, mà còn là một trong những yếu tố rất quan trọng để gìn giữ văn hóa dân tộc. Bởi lẽ, ở mỗi ngành nghề thủ công khác nhau, đều tích lũy một hệ thống tri thức rất khác nhau. Từ một mẫu thêu, từ cách dệt thổ cẩm, cách tạo ra các màu sắc, hoặc cách để tạo ra các sản phẩm đồ rèn có độ bền cao... của mỗi một dân tộc tuy khác nhau, và đó đều là những tri thức dân gian, là tri thức về vật chất nhưng mang tính văn hóa, cần phải giữ gìn.

Đồng quan điểm trên, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc cũng cho rằng, nghề và làng nghề truyền thống là một bộ phận cấu thành văn hóa dân gian, chứa đựng nhiều yếu tố bản sắc dân tộc. Mỗi một nghề thủ công truyền thống của các dân tộc sinh ra và phát triển đồng hành với sự hình thành các mường bản, chính vì vậy, việc bảo tồn giá trị làng nghề, là bảo tồn làng bản truyền thống, bảo tồn cốt lõi của văn hóa dân tộc. 

Những nghề truyền thống là tri thức bản địa cùng với kỹ năng sống của đồng bào, việc bảo tồn nghề là bảo tồn tri thức bản địa, bảo tồn kỹ năng sống, bảo tồn những giá trị hàng trăm nghìn năm... Bên cạnh đó, mỗi một sản phẩm thủ công truyền thống đều có câu chuyện, có tuồng tích, gửi gắm trong đó những lời răn dạy, những kiến thức của tiền nhân... và bảo tồn nghề truyền thống là bảo tồn cả kho tàng văn hóa dân gian quý giá của đồng bào.

Nhận thức rõ điều này, nên trong những năm gần đây, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã công nhận một số nghề truyền thống là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Có thể kể đến nghề chạm khắc bạc của người Mông ở huyện Sa Pa, hay nghề chàng slaw (nghề thủ công làm tranh cắt giấy) của người Nùng Dín ở huyện Mường Khương (tỉnh Lào Cai); nghề thổ cẩm của người Tày ở Bắc Kạn...

Việc khôi phục và phát triển nghề, làng nghề truyền thống các dân tộc thiểu số là cần thiết và cần có cơ chế chính sách hợp lý. Tuy nhiên, cần phải chú ý rằng, việc phát triển các sản phẩm nghề và làng nghề phải phù hợp với đời sống xã hội, sản xuất phải gắn với thị trường tiêu thụ, phải có chính sách hỗ trợ gắn liền với tuyên truyền quảng bá sản phẩm, thương hiệu, gắn làng nghề với những địa danh, địa chỉ văn hóa du lịch... giới thiệu rộng rãi và đưa sản phẩm thủ công truyền thống đến khách hàng, du khách trong và ngoài nước, để những nghề và làng nghề trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số sẽ được gìn giữ và phát triển, góp phần nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội của đồng bào các dân tộc.
 
Nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc Ngô Quang Hưng: Phải tìm thị trường 

Để khôi phục, bảo tồn và phát huy nghề thủ công truyền thống của đồng bào các dân tộc, trước hết, cần tuyên truyền để cộng đồng biết trân trọng và gìn giữ những nghề truyền thống. Khi đồng bào có ý thức tự giữ nghề, sẽ trao truyền cho các thế hệ, trong dòng họ, trong gia đình. Các địa phương, các ngành bảo tồn nghề bằng những hiện vật tiêu biểu, đặc trưng, bảo tồn thông qua ghi chép lại, ảnh hóa, số hóa, tại hệ thống bảo tàng... Bên cạnh đó, cơ quan quản lý, chính quyền và người dân phải cùng nhau nỗ lực tìm kiếm thị trường, coi mặt hàng thủ công truyền thống là những mặt hàng quan trọng của địa phương, khai thác đồng thời cả 2 mặt giá trị, giá trị thực dụng và giá trị lưu niệm, gắn kết với du lịch, đưa nghề truyền thống trở thành là một sản phẩm du lịch bền vững và có ý nghĩa. 

TS Trần Hữu Sơn, Phó chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam: Coi nghề truyền thống là di sản 

Để phát triển nghề thủ công truyền thống vùng Tây Bắc, trước hết, cần tổng kiểm kê toàn bộ các nghề thủ công đó, đánh giá hiện trạng của từng nghề hiện nay như thế nào, tìm ra môi trường sản sinh ra nghề đó là gì, môi trường tác động đến sự tồn tại của nghề đó như thế nào, vì sao nghề đó tồn tại, vì sao nghề đó mai một, khả năng mai một ra sao...

Từ cơ sở đó, mới phân tích, tìm hiểu xem nghề nào cần phát huy, nghề nào áp dụng vào du lịch, nghề nào phải bảo tồn nguyên vẹn, coi như di sản cha ông để lại, không nên để mất và cũng phải biết chấp nhận quy luật, sẽ có những nghề bị mất do xã hội không có nhu cầu.

Mặt khác, mỗi một nghề là dấu hiệu của một tộc người, dấu hiệu của lịch sử... nên các ngành, các cấp cần coi một số nghề truyền thống đó là những di sản văn hóa, là nguồn lực văn hóa cần phải được gìn giữ và bảo tồn như di sản văn hóa, được làm hồ sơ công nhận là di sản văn hóa cấp quốc gia và bảo vệ nó.

Có một điểm cần lưu ý, các nghề truyền thống của các dân tộc vùng Tây Bắc có đặc thù, mỗi làng chỉ có vài ba hộ làm nghề. Bên cạnh một số nghề có nhiều người tham gia như nghề dệt thổ cẩm, nghề thêu..., nhiều nghề ở vùng Tây Bắc chỉ có rất ít người tham gia, nên phát triển làng nghề phải lưu ý đến tiêu chí đó mà phát triển, chứ không nên lấy tiêu chí của làng nghề dưới xuôi để áp dụng. 


Nghệ nhân Điêu Thị Siêng, dân tộc Thái (xã Nghĩa An, thị xã Nghĩa Lộ, Yên Bái): Quyết không bỏ nghề 

Bản tôi có nghề dệt thổ cẩm, mấy năm trước, xã thành lập tổ dệt thổ cẩm, nhưng mấy năm nay, do nhiều khó khăn mà tổ dệt đã tự giải tán. Nghề thì chúng tôi vẫn giữ, không thể bỏ được, nhưng không thể duy trì thường xuyên, vì không tìm được thị trường tiêu thụ, sản phẩm làm ra không bán được, nên chúng tôi không làm nhiều nữa. Hiện nay các gia đình vẫn tự làm, tự tiêu thụ nhỏ lẻ. Mong muốn lớn nhất của tôi cũng như những người làm nghề trong bản, là có nơi tiêu thụ sản phẩm cho bà con.
Phương Hà - baotintuc.vn

Có thể bạn quan tâm

Lung linh Lễ hội Ánh sáng biên cương

Lung linh Lễ hội Ánh sáng biên cương

Tối 19/9, Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn tổ chức Lễ hội Ánh sáng biên cương lần thứ nhất năm 2026 với chủ đề “Sắc màu xứ Lạng”.

Độc đáo nghề làm mão, mặt nạ của đồng bào Khmer

Độc đáo nghề làm mão, mặt nạ của đồng bào Khmer

Đó là chủ đề trưng bày chuyên đề do Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Bảo tàng tỉnh Vĩnh Long tổ chức, ngày 11/9. Trưng bày giới thiệu đến công chúng những giá trị đặc sắc của nghề làm mão, mặt nạ truyền thống - di sản văn hóa gắn với đời sống tín ngưỡng và các loại hình nghệ thuật biểu diễn dân gian của đồng bào Khmer.

Nhịp cầu nối đôi bờ biên giới với những câu chuyện phối hợp và sẻ chia

Nhịp cầu nối đôi bờ biên giới với những câu chuyện phối hợp và sẻ chia

Tiếng hát “Việt Nam - Trung Hoa” vang lên trong buổi giao lưu tại phường Hà Giang 1, tỉnh Tuyên Quang, mở đầu cho những câu chuyện giữa cán bộ làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới hai nước. Phía sau những tiết mục văn nghệ, trận bóng bàn và hành trình tìm hiểu các điểm đến của địa phương là một mối quan hệ được bồi đắp bằng nhiều năm phối hợp, chia sẻ và đồng hành.

Gìn giữ bản sắc văn hóa, tạo động lực phát triển vùng biên

Gìn giữ bản sắc văn hóa, tạo động lực phát triển vùng biên

Thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, tỉnh Lạng Sơn xác định, xây dựng và phát triển nền văn hóa toàn diện, giàu bản sắc, nhân văn, khoa học, hiện đại, trở thành nền tảng vững chắc, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực cho phát triển nhanh và bền vững.

Khai hội truyền thống Đền Minh Lương

Khai hội truyền thống Đền Minh Lương

Trong tiết thu dịu mát, tiếng trống khai hội vang lên giữa không gian cổ kính của Đền Minh Lương, xã Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, mở đầu những ngày hội đậm sắc màu văn hóa, tín ngưỡng.

Đặc sắc Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du

Đặc sắc Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du

Sáng 6/9 (tức ngày 25/7 âm lịch), tại phường Phan Thiết (tỉnh Lâm Đồng), đoàn Quan Thánh Đế Quân xuất du diễn ra trong sự thích thú của đông đảo người dân địa phương và du khách. Đây là phần hội quan trọng và đặc sắc nhất của Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du lần thứ 15 - năm 2026.

'Đánh thức' nếp nhà xưa và các giá trị văn hóa bản địa

'Đánh thức' nếp nhà xưa và các giá trị văn hóa bản địa

Nằm nép mình bên những ghềnh đá cổ ven biển Sa Huỳnh, làng Gò Cỏ (phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi) đang trở thành điểm đến hấp dẫn du khách trong và ngoài nước nhờ mô hình du lịch cộng đồng gắn liền với việc bảo tồn không gian kiến trúc truyền thống và các giá trị văn hóa bản địa.

Thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân khu vực biên giới Việt Nam - Lào

Thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân khu vực biên giới Việt Nam - Lào

Từ ngày 31/8 - 2/9, tại khu vực Cửa khẩu Quốc tế Lóng Sập, xã Lóng Sập diễn ra các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch thu hút đông đảo du khách và nhân dân biên giới Việt Nam và Lào tham gia. Đây là sự kiện trong chuỗi hoạt động thuộc Tuần Văn hóa - Du lịch Mộc Châu năm 2026, do Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La tổ chức.

Rộn ràng Tết Độc lập ở các bản làng vùng cao Điện Biên

Rộn ràng Tết Độc lập ở các bản làng vùng cao Điện Biên

Tết Độc lập 2/9 không chỉ rộn ràng ở các đô thị mà còn lan tỏa đến những bản làng vùng cao Điện Biên. Trong sắc cờ đỏ, đồng bào các dân tộc khoác lên mình trang phục truyền thống, hòa vào các hoạt động văn hóa, vui hội và đón du khách, cùng lan tỏa niềm tự hào về quê hương, đất nước.

Lai Châu: Trích đoạn Lễ hội Gầu tào văn hóa dân tộc Mông chào mừng Tết Độc lập

Lai Châu: Trích đoạn Lễ hội Gầu tào văn hóa dân tộc Mông chào mừng Tết Độc lập

Trong khuôn khổ các hoạt động chào mừng Tết Độc lập năm 2026, ngày 2/9/2026, tại Không gian văn hóa Mông thuộc sân vận động xã Than Uyên, Bảo tàng tỉnh Lai Châu phối hợp với UBND xã Than Uyên tổ chức trình diễn cúng cây nêu trích đoạn trong Lễ hội Gầu tào của dân tộc Mông. Đây là một trong những điểm nhấn đặc sắc, thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương đến tham quan, trải nghiệm. 

Gần 3.000 người tham gia giải chạy “Đón bình minh trên biển” vào sáng 2/9

Gần 3.000 người tham gia giải chạy “Đón bình minh trên biển” vào sáng 2/9

Sáng 2/9, tại Quảng trường Tháp Nghinh Phong (phường Tuy Hòa), Giải chạy Tuy Hòa bán marathon 2026 “Đón bình minh trên biển” do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk tổ chức đã hoàn thành các phần thi. Giải có sự tham gia của gần 3.000 vận động viên, xuất phát vào lúc 4 giờ sáng 2/9 với hành trình đi qua các tuyến đường ở phường, kết nối các địa điểm du lịch như Tháp Nghinh Phong, Tháp Nhạn và khu vực biển Tuy Hòa.

Lai Châu chào mừng Tết Độc lập

Lai Châu chào mừng Tết Độc lập

Sáng 2/9/2026, tại Sân vận động xã Than Uyên, tỉnh Lai Châu diễn ra Lễ thượng cờ chào mừng Tết Độc lập năm 2026 với sự tham gia của hơn 2.000 cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, học sinh, nhân dân các dân tộc tỉnh Lai Châu cùng du khách. Sau lễ thượng cờ là các hoạt động múa sạp, diễu hành đường phố mang đậm sắc màu văn hóa các dân tộc vùng cao Lai Châu.

Mộc Châu - Tiếng gọi mùa yêu

Mộc Châu - Tiếng gọi mùa yêu

Nằm trong chuỗi các hoạt động Tuần Văn hóa - Du lịch Mộc Châu năm 2026, tối 1/9, tại Quảng trường 8/5 (phường Mộc Châu), tỉnh Sơn La tổ chức Chương trình nghệ thuật với chủ đề "Mộc Châu - Tiếng gọi mùa yêu", chào mừng kỷ niệm 81 năm ngày "Tết Độc lập" - Quốc khánh 2/9. Chương trình thu hút đông đảo du khách và nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La đến dự.

Về nơi Tết Độc lập đậm sắc Mường

Về nơi Tết Độc lập đậm sắc Mường

Trong không khí đón mừng Tết Độc lập 2/9, đồng bào Mường ở Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ lại sum họp, tổ chức các hoạt động theo phong tục được duy trì qua nhiều thế hệ. Từ bữa cơm đoàn tụ, những món quà biếu cha mẹ đến bánh uôi, tiếng chiêng, lời hát đối, những phong tục ấy góp phần tạo nên nét văn hóa đặc sắc trong ngày Tết của đồng bào Mường nơi đây.

Tiếng nhạc ngũ âm giữ hồn văn hóa Khmer ở An Giang

Tiếng nhạc ngũ âm giữ hồn văn hóa Khmer ở An Giang

Với đồng bào Khmer Nam Bộ, nhạc ngũ âm không chỉ góp phần tạo nên không khí trang nghiêm trong các nghi lễ Phật giáo hay rộn ràng trong những lễ hội truyền thống, mà còn là một phần văn hóa được gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ. Tại các ngôi chùa Khmer ở An Giang, những lớp học nhạc ngũ âm đang giúp thế hệ trẻ hiểu, yêu và tiếp tục gìn giữ những thanh âm đặc trưng của dân tộc mình.